ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN ĐĂNG BẢN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH TỪ NĂM 1990 TỚI NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN ĐĂNG BẢN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH TỪ NĂM 1990 TỚI NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Hƣớng dẫn khoa học: GS, TS. Đỗ Quang Hƣng
HÀ NỘI - 2012
9
1.1.1.
Khái lược về lịch sử
9
1.1.2.
Một số đặc điểm của đạo Tin lành ở Việt Nam
14
1.1.3.
Tình hình hiện trạng đạo Tin lành ở Việt Nam
16
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đạo Tin
22
1.2.
lành giai đoạn 1990 - 2004
1.2.1.
Chủ trương của Đảng giai đoạn 1990 – 1999
2.2.1.
Hoàn cảnh, nội dung Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg
45
2.2.2.
Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTG
48
2.3.
Dự báo tình hình
61
2.4.
Kiến nghị, phương hướng công tác
63
Tiểu kết
64
3
80
Phụ lục
88
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là vấn đề phức tạp và nhạy cảm của ở Việt Nam cũng ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo vừa là yêu cầu
cấp bách và lâu dài, trách nhiệm của của cả hệ thống chính trị, đứng đầu là sự
lãnh đạo của Đảng để đất nước ta có điều kiện phát triển toàn diện. Trong vài
thập kỷ gần đây, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức đổi mới và rõ hơn về vấn đề
tôn giáo, bởi tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực
thể xã hội, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau. Nước ta hiện có hơn 20 triệu tín
đồ của các tôn giáo trong đó có khoảng một triệu tín đồ theo đạo Tin lành, đang
đặt ra nhiều vấn đề cho xã hội.
Đạo Tin lành ra đời ở Châu Âu từ thế kỷ XVI, truyền vào Việt Nam từ
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, là tôn giáo du nhập vào nước ta khá muộn
nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh. Tuy số lượng tín đồ đến nay chiếm khoảng
1% dân số, không nhiều bằng một số tôn giáo khác như Phật giáo, Công giáo,
Cao đài nhưng đạo Tin lành ở nước ta có vị trí, ảnh hưởng quan trọng đến vấn đề
an ninh chính trị, trật tự xã hội. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện của Đảng và
Nhà nước trên nhiều lĩnh vực, đời sống tôn giáo của người dân cũng có nhiều
biến đổi, chủ trương chính sách về tôn giáo cũng từng bước được đổi mới để phù
nhất đối với đạo Tin lành mà đến nay rất cần nghiên cứu để hệ thống lại làm cơ
sở tham mưu cho Đảng và các cấp chính quyền đề ra chủ trương, chính sách phù
hợp hơn trong giai đoạn tiếp theo.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam là một công tác rất
mới và rất khó bởi vì ở Việt Nam ngành tôn giáo học còn khá non trẻ. Nghiên
6
cứu về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đạo Tin
lành dưới góc độ lịch sử ở Việt Nam cho đến nay chưa có một khảo cứu cơ bản,
toàn diện nào. Mặt khác nghiên cứu về tôn giáo nói chung, đạo Tin lành nói riêng
là vấn đề nhạy cảm, bởi tôn giáo này luôn bị các thế lực phản động lợi dụng. Việc
nghiên cứu về quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đạo Tin lành
Việt Nam đòi hỏi cần nhiều thời gian, công sức do tính phức tạp, có nhiều luồng
ý kiến trái chiều, chưa có sự thống nhất cao.
