ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------
NguyÔn thÞ nguyÖt
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: TS. Lê Văn Thịnh
Hµ Néi – 2013
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
04
NỘI DUNG
30
1.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện
43
1.2.2.1. Chỉ đạo hội nhập kinh tế đa phương
44
1.2.2.2. Chỉ đạo hội nhập kinh tế song phương
55
Tiểu kết chương 1
62
Chƣơng 2: CHỦ TRƢƠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
64
2.1. Tình hình quốc tế và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng
64
2.1.1. Tình hình quốc tế
64
102
3.1.2. Hạn chế
109
3.2.
112
Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu
KẾT LUẬN
124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
126
PHỤ LỤC
138
6
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Số Viết tắt
11
12
EC
EU
FDI
13 GDP
14
IMF
15 MFN
16 NAFTA
17
ODA
18
SEV
19
20
TBCN
21
WTO
WB
Official Development
Assistance
Council of Mutual Economic
Assistance
Tổng sản phẩm quốc nội
Quỹ tiền tệ quốc tế
Đãi ngộ Tối huệ quốc
Hiệp định Thương mại Tự do
Bắc Mỹ
Hỗ trợ phát triển chính thức
Hội đồng Tương trợ Kinh tế
Tư bản Chủ nghĩa
World Bank
Ngân hàng Thế giới
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
7
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Th gii ang chng kin xu th ton cu hoỏ din ra mt cỏch mnh
m, bt ngun t s phỏt trin nh v bóo ca cuc cỏch mng khoa hc v
cụng ngh, c bit l cụng ngh thụng tin v sinh hc, lm tng nhanh lc
khẩu... Chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các
tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp”.
Đường lối hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng đã được
cụ thể hoá trong nhiều Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết 01-NQ/TW
(18/11/1996) của Bộ Chính trị, Nghị quyết 04-NQ/HNTW của Ban Chấp
hành Trung ương (khoá VIII) (29/12/1997). Đặc biệt, Báo cáo Chính trị Đại
hội IX của Đảng, nhất là Nghị quyết 07-NQ/TW (27/11/2001) của Bộ Chính
trị về Hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng Xã hội chủ nghĩa”.
Đối với Việt Nam, việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một nhân
tố quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,
đồng thời phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển đất nước. Do vậy, việc nghiên
cứu chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hội nhập kinh tế quốc tế từ
năm 2001 đến năm 2010 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Nghiên cứu
thấu đáo vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn về đường lối, chủ trương
đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, về những vấn đề đang đặt ra
đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập, từ đó đề ra các giải pháp kịp thời
và hữu hiệu để hội nhập thành công.
Với ý nghĩa trên, người viết chọn vấn đề “Chủ trương của Đảng Cộng
sản Việt Nam về Hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2001 đến năm 2010” làm
đề tài luận văn cao học của mình.
9
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Những năm gần đây, để phục vụ công tác hoạch định chính sách đối
ngoại, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu xây dựng đất nước
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), đã có nhiều công
kinh tế quốc tế và khu vực, quy định về tổ chức bộ máy một số cơ quan có
chức năng quản lý hợp tác kinh tế quốc tế, quy định khuyến khích, thu hút
đầu tư nước ngoài, quy định về chính sách thuế, quy định về hợp tác thương
mại giữa Việt Nam với một số nước; Năm 2007, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội xuất bản cuốn “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn
Xuân Thắng. Đây là công trình nghiên cứu đã tập trung xem xét sự tác động
của toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với các nền kinh tế
đang phát triển, trên cơ sở đó làm rõ mối quan hệ hội nhập kinh tế với công
nghiệp hóa, xác định rõ con đường và quá trình công nghiệp hóa của các nước
này, mà cụ thể là làm rõ hơn con đường và bước đi của tiến trình CNH, HĐH
ở Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn có rất nhiều tác phẩm khác như: “Toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế của Việt Nam” của Bộ ngoại giao, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội (1999); “Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001); “Toàn cầu hóa và sự chủ động hội
nhập quốc tế của Việt Nam - mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu. Toàn
cầu hóa: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” của GS.TS Hoàng
Chí Bảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001); “Quá trình triển
khai thực hiện chính sách đối ngoại của đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt
Nam” của nhóm tác giả Trình Mưu, Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thế Lực,
Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội (2005); “Đảng Cộng sản Việt Nam
với công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế” của tác giả Vũ Như
Khôi, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội (2006); “Đổi mới về đối
11
ngoại và hội nhập quốc tế” của Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội (2009); “Định hướng chiến lược đối ngoại
quốc tế. Từ đó rút ra những kinh nghiệm, những khó khăn, thách thức và đề ra
những giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam trong giai đoạn mới, nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Ngoài các chuyên luận, sách báo, các bài đăng trên các tạp chí khoa
học còn có rất nhiều luận án, luận văn viết về đề tài này như: Luận án“Thị
trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng; Luận án “Sự điều chỉnh chính sách
của Mỹ và Nga đối với Việt Nam (1991 - 2008)” của tác giả Bùi Thị Thảo;
Luận văn “Chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn từ
1995 đến nay” của tác giả Nguyễn Sĩ Ánh; Luận văn “Chính sách hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO” của tác giả Nguyễn
Thị Thu Hương; Luận văn “Ngoại giao đa phương Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới” của tác giả Nguyễn Ngọc Minh; Luận văn “Quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực của Việt Nam: Thành tựu, hạn chế và giải pháp” của tác
giả Dương Viết Sự; Luận văn “Tác động của toàn cầu hoá tới Việt Nam” của
tác giả Văn Thị Ngọc Ánh... Tất cả các công trình nghiên cứu này đề cập đến
một số khía cạnh đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ nhiều cách
tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đề cập trực tiếp,
đặc tả chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế
giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, đặc biệt trên phương diện của một luận
văn tốt nghiệp cao học.
