va
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------------
CAO THỊ PHƯƠNG THÚY
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI LIÊN XÔ TỪ
NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1991
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ MAI HOA
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 4
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ............................................. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 10
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................. 11
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................. 13
7. Bố cục của luận văn.................................................................................. 13
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ VỚI LIÊN
XÔ GIAI ĐOẠN TÁI THIẾT ĐẤT NƢỚC VÀ ĐỔI MỚI CỤC BỘ
3.1.2. Đảng chủ trương đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô
trên cơ sở mối quan hệ truyền thống gắn bó hữu nghị, song có những điều
chỉnh thích ứng với điều kiện, tình hình mới ........................................ 103
3.1.3. Đảng chủ trương đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô;
trong đó, quan hệ chính trị - ngoại giao là trọng tâm .......................... 110
3.1.4. Trong quá trình củng cố và đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện
giữa Việt Nam - Liên Xô, hai nước đã đạt được những thành tựu to lớn
trên nhiều lĩnh vực, tạo điều kiện để cả hai bên cùng phát triển ............ 114
3.1.5. Trong quan hệ hợp tác với Liên Xô, vẫn còn một số hạn chế và tồn
tại nhất định ......................................................................................... 120
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ............................................................ 124
3.2.1. Hoạch định chủ trương trong quan hệ với Liên Xô cần bám sát tình
hình thực tiễn trong nước, quốc tế và yêu cầu cách mạng Việt Nam .... 124
2
3.2.2. Hoạch định chủ trương, củng cố và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với
Liên Xô cần dựa trên sở lợi ích riêng của mỗi nước trong sự kết hợp với
lợi ích chung của cả hai bên ................................................................. 128
3.2.3. Cần nhạy bén nắm bắt tình hình, đổi mới tư duy đối ngoại; đồng
thời, chủ động, tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ với Liên Xô ...... 132
3.2.4. Giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ với Liên Xô; đồng thời,
tăng cường thực lực đất nước ............................................................... 135
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3: ......................................................................... 138
KẾT LUẬN ............................................................................................... 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 143
Phụ lục ...................................................................................................... 156
3
CMLTMNVN:
Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam
CNCS:
Chủ nghĩa cộng sản
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
DCCH:
Dân chủ cộng hòa
MTDTGPMNVN: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
SEATO:
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
SEV:
Hội đồng Tương trợ Kinh tế
TBCN:
Tư bản chủ nghĩa
trên thế giới ra đời thì những tên gọi nhƣ nƣớc Nga Xô viết, Lênin mới dần
trở nên quen thuộc, thân thiết với nhân dân lao động Việt Nam.
Ngày 30/1/1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên bang Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Xô viết chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Kể từ đó,
trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ, trải qua những biến động phức tạp,
những thăng trầm của lịch sử, quan hệ Việt Nam - Liên Xô từng bƣớc phát
triển. Thời kỳ 1950 - 1975, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, tuy có một
vài vấn đề nổi cộm, nhƣng nhìn chung, quan hệ Việt Nam - Liên Xô chứa
đựng những yếu tố thuận lợi. Liên Xô đã giúp đỡ to lớn, toàn diện cho nhân
dân Việt Nam chống Mỹ; ngƣợc lại, những thắng lợi của nhân dân Việt Nam
cũng góp phần củng cố vai trò, uy tín quốc tế của Liên Xô, nhất là trong
phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nƣớc của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi, nƣớc Việt Nam độc lập, thống
nhất bƣớc vào giai đoạn phát triển mới với những thách thức, cơ hội. Trong
điều kiện ấy, Việt Nam chủ trƣơng duy trì và mở rộng quan hệ với Liên Xô,
coi đoàn kết, hợp tác toàn diện với Liên Xô “là nguyên tắc, là chiến lƣợc”, “là
hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại. Về phía Liên Xô, Liên Xô tiếp tục
ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam nhiều mặt.