Trong thời gian gần đây có thể kể tới một số công trình nghiên cứu liên
quan đến đạo Tin lành nhưng ở các góc độ khác như: “Về tình hình phát triển của
đạo Tin lành ở miền núi phía Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên” (2000) của GS
Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên); “Khảo sát thực trạng vấn đề đạo Tin lành ở khu
vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ - kiến nghị giải pháp” (2001) của Ban
Tôn giáo Chính phủ; Viện Nghiên cứu Tôn giáo có đề tài “Vấn đề Công giáo và
Tin lành trong các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc những năm gần đây”
(2003); Tổng Cục II Bộ Quốc phòng có đề tài “Âm mưu hoạt động của các thế
lực phản động trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc chống phá cách mạng”
(2002); Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tin lành Mỹ, Tin lành ở Việt Nam – Dự báo
tình hình và giải pháp” của Viện nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an (2002); Các
đề án “Khảo sát thực trạng các hệ phái Tin lành Báp tít, Truyền giáo Cơ đốc, Cơ
đốc Phục lâm - kiến nghị giải pháp” (2004); “Khảo sát thực trạng người Mông
theo đạo Tin lành di cư tự do tới Tây Nguyên - kiến nghị giải pháp”(2005); đề án
chính sách của Nhà nước và các cơ quan khác trong hệ thống chính trị về việc
thực hiện chủ trương của Đảng về công tác đối với đạo Tin lành qua văn bản luật,
dưới luật, văn bản lập quy… có liên quan đến đạo Tin lành.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
- Nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đạo
Tin lành ở Việt Nam thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản nên được tiến hành bằng
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu chủ trương, chính sách đối với đạo Tin lành ở Việt Nam
được đặt trong mối quan hệ tổng thể của nhiều ngành, lĩnh vực như: kinh tế, văn
hoá, xã hội, dân cư, lịch sử... do vậy luận văn ngoài sử dụng phương pháp luận
chuyên ngành lịch sử và logic còn sử dụng phương pháp chuyên ngành khác như
tổng hợp, phân tích, thống kê và liên ngành như chính trị học, tôn giáo học, xã
hội học, văn hóa học, sử học tôn giáo… trong việc nghiên cứu đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ nội dung, cơ sở lý luận chủ trương của Đảng và
chính sách của Nhà nước đối với đạo Tin lành từ năm 1990 đến năm 2010.
- Đánh giá khách quan, khoa học về những chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước về đạo Tin lành từ năm 1990 đến năm 2010.
- Đóng góp về mặt tư liệu, cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên
cứu, rút ra kinh nghiệm, làm cơ sở tham mưu đề xuất chủ trương, chính sách, giải
pháp về công tác đối với đạo Tin lành cho một số cơ quan quản lý, nghiên cứu,
đào tạo trong thời gian tới.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài luận văn "Chủ trương của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đạo Tin lành từ năm 1990 đến năm 2010" được
chia làm 3 chương, 8 tiết:
đội quân viễn chính Pháp đã có những tuyên úy Tin lành, tiêu biểu là Jean
Baptiste Chaigneau, sau này ông trở thành một trong hai cố vấn lâu năm của
vua Gia Long” [76, tr. 30]. Hoạt động truyền giáo thực sự bắt đầu của Giáo hội
Tin lành Cải cách Pháp được thực hiện khi Hiệp ước Patenôtre (1884) được ký
kết sau khi nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp. Năm 1894 nhà thờ Tin lành
đầu tiên ở Đông Dương được mục sư tuyên úy người Pháp lập ở Hải Phòng, sau
đó được xây dựng thêm ở Hà Nội, Đà Lạt, Sài Gòn. Tuy nhiên Giáo hội Tin
lành Pháp đặt chân sớm nhất ở Việt Nam nhưng hiệu quả truyền giáo không
11
cao, tín đồ chủ yếu là người ngoại quốc. Lịch sử đạo Tin lành Việt Nam gắn với
Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (The Christian and Missionary Alliance –
CMA) của Hoa Kỳ. Bằng nỗ lực truyền giáo, sau nhiều năm gửi các giáo sỹ đến
Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đến năm 1911 tổ chức CMA mới xây dựng được
cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng, mở đầu cho lịch sử của đạo Tin lành ở Việt Nam.
Giai đoạn 1915 đến 1918, đó là thời gian Hội thánh gặp khó khăn, nhà
thờ mới mở tại Hội An bị đóng cửa, hai nhà truyền giáo tại đây là ông F. A.