Các tài liệu về hội nhập kinh tế quốc tế khá phong phú, đa dạng. Đây
chính là nguồn cung cấp tài liệu phong phú cho người viết khi nghiên cứu đề
tài, nhưng đồng thời cũng là khó khăn khi yêu cầu đặt ra là phải gợi mở được
những vấn đề mới. Một khó khăn nữa là trong quá trình nghiên cứu, người
13
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, với nhiều cấp độ khác nhau từ thấp
đến cao, bao gồm: hội nhập kinh tế song phương; hội nhập kinh tế đa phương.
Trong hội nhập kinh tế đa phương cũng có nhiều cấp độ: hội nhập kinh tế khu
vực; hội nhập kinh tế toàn cầu...
Với phạm vi của một luận văn cao học, tác giả chọn hội nhập kinh tế đa
phương làm hướng nghiên cứu chủ yếu. Cụ thể, luận văn tập trung vào phân
tích sâu sắc các hoạt động của Việt Nam trong các tổ chức kinh tế quốc tế
như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Kinh tế
chân Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, với hội nhập kinh tế song
phương, luận văn cũng đề cập ở một mức độ vừa phải. Cụ thể, luận văn
nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, Trung Quốc
và Nhật Bản, nhằm làm rõ tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào
nền kinh tế quốc tế.
- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận văn bắt đầu từ năm 2001
- năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001), đặc biệt là
năm ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW (27/11/2001) của Bộ Chính trị về
Hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra thời kỳ hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam với
khu vực và thế giới. Vì tính liên tực của tiến trình hội nhập nên luận văn dành
một phần nhất định cho thời kỳ trước năm 2001. Thời điểm kết thúc là năm
2010 - đánh dấu quá trình 10 năm thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc
tế theo tinh thần Nghị quyết số 07 của Bộ Chính trị.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu và xử lý tài liệu tham khảo, luận văn quán
triệt các luận điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
15
CHỦ TRƢƠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.1.1. Tình hình quốc tế
1.1.1.1. Một số nhận thức chung về hội nhập kinh tế quốc tế
Khái niện hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi
quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu mà mối quan hệ
giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định của khối, hay
nói cách khác thì hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện
mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính
quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư cũng như các
hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới. Đây vừa là quá
trình hợp tác, đấu tranh cùng tồn tại và phát triển, đồng thời là quá trình dỡ bỏ
dần khái niệm “biên giới” giữa các quốc gia bằng cách xoá bỏ dần các rào cản
thuế quan, thương mại như cắt giảm thuế, thực hiện công cuộc đối mới, chủ
động hội nhập vào một “sân chơi chung” của cộng đồng quốc tế cũng như
khai thông các dòng chảy nguồn lực, tạo điều kiện mở rộng thị trường. Hội
nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan mà nguyên nhân chủ yếu là quá
trình xã hội hoá sản xuất lan tỏa vượt qua khỏi phạm vi biên giới của từng
quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế giải quyết các vấn đề chủ yếu như: đàm
phán cắt giảm thuế quan, giảm và loại bỏ hàng rào phi thuế quan, giảm bớt
các hạn chế đối với dịch vụ, các trở ngại đối với đầu tư quốc tế, điều chỉnh
các chính sách thương mại và tiến hành các chính sách văn hoá, giáo dục…
có tính chất toàn cầu.
17
Những nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế:
Một là, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế;
cùng các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các
quy định, cam kết đối với thành viên của các định chế, tổ chức đó.