Bƣớc sang nửa sau những năm 80 (XX), cục diện thế giới có những
biến đổi sâu sắc, Chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới quá độ sang thời kỳ đa
4
cực hóa với xu hƣớng cơ bản là hòa bình, hợp tác và phát triển. Những biến
động chính trị to lớn, toàn diện ở Liên Xô, Đông Âu cho thấy chủ nghĩa xã
hội lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Điều này đã ảnh hƣởng
trực tiếp đến quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô. Quan hệ Việt - Xô có những
thay đổi theo hƣớng nâng cao hiệu quả hợp tác trên cơ sở cùng có lợi. Năm
1991, Liên Xô sụp đổ - đó cũng là thời điểm chấm dứt một chặng đƣờng quan
(Lê Duẩn, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981); “Lịch sử quan hệ quốc tế và chính
sách đối ngoại của Liên bang Xô Viết từ năm 1917 - 1985” (Nxb Quan hệ
quốc tế, Mátxcơva, 1980); “Mặt trận ngoại giao trong chống Mỹ cứu nước
giai đoạn 1965 - 1973” (Nam Hƣng, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5/1991); “50
năm ngoại giao Việt Nam 1945 - 1995” (Lƣu Văn Lợi, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 1996); “Quan hệ quốc tế từ 1945 - 1995” (Hoàng Văn Hiển,
Nguyễn Viết Thảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); “Ngoại giao Việt
Nam trong thời đại Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000);
“Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do 1945 1975” (Nguyễn Phúc Luân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại 1986 - 2000” (Vũ Quang
Vinh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001); “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000”
(Nguyễn Dy Niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002);...
Trong nhóm công trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày những
nét tổng quan về đƣờng lối đối ngoại, chính sách đối ngoại của Đảng từ sau
năm 1945 đến nay, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ xâm lƣợc. Trong các công trình, các tác giả tập trung
khái quát các quan điểm cơ bản của Đảng về các vấn đề quốc tế, nhận thức
của Đảng các vấn đề trong quan hệ quốc tế. Nghiên cứu quan hệ quốc tế của
Việt Nam, tác giả các công trình này điểm qua một cách khái quát những diễn
6
biến chính trong tiến trình lịch sử của quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của những công trình bàn về ngoại giao Việt
Nam nói chung, vấn đề quan hệ Việt Nam - Liên Xô mới chỉ đƣợc đề cập
hoặc ở những khía cạnh đơn lẻ, hoặc hết sức tổng quát. Chủ trƣơng củng cố,
thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1975 - 1991 cũng chỉ
đƣợc nghiên cứu ở mức độ nhất định.
Những công trình tiêu biểu có đóng góp trong việc khái quát các quan
điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế nói chung, cũng nhƣ chủ trƣơng, chính
sử và hiện tại” (Nxb Sự thật Hà Nội và Nxb Chính trị Matxcơva, 1987);
“Cách mạng tháng Mười và tình hữu nghị Việt - Xô” (Nxb. Sự thật, Hà Nội,
1987); “Quan hệ và hợp tác toàn diện Liên Xô - Việt Nam” (Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1988); “Kremlin và Hồ Chí Minh 1945 - 1969” (I.V.Bukharin, Nxb
Quan hệ quốc tế, 1998); “Quan hệ Việt - Nga 50 năm một chặng đường lớn”
(Bùi Khắc Bút, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3 (33)/2000); “Mỹ - Xô Trung trong cuộc đối đâu lịch sử” (Lý Kiện, Nxb Thanh niên, 2008); “Thế
giới trong 50 năm qua (1945 - 1995) và thế giới trong 25 năm tới (1996 2020)” (Nguyễn Cơ Thạch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)…
Bên cạnh các sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc các bài tạp chí, còn
một số luận văn thạc sĩ lịch sử cũng chọn vấn đề nghiên cứu là quan hệ Việt Xô: “Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Liên Xô từ năm 1930