Soderberg và A. H. Birkel bị trục xuất. Tuy nhiên trong giai đoạn này Hội
Truyền giáo đã ghi nhận được những con số thật có ý nghĩa. Năm 1916 đánh
dấu sự khởi đầu tăng trưởng của Hội thánh Đà Nẵng, thêm 18 người chịu lễ báp
tem trong năm này, nâng số tín đồ chính thức của Hội thánh lên 25 người, một
Trường Chúa nhật cũng được ổn định với tổng số học viên là 100. Đến cuối
năm 1918 Hội thánh Đà Nẵng đó có số tín đồ chính thức là 58 người. Tại Hội
thánh Hà Nội có thêm 4 người chịu lễ báp tem và cũng mở được một Hội thánh
nhánh. Tổng số học viên Trường Chúa nhật của 2 Hội thánh Đà Nẵng và Hà
Nội lên đến 400 người.
Giai đoạn 1918 đến 1921, sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất chấm
dứt, hoạt động truyền giáo của Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp tại Việt
hộ Nhật, Pháp và hoàn cảnh xã hội. Ở Bắc hạt: 2 nhà thờ Hải Phòng và Nam
Định, thờm 4 Hội thánh được mở lại (1948). Trung hạt: Có 17 Hội thánh tiếp
tục bị đóng cửa. Nam hạt: Có 38 Hội thánh vẫn tiếp tục bị đóng cửa, nhiều nơi
các tín hữu nhóm trong nhà riêng. Số tín hữu chính thức thuộc Nam hạt lên đến
7759 người.
Thời kỳ (1951 - 1954) ở Bắc hạt có 12 Hội thánh chính và 7 Hội thánh
nhánh, 1110 người chịu báp tem, mục sư Trần Văn Đệ là chủ nhiệm từ 19521954. Trung hạt: Trong số 41 Hội thánh, chỉ còn 33 Hội thánh có sinh hoạt. Số
Hội thánh này nằm trong cả hai khu vực Pháp và Việt Minh. Theo báo cáo của
mục sư Lê Văn Long là chủ nhiệm, trong năm 1951 có 3275 người chịu báp
13
tem. Tại miền Nam chưa ổn định về chính trị, do vậy các Hội thánh vẫn cũng bị
ảnh hưởng về hoạt động, chỉ có riêng khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn thì có sự tăng
trưởng. Nói chung các Hội thánh ở miền Nam đó thành công hơn các địa hạt
khác, tổ chức được 13 Hội đồng bồi linh và truyền giảng Tin lành năm 1951 –
1953, ngoài ra cũng có hàng trăm ban chứng đạo trong các Hội thánh hàng tuần
đi rao truyền Tin lành.
Thời kỳ 1954-1975, sau Hiệp định Genever 1954, đất nước Việt Nam
tạm thời chia cắt làm 2 miền và Hội thánh Tin lành Việt Nam cũng bị phân chia
ra 2 tổ chức là Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Nam) hoạt động độc lập cho đến hiện nay.
Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) do phần lớn tín đồ và chức sắc
di cư vào miền Nam nên các hoạt động gần như cầm chừng. Ngược lại, Hội
thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) được sự giúp đỡ của chính quyền miền
Nam và các tổ chức bên ngoài đã có sự phát triển mạnh mẽ. Đây là giai đoạn
“trọng tâm Tin lành Việt Nam” đã hoàn toàn chuyển về miền Nam và Sài Gòn
(năm 1970, Trụ sở Tổng Liên hội được đặt tại 155 Trần Hưng Đạo, Quận Nhất,
Sài Gòn; cũng năm đó thành lập Nhà in Tin lành Sài Gòn). Năm 1960, Trường
các tổ chức Tin lành du nhập từ Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ
theo hai khuynh hướng Tin lành Phúc âm và Tin lành Toàn thống. Có thể kể
một số tổ chức như Giáo hội Cơ đốc Phục lâm, thiết lập được cơ sở từ năm
1929, hiện nay có khoảng 17 ngàn tín đồ, trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chính
Minh, được Nhà nước công nhận tổ chức năm 2008. Hội Truyền giáo Cơ đốc
Việt Nam được thành lập năm 1956, hiện có 21 ngàn tín đồ, trụ sở ở Đà Nẵng,