Hai là, tiến hành các công việc cần thiết ở trong nước để đảm bảo mục
tiêu của quá trình hội nhập, cũng như thực hiện các quy định, cam kết quốc tế
về hội nhập. Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện bên trong
mỗi nước gồm:
Thứ nhất, điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa và mở cửa, giảm
và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho trao đổi hàng
hóa, dịch vụ, đầu tư và sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ thuật, công nghệ
giữa các nước ngày càng thông thoáng, thuận lợi hơn. Việc điều chỉnh có ý
nghĩa làm cho hệ thống luật pháp của mỗi nước về thương mại, đầu tư, sản
xuất kinh doanh, xuất nhập cảnh, lưu trú của doanh nhân, thủ tục hành chính,
vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại ngày càng hoàn chỉnh và phù hợp
với các quy định của các định chế, tổ chức quốc tế mà các nước tham gia.
Thứ hai, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phù hợp với quá trình thuận lợi
hóa và mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành có hiệu quả
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu cao nhất của sự điều chỉnh này là
tạo ra được một cơ cấu kinh tế tối ưu, có khả năng cạnh tranh cao, phát huy
tốt nhất những lợi thế của đất nước trong quá trình hội nhập.
Thứ ba, tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là
cải cách hệ thống doanh nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh, nhằm đảm
bảo cho quá trình hội nhập được thực hiện và đưa lại hiệu quả cao.
Thứ tư, đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ tri thức,
những người quản lý doanh nghiệp và lực lượng công nhân lành nghề có thể
đáp ứng tốt các đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
19
20
Trung Quốc phát triển “ngoạn mục”; Đông Á và Đông Nam Á phát triển
nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước vừa qua đã rơi vào suy
thoái và nay đang hồi phục; Nam Á và nhất là châu Phi vẫn chưa thoát khỏi
trì trệ kéo dài; kinh tế Mỹ La-tinh có khá hơn song cũng không ổn định.
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ ngày
càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Dưới
tác động của những chiều hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi
về chất, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng
chất xám cao, nhất là công nghệ thông tin và sinh học, phát triển nhanh chóng
làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, tiêu dùng, trao đổi, đưa nhân loại từ kinh
tế công nghiệp lên kinh tế tri thức, thu hẹp khoảng cách thế giới và đặt ra cho
các nước còn khép kín nền kinh tế phải có chính sách phù hợp với sự phát
triển của thế giới. Có thể nói, cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin
đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá phát triển nhanh chóng.
Hai là, Xu thế toàn cầu hoá đã mang lại cho thế giới một sắc thái mới,
đó là sự nhích lại gần nhau của những nền kinh tế. Xu thế này phát triển ngày
càng nhanh: các vòng đàm phán Uruguay kết thúc (từ 9/1986-4/1994), Hiệp
định Marakesh về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được ký
kết (15/4/1994), WTO ra đời (từ 01/01/1995) đã thu hút tới 136 và nay là 144
quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buôn bán quốc tế, theo
hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế, mở cửa thị trường
hàng hóa, đầu tư, dịch vụ [23, 04]. Bên cạnh sự ra đời của WTO đã xuất hiện
rất nhiều tổ chức tiểu vùng, khu vực, liên khu vực như các tam, tứ giác phát
triển, các khu vực mậu dịch tự do như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) năm 1992, Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994,
Diễn đàm hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, những tổ chức liên kết toàn
chiến lược Mỹ - Trung - Nhật, trở thành nhân tố chủ yếu chi phối an ninh,
22
chính trị của khu vực; hai là, trong khu vực này vẫn tồn tại những bất ổn như:
vấn đề hạt nhân, vấn đề tranh chấp lãnh hải thuộc vùng biển Đông và việc các
nước trong khu vực tăng cường vũ trang, nhưng châu Á - Thái Bình Dương
vẫn được đánh giá là một khu vực yên tĩnh và ổn định của thế giới; ba là, châu
Á - Thái Bình Dương là khu vực có tiềm lực lớn và năng động về phát triển
kinh tế. Xu thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh [68, 428].
Khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng đã có những thay
đổi tích cực. Các quốc gia thay đổi cái nhìn về nhau, cùng nhau hướng tới sự
hợp tác và hội nhập hoà bình, hữu nghị, quan hệ giữa các nước chuyển từ đối
đầu sang đối thoại, đặc biệt là sau khi Việt Nam có những bước đi thích hợp
trong việc giải quyết vấn đề Campuchia. Các nước đã nỗ lực cải thiện từng
mối quan hệ, tạo lập lòng tin và thúc đẩy hợp tác mọi mặt nhằm hiện thực hoá
ý tưởng biến Đông Nam Á thành khu vực phi vũ khí hạt nhân, thống nhất
trong đa dạng, hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển, có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với tất cả các nước ngoài khu vực. Nền kinh tế Đông Nam Á đang
trong quá trình công nghiệp hoá mạnh mẽ, đa dạng hoá và liên kết chặt chẽ
với nhau, với các nền kinh tế khác ở châu Á - Thái Bình Dương và thế giới.