- 1954” (Lê Văn Thịnh, Luận án tiến sĩ lịch sử, trƣờng Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, ĐHQGHN, 1999); “Quan hệ Liên Xô - Việt Nam từ năm
1950 đến năm 1975” (Vũ Thị Hồng Chuyên, Luận văn thạc sĩ lịch sử, trƣờng
Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2000); “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga từ năm
1991 - 2000” (Vũ Thị Thu Phƣơng, Luận văn thạc sĩ lịch sử, trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội, 2002); "Chủ trương của Đảng trong quan hệ với Liên Xô từ
8
năm 1954 đến năm 1964" (Tạ Quang Giảng, Luận văn thạc sĩ lịch sử, Trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, 2010)…
Đây là nhóm công trình tƣơng đối phong phú, đề cập trực tiếp tới quan
hệ Việt Nam - Liên Xô trên nhiều khía cạnh. Trong nhóm công trình này có
sự góp mặt của một số tác giả giữ cƣơng vị lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc Việt
Nam - những ngƣời trực tiếp tham gia hoạch định, chỉ đạo thực hiện đƣờng
lối đối ngoại nói chung và trong quan hệ với Liên Xô nói riêng. Chính vì vậy,
đây là nguồn tài liệu quý giá, cung cấp những tƣ liệu quan trọng cho tác giả
luận văn triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Các bài viết và công trình
này đã khái quát đƣợc những nét cơ bản nhất về lịch sử quan hệ hợp tác toàn
diện giữa Việt Nam và Liên Xô, đặc biệt là lịch sử quá trình hợp tác giữa
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô trên các lĩnh vực:
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tài liệu nhƣ trên, cùng với việc kế
thừa những kết quả của những ngƣời đi trƣớc; đồng thời, thu thập, xử lý tƣ
liệu mới, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ chủ trƣơng của Đảng trong quan hệ hợp tác với Liên Xô qua
hai giai đoạn: 1975 - 1985; 1986 - 1991.
- Dựng lại một cách khách quan quan hệ Việt Nam - Liên Xô từ năm
1975 đến năm 1991.
- Đúc rút một số kinh nghiệm quan trọng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, chủ trƣơng của
Đảng trong quan hệ hợp tác với Liên Xô từ năm 1975 đến năm 1991. Tuy
nhiên, để có cơ sở kiểm chứng những chủ trƣơng đó, nhận xét thành công và
10
hạn chế, luận văn còn nghiên cứu những biện pháp, giải pháp lớn Đảng đề ra
trong quá trình hiện thực hóa chủ trƣơng, nhƣng ở mức độ khái quát, không đi
cụ thể và nghiên cứu sâu.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trƣơng căn bản của Đảng trong
quan hệ với Liên Xô và các sự kiện chính, những mốc lớn trong quan hệ giữa
Việt Nam và Liên Xô từ năm 1975 (mốc đánh dấu Việt Nam hoàn toàn độc
lập, thống nhất) đến năm 1991 (Liên Xô sụp đổ), trên tất các lĩnh vực; tuy
nhiên, luận văn đề cập sâu hơn đến quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai
nƣớc.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Các nguồn tài liệu, hướng sử dụng
- Tài liệu gốc của luận văn là các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh,
cứu nƣớc ngoài tƣơng đối nhiều, nhƣng do những khó khăn chủ quan và
khách quan từ phía tác giả, nên mới đƣợc khai thác ở mức độ hạn chế.
Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau
trong quá trình giải quyết nội dung luận văn:
+ Phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp lôgic là hai phƣơng pháp chính
đƣợc sử dụng xuyên suốt luận văn.
+ Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp đƣợc sử dụng tích cực trong quá
trình phân tích, luận giải các sự kiện.
+ Phƣơng pháp phân tích, so sánh, hệ thống hóa đƣợc sử dụng nhằm
làm rõ quá trình phát triển mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
+ Phƣơng pháp đối chiếu, thống kê đƣợc kết hợp để giải quyết những
nội dung cụ thể của luận văn.