được Nhà nước công nhận năm 2007. Hội thánh Báp tít được truyền vào từ năm
1959, hiện có khoảng 50 ngàn người tin theo thuộc gần 10 giáo phái, trong đó
có hai giáo phái đã được Nhà nước công nhận năm 2008. Hội thánh Tin lành
Trưởng lão Việt Nam được hình thành từ năm 1968, hiện có 2 tổ chức với
khoảng 15 ngàn tín đồ, trong đó một tổ chức đã được Nhà nước công nhận năm
2008. Hội thánh Mennonite Việt Nam được thành lập năm 1954, hiện có
15
khoảng 8 ngàn tín đồ, được công nhận về tổ chức năm 2009, có trụ sở đặt tại
Thành phố Hồ Chính Minh. Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam thành lập năm
1963, có nguồn gốc từ Hội thánh Tin lành Việt Nam, được công nhận về tổ chức
năm 2010, trụ sở đặt tại TP Hồ Chính Minh. Hội thánh Ngũ tuần có khoảng 30
ngàn tín đồ, chia ra hàng chục nhóm có tên khác nhau. Ngoài ra có rất nhiều
giáo phái khác như Lutheran, Giám lý, Quaker, Mormon, Nhân chứng
Giêhôva… Bên cạnh đó còn có các tổ chức không hệ phái như Thánh Kinh hội,
Viện ngôn ngữ Mùa hè, Hội truyền giảng Phúc âm, Hoàn cầu Khải tượng (Tầm
nhìn thế giới)…
Hiện nay đạo Tin lành ở Việt Nam tuy có số lượng tín đồ khoảng một
triệu người theo, ít hơn so với nhiều tôn giáo khác (Phật giáo hơn 10 triệu, Cao
đài trên hai triệu, Phật giáo Hòa Hảo 1,5 triệu tín đồ) nhưng là tôn giáo có nhiều
phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề cho công tác quản lý. Trong khoảng hai thập kỷ
gần đây đạo Tin lành trở thành vấn đề nóng, có tính thời sự và thời đại bởi các
người thị dân có nhiều điểm thích hợp để đạo Tin lành truyền giáo. Người dân
tộc thiểu số là thành phần tộc người có đời sống tâm linh, văn hóa có những hạn
chế, đạo Tin lành truyền đến như một luồng gió mới mang đến sự tiến bộ mà họ
thấy rất phù hợp.
Nội dung truyền giáo, phát triển tín đồ là chủ đích của hoạt động tôn giáo.
Về Hội thánh Tin lành Việt Nam cũng như Hội Truyền giáo CMA, trước hết là
tự nó tổ chức truyền giáo. Trong Hiến chương của nhiều Hội thánh đều xác
định: “rao giảng Tin lành là nội dung và chủ đích của mọi hoạt động”. Mong
muốn qua công việc truyền giáo để mở rộng phạm vi, tín đồ là mong muốn
chung của các tôn giáo, trong đó đạo Tin lành là tôn giáo khai thác triệt để các
loại hình truyền giáo hiện đại của thế giới văn minh.
Đạo Tin lành ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Mối quan hệ
quốc tế của đạo Tin lành ở Việt Nam khá đa dạng do lịch sử ra đời của nó. Có
17
thể chia làm hai loại chủ yếu như mối quan hệ theo hệ phái (giáo phái) và mối
quan hệ đồng đạo, theo tinh thần "đại kết Kitô giáo". Các mối quan hệ nói trên
thường được thiết lập song song với các mối quan hệ khác, nhất là mối quan hệ
của các tổ chức "phi chính phủ".
Các thế lực xấu luôn tìm cách lợi dụng đạo Tin lành để thực hiện những
âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Do thường xuyên phát triển trong môi
trường chính trị - xã hội phức tạp, đạo Tin lành thường tuyên bố đứng ngoài
chính trị, cố gắng tỏ ra không dính líu đến chính trị trực tiếp bằng tổ chức. Thực
tế cho thấy, đạo Tin lành ít quan hệ trực tiếp nhưng thông qua nhiều tổ chức tài
trợ và cá nhân để có quan hệ đến những tổ chức chính trị. Hầu hết các hoạt động
phi chính phủ (NGO) ở nước ta hiện nay có yếu tố tôn giáo, trong đó đạo Tin
lành chiếm một phần lớn trong số các tổ chức.