Bên cạnh những mặt tích cực, những mặt tiêu cực vẫn luôn tồn tại và
có ảnh hưởng không nhỏ tới các quốc gia trong khu vực. Cũng như các quốc
gia khác trên thế giới, tại khu vực Đông Nam Á, sự phát triển kinh tế được đặt
lên hàng đầu. Chính vì vậy, nhu cầu về vốn, thị trường, lao động, công
nghệ… cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Điều đó đòi hỏi phải có sự
liên kết, hợp tác nhiều mặt giữa các nước với nhau. Từ đó dẫn đến lợi thế của
các nước phát triển. Những nước đang phát triển như Việt Nam đứng trước
một thách thức lớn hơn nữa, đó là những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng
XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, khiến Việt Nam không những mất đi đồng
minh chiến lược tin cậy, mà còn mất đi đối tác kinh tế quan trọng, chủ yếu
trong thời điểm bấy giờ. Bởi vậy, mục tiêu hàng đầu của mười năm đổi mới là
24
cần nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế xã hội trong nước, phá thế bao vây,
cấm vận, phá hoại về chính trị và kinh tế của các thế lực thù địch. Từ đó, Đại
hội VII (6/1991) của Đảng tái khẳng định về đường lối kinh tế đối ngoại: “Đa
dạng hoá và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại. Huy động
tiềm năng của nền kinh tế, phát huy lợi thế tương đối, vừa đáp ứng tốt nhu cầu
sản xuất và đời sống trong nước, vừa hướng mạnh về xuất khẩu” [36, 64].
Đại hội VII đã đề ra luận điểm: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” và
“đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức
kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi” [78].
Cụ thể hóa đường lối nêu ra tại Đại hội VII, Hội nghị Trung ương lần
thứ 3 (khóa VII) đã ra Nghị quyết về chính sách đối ngoại và kinh tế đối
ngoại nêu rõ nhiệm vụ: “Cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính
- tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB… mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp
tác khu vực, trước hết ở châu Á - Thái Bình Dương” [16, 73]. Đồng thời Nghị
quyết cũng nêu ra bốn phương châm: bảo đảm lợi ích dân tộc; giữ vững độc
lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ
đối ngoại; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; ưu
tiên hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước [3, 112].
Chỉ trong 10 năm đầu đổi mới, Việt Nam đã nhanh chóng phá vỡ thế cô lập
của các thế lực thù địch, thiết lập được quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế
với các quốc gia, góp phần tích cực vào sự phát triển ổn định của đất nước.
Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996) đã đánh giá tình hình phát
chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là những sản
phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và
thị trường quốc tế, đồng thời tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán
Hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ
động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” [16, 128]. Đồng thời,
26
“Tiến trình đổi mới trong nước phải đi kịp và gắn với tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế nhằm phục vụ tốt mục tiêu phát triển đất nước, giữ vững độc lập tự
chủ” [16, 128].
Như vậy, qua các kỳ Đại hội kể từ khi chính sách đổi mới được đề ra,
chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã từng bước được hình thành và ngày
càng rõ ràng, cụ thể và toàn diện hơn. Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế sớm
được Đảng nhận thức trong đường lối đối ngoại và phát triển kinh tế. Đại hội
Đảng lần thứ VIII (1996) và Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá VIII (1997)
đã đánh dấu quá trình chuyển biến trong nhận thức của Đảng về hội nhập kinh
tế quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam giai đoạn (1986-2000), đặc biệt là giai đoạn (1996-2000) đã diễn ra
hết sức mạnh mẽ và đã đạt được một số thành tựu cơ bản sau:
Một là, đẩy lùi được chính sách bao vây cấm vận của các thế lực thù
địch, tạo dựng môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đã
từng bước khắc phục sự khủng hoảng về quan hệ ngoại giao và kinh tế sau khi
CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chặn đứng được khủng hoảng kinh tế
tài chính - tiền tệ năm 1997.
Hai là, quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều quốc gia
và khu vực được cải thiện rõ ràng, đã tích cực tham gia vào nhiều tổ chức hợp
tác liên kết kinh tế khu vực và thế giới. Trong đó đáng kể nhất là: Việt Nam
đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. Từ 1993, hàng năm đều có hội nghị
các nhà tài trợ cho Việt Nam. Kể từ khi khai thông với IMF, WB, ADB, tới
nay qua 9 kỳ Hội nghị các nhà tài trợ, Việt Nam đã nhận được tổng mức cam
kết tài trợ gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đãi với lãi suất từ 0,75% đến
2,5% tùy đối tác, một phần là viện trợ không hoàn lại [23, 07]. Nhờ phát triển
tốt các quan hệ song phương, đa phương nên Việt Nam đã cắt giảm đáng kể
gánh nặng nợ nần do thời bao cấp để lại, góp phần ổn định cán cân thu chi
28