12
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở tập hợp, xử lý nguồn tƣ liệu một cách khoa học; từ đó, hệ
thống hóa, bổ sung và phân tích, luận giải, luận văn có những đóng góp chủ
yếu sau:
- Bƣớc đầu trình bày, phân tích một cách hệ thống chủ trƣơng trong
quan hệ với Liên Xô của Đảng Cộng sản Việt Nam qua hai giai đoạn 1975 1986 và 1986 - 1991; trên cơ sở đó, dựng lại bức tranh toàn cảnh quan hệ Việt
Nam - Liên Xô từ năm 1975 đến năm 1991; qua đó, giúp ngƣời đọc có cái
nhìn khách quan hơn về quan hệ Việt - Xô.
- Bƣớc đầu đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu có giá trị tham khảo.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu,
hoặc công tác giảng dạy cho những môn học có liên quan.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
Việt Nam, kết gắn cách mạng Việt Nam với Liên Xô - trung tâm cách mạng
thế giới.
Từ sau khi Cách mạng tháng Tám (1945) thành công cho đến trƣớc
năm 1950, mặc dù Nhà nƣớc Việt Nam khẩn thiết đề nghị, yêu cầu, song Liên
1
Theo một số nguồn sử liệu, vào năm 1891, trong chuyến du khảo Viễn Đông, một nhân vật nổi tiếng trong
lịch sử Nga là Sa hoàng Nikolai Đệ nhị - khi còn là Thái tử - đã viếng thăm Sài Gòn trên chiến hạm Azov.
14
Xô chƣa vội thiết lập quan hệ với Việt Nam và cũng không có những động
thái cụ thể ủng hộ Nhà nƣớc Việt Nam DCCH. Nhìn chung, thái độ của Liên
Xô đối với Việt Nam khá thận trọng, bởi Việt Nam và Đông Dƣơng chƣa phải
là mối quan tâm thực sự của Liên Xô.
Năm 1950, cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân Việt Nam có những thay đổi căn bản theo chiều hƣớng tích cực. Thế và
lực của cách mạng Việt Nam dần vững mạnh hơn. Đến thời điểm này, đã hội
tụ đầy đủ những điều kiện khách quan, chủ quan cần thiết cho việc đề nghị
các nƣớc công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Ngày
14/1/1950, Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với
chính phủ nƣớc nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền
quốc gia của nƣớc Việt Nam DCCH để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp
dân chủ thế giới. Với Liên Xô, sau một số cuộc hội đàm, trao đổi, bàn bạc,
ngày 30/1/1950, Liên Xô chính thức công nhận Việt Nam DCCH, quan hệ
giữa hai Nhà nƣớc đƣợc thiết lập.
Kể từ sau khi Liên Xô chính thức công nhận Việt Nam năm 1950,
quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên Xô bƣớc vào một thời kỳ phát triển mới,
không chỉ là quan hệ cách mạng giữa hai Đảng, mà là quan hệ chính thức giữa
bƣớc vào một chặng đƣờng mới với công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc
và đấu tranh hoàn thành CMDTDCND ở miền Nam. Phân tích đặc điểm tình
hình trong nƣớc và thế giới, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trƣơng tạm
thời duy trì thế giữ gìn lực lƣợng của cách mạng miền Nam, đấu tranh đòi Mỹ
- Diệm thi hành những điều khoản của Hiệp nghị Giơnevơ để tiến hành hiệp
thƣơng Tổng tuyển cử thống nhất đất nƣớc. Quan điểm này của Đảng hoàn
toàn phù hợp với chủ trƣơng đấu tranh chính trị, giải quyết vấn đề miền Nam
bằng thƣơng lƣợng hòa bình của Liên Xô.
16
Nhằm củng cố và thúc đẩy tình hữu nghị, quan hệ hợp tác toàn diện
với Liên Xô, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã tiến hành các chuyến viếng
thăm ngoại giao đến Liên Xô, tranh thủ những điều kiện thuận lợi cho cuộc
kháng chiến của dân tộc. Về phía Liên Xô, trong hai năm 1956 - 1957, những
chuyến thăm con thoi của các đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô đầu tiên cũng
đã tới Việt Nam1. Trên trƣờng quố c tế , Liên Xô lên án Chính quyền Sài Gòn ,
nêu cao vai trò của Việt Nam DCCH và đấu tranh để Chính phủ Việt Nam
DCCH có đa ̣i diê ̣n ở các tổ chức quốc tế mà miền Nam Cộng hòa tham gia .
Tháng 1/1957 và tháng 10/1958, Liên Xô đã kịch liệt phản đố i kiế n nghi ̣của
Mỹ và 12 nƣớc khác về viê ̣c kế t na ̣p miề n Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên
vào Liên Hiệp Quốc.
Tuy giữ thái độ thận trọng với vai trò “quan sát viên", song Liên Xô đã
tích cực viện trợ không hoàn lại, cho Việt Nam vay các khoản ƣu đãi, vay dài
hạn; giúp chuyên gia, thiết bị và kỹ thuật trong các kế hoạch kinh tế 1954 1957, 1957 - 1960, 1961 - 1964... Theo Hiê ̣p đinh
̣ ngày 18/7/1955, Liên xô
viê ̣n trơ ̣ không hoàn la ̣i cho Vi ệt Nam 400 triê ̣u rúp để xây dƣ̣ng và khôi phu ̣c
146 xí nghiệp công trình công nghiệp và cơ quan thuộc các ngành cơ khí
Sự thay đổi trong thái độ của Liên Xô đối với Việt Nam còn đƣợc đánh
dấu bằng chuyến thăm chính thức của Đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô do Chủ
tịch Hội đồng bộ trƣởng A.N.Kosygin dẫn đầu tới Hà Nội vào tháng 2/1965.
Chuyến thăm này có ý nghĩa to lớn, thể hiện sự điều chỉnh chiến lƣợc của
Liên Xô với Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Tuyên bố chung đƣợc hai
bên đƣa ra ngày 10/02/1965 khẳng định vai trò tiền đồn phe XHCN ở Đông
Nam Á của Việt Nam và những đóng góp của Việt Nam vào nền hòa bình thế
giới. Trong chuyến viếng thăm, Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng A.N.Kosygin
khẳng định: “Từ nay, Liên Xô hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ
cứu nƣớc của Việt Nam” [16; tr. 117-118]. Đây thực sự là bƣớc chuyển biến
quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Liên Xô. Từ thời điểm lịch sử quan
trọng này, Liên Xô đã giành cho Việt Nam sự ủng hộ to lớn và toàn diện.
Ngày 9/2/1965, về mặt Nhà nƣớc, Liên Xô đƣa ra bản Tuyên bố cảnh
cáo Mỹ ném bom lãnh thổ Việt Nam DCCH. Trong cuộc gặp gỡ Đoàn đại
18
biểu cấp cao Việt Nam do TBT BCHTƢ Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn
dẫn đầu thăm Liên Xô (17/4/1965), Chính phủ Liên Xô một lần nữa khẳng
định cam kết giúp đỡ Việt Nam qua lời Tuyên bố: “Nếu Hoa Kỳ tăng cƣờng
xâm lƣợc chống Việt Nam, trong trƣờng hợp cần thiết và nếu Việt Nam yêu
cầu, chính phủ Liên Xô sẵn sàng cho phép những công dân Xô Viết có
nguyện vọng đến Việt Nam theo tinh thần quốc tế vô sản để chiến đấu vì sự
nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, bảo vệ những thành quả xã hội
chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” [16; tr. 117-118]. Hàng loạt các
chuyến viếng thăm ngoại giao giữa hai bên đã diễn ra trong thời gian tiếp theo
đã chứng minh cho sự chuyển biến quan trọng trong quan hệ Xô - Việt.
Năm 1968, khi cục diện chiến trƣờng miền Nam có những diễn biến
quan trọng với sự phá sản của chiến lƣợc Chiến tranh cục bộ của Mỹ, Liên Xô
đã nỗ lực triệu tập Hội nghị 4 bên: Việt Nam DCCH, MTDTGPMNVN, Mỹ
loạt các các hiệp định đƣợc ký kết trên các lĩnh vực kinh tế - thƣơng mại,
khoa học - kỹ thuật, văn hóa - giáo dục.
So với giai đoạn 1950 - 1965, những ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Liên
Xô cả về vật chất và tinh thần đối với Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh vì
độc lập, thống nhất đất nƣớc những năm 1965 - 1975 là hết sức to lớn. Từ
năm 1965, Liên Xô ký kết với Việt Nam nhiều hiệp định nhằm củng cố và
xây dựng miền Bắc Việt Nam trở thành hậu phƣơng lớn của miền Nam. Theo
một số tài liệu lƣu trữ của Cục lƣu trữ Liên bang Nga, về giúp đỡ quân sự, vũ
khí của Liên Xô đƣợc tăng cƣờng chuyển tới Việt Nam từ cuối năm 1964, đầu
năm 1965, mặc dù những thỏa thuận cụ thể chỉ đạt đƣợc từ tháng 4/1965.
Thực hiện các hiệp định, thỏa thuận và cam kết 1, từ tháng 3/1965, “lực
lƣợng phòng không của Việt Nam đƣợc trang bị pháo cao xạ 37 mm và súng
1
Từ năm 1965 đến năm 1972, Việt Nam và Liên Xô đã ký kết gần 20 thỏa thuận, cam kết, ghi nhớ và hiệp
định về viện trợ quân sự.
20
phòng không 57 mm. Từ tháng 7/1965, tổ hợp tên lửa đất đối không tầm cao
SA-75 Dvina (SAM) đã có mặt ở Việt Nam” [9; tr. 4]. Về trị giá viện trợ từng
năm, theo một báo cáo của Bộ Ngoại giao Liên Xô (10/1965), từ năm 1962
đến năm 1965, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam trang thiết bị quân sự
(trong đó có cả máy bay) trị giá gần 200 triệu USD và hơn một nửa số này
(60%) đƣợc chuyển cho Việt Nam trong năm 1965 [7; tr. 2]. Cũng về viện trợ
trong năm 1965, Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS, Luân Đôn) cung
cấp số liệu sau: Năm 1965, trị giá viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam
là 210 triệu USD (chiếm 60% tổng viện trợ kinh tế) [156; tr.5]. Năm 1967,
theo Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Liên Xô (12/1967), đây là năm
hoãn Xô - Mỹ. Theo thống kê của Tổng cục tác chiến, Bộ Tổng tham mƣu các
lực lƣợng vũ trang Liên Xô, “từ ngày 11/7/1965 đến ngày 31/12/1974, có
6.359 sĩ quan, tƣớng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan các lực lƣợng vũ
trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam” [124; tr. 320]; “13 chuyên
gia quân sự Liên Xô đã hy sinh”1. Vì lòng quả cảm, tinh thần chiến đấu quên
mình và những đóng góp to lớn đối với nhân dân Việt Nam, “2.190 chuyên
gia quân sự đƣợc tặng các phần thƣởng của Nhà nƣớc Liên Xô, hơn 3.000
chuyên gia quân sự đƣợc tặng thƣởng các huân chƣơng và huy chƣơng của nƣớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” [124; tr. 324].
Nhƣ vậy, trong những chặng đƣờng khó khăn, gian khổ bảo vệ đất
nƣớc, nhân dân Việt Nam luôn nhận đƣợc sự ủng hộ to lớn của nhân dân,
Đảng, Chính phủ Liên Xô. Thắng lợi của 30 năm chiến tranh cách mạng
(1945 - 1975) không tách rời sự giúp đỡ toàn diện, to lớn của Liên Xô.
1
Tạp chí “Sư tử vàng”, số 73-74. Theo Tạp chí này, ngoài 13 chuyên gia quân sự hy sinh do bom đạn Mỹ,
còn có 3 chuyên gia mất tại Việt Nam vì bệnh tật.
22