1.1.3. Tình hình hiện trạng đạo Tin lành ở Việt Nam
một bộ phận dân di cư miền Bắc lên định cư ở Tây Nguyên. Hầu hết các nhà
thờ, nhà nguyện của đạo Tin lành bị đóng cửa, chức sắc phải đi cải tạo, sinh
hoạt tôn giáo bị hạn chế song sự gia tăng về số người theo đạo có sự đột biến
mạnh mẽ, tăng khoảng 8 lần sau 30 năm.
Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến thời điểm năm 2010
ở các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phước có gần 500 ngàn tín đồ, gần 200 chi hội,
hơn 400 chức sắc, gần 100 nhà thờ, gần 1000 nhà nhóm, hơn 1600 điểm nhóm
thuộc hơn 30 tổ chức, hệ phái Tin lành. Sau khi tổ chức Fulro tan rã năm 1992,
được sự giúp đỡ của Mỹ và bọn phản động quốc tế, số người Thượng lưu vong
ở Mỹ đã lập ra "Nhà nước Đêga” tự trị lưu vong ở Mỹ. Đặc biệt chúng đã mượn
hình thức sinh hoạt của đạo Tin lành để hoạt động và cho lập ra cái gọi là "Hội
thánh Tin lành Đêga" làm công cụ chính trị cho “Nhà nước Đêga”.
Tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004, thế lực phản động đã kích động
một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có đồng bào theo đạo Tin lành
19
gây bạo loạn ở một số nơi thuộc tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk; sau đó chúng kích động
việc di tản sang Campuchia, Mỹ, gây ảnh hưởng rất xấu đến an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở khu vực Tây Nguyên.
Sau khi Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) được công nhận tư cách
pháp nhân (công nhận về tổ chức giáo hội) vào tháng 3/2001, các hoạt động của
tổ chức này ở Tây Nguyên từng bước được bình thường hoá (tổ chức này chiếm
80% tín đồ ở khu vực). Đến nay tình hình của Tin lành ở khu vực đã đi vào ổn
định, các hoạt động cơ bản tuân thủ pháp luật, công tác quản lý nhà nước đạt
hiểu quả cao.
Ngoài Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), hiện nay khu vực Tây
Nguyên có tổng số trên 30 hệ phái, tổ chức Tin lành khác nhau, chiếm khoảng
20% số tín đồ. Tuy có số tín đồ không nhiều, nhưng thời gian qua, hoạt động
nhất là đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. Quá trình truyền giáo vào khu
vực có thể chia thành ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990:
Một bộ phận người Mông được nghe chương trình giảng đạo qua sóng
phát thanh bằng tiếng Mông của đài FEBC đặt ở Philippin, năm 1986 đạo Vàng
Chứ xuất hiện đầu tiên tại tỉnh Hà Giang, sau đó phát triển tại một số điểm
thuộc huyện Sông Mã tỉnh Sơn La rồi tiếp tục lan sang một số xã vùng cao
thuộc các huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ… tỉnh
Lai Châu (cũ). Đến năm 1990, đạo Vàng Chứ đã xâm nhập vào 164 xã thuộc 8
tỉnh miền núi phía Bắc có người Mông sinh sống là Tuyên Quang, Hà Giang,
Cao Bằng, Bắc Thái (nay là Bắc Kạn và Thái Nguyên), Sơn La, Lai Châu (nay
là Lai Châu và Điện Biên), Lào Cai và Yên Bái.
- Giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Sau khi định hình được niềm tin, Đài FEBC hướng dẫn họ liên hệ với Hội
thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) ở Số 2 Ngõ Trạm, Hà Nội để được giúp
21
đỡ, hướng dẫn về tổ chức. Họ đã cử người xuống trụ sở Tổng hội Hội thánh Tin
lành Việt Nam (miền Bắc) nhờ giúp đỡ. Tại đây họ được các mục sư, truyền đạo
hướng dẫn, giảng dạy cách thức hành đạo… Họ nhận thấy đạo Tin lành ngoài
tính thiêng vừa phù hợp với sự mong mỏi và tâm lý, vừa đơn giản, tiết kiệm phù
hợp với cuộc sống của người Mông tương ứng với những gì họ nghe được trên
các chương trình phát thanh. Do đó số người Mông theo đạo Vàng Chứ trước
đây lại chuyển từ đạo Công giáo sang đạo Tin lành.
Từ năm 1993 số lượng người theo đạo Tin lành ở các tỉnh miền núi phía
Bắc có sự gia tăng đột biến. Những người đứng đầu các điểm nhóm liên hệ chặt
chẽ với Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Họ được cấp tài liệu, kinh
sách, tài chính; được hướng dẫn, giảng giải về giáo lý, lễ nghi của đạo Tin lành
một cách bài bản. Hiện nay số lượng đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin
Các tổ chức Tin lành đã được công nhận
Tính đến năm 2004, trước khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, ở nước
ta mới có hai tổ chức là Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và Hội thánh
Tin lành Việt Nam (miền Bắc) được Nhà nước công nhận, ngoài ra còn có
khoảng gần 100 tổ chức và nhóm Tin lành chưa được công nhận. Thực hiện
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004), tính đến nay đã có 9 tổ chức (hệ phái)
Tin lành được Nhà nước công nhận. Đây là những tổ chức có hoạt động ổn
định, phạm vi rộng, số lượng tín đồ chiếm khoảng 90% tổng số tín đồ, chức sắc
và 100% cơ sở thờ tự kiên cố của đạo Tin lành trong cả nước.
Các tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành chưa được công nhận
Ngoài các 9 tổ chức được Nhà nước công nhận, ở nước ta hiện nay còn
khoảng 80 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành chưa được công nhận, hoạt động khá
rộng, thu hút một lực lượng quần chúng tin theo khoảng gần 200 ngàn người,
tập trung chủ yếu ở các thành phố, đô thị, khu công nghiệp lớn và vùng đồng
bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên. Tiêu biểu có thể kể đến như hệ
23
phái Ngũ tuần, hiện có gần 50 tổ chức, nhóm; hệ phái Báp-tít hiện có khoảng 10
tổ chức, nhóm; hệ phái Cơ đốc Phục lâm, hiện có 2 tổ chức; hệ phái Mennonite,
hiện có 2 tổ chức cùng tên; hệ phái Trưởng lão, hiện có 2 tổ chức cùng tên; hệ
phái Giám lý, cũng có 2 nhóm; hệ phái Nhân chứng Giêhôva, hiện có 1 tổ chức;
các tổ chức, nhóm có sự ảnh hưởng, pha trộn tín lý của nhiều hệ phái với 5
nhóm; các nhóm của người nước ngoài với 4 nhóm. Các tổ chức, nhóm Tin lành
chưa được Nhà nước công nhân có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, rõ nhất
là truyền đạo trái phép, tổ chức sinh hoạt ngoài cơ sở thờ tự, chức sắc tự phong,
tranh chấp tín đồ giữa các hệ phái… gây ra mất ổn định xã hội, khó khăn cho
công tác quản lý nhà nước, nhiều vấn đề cần đặt ra cần giải quyết.
1.2. Chủ trƣơng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đạo Tin lành
giai đoạn 1990 - 2004
từ thiện, quan hệ quốc tế. “Đồng bào có đạo được sinh hoạt tôn giáo bình thường,
có nơi thờ tự, kinh sách trong việc đạo, có chức sắc hướng dẫn việc đạo…các
giáo hội được đào tạo, phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển…Các giáo hội và
hệ phái tôn giáo có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chủ, mục
đích điều lệ phù hợp với luật pháp nhà nước, có tổ chức thích hợp và bộ máy
nhân đảm bảo tốt về hai mặt đạo và đời, được nhà nước xem xét tròng từng
trường hơp cụ thể để cho phép hoạt động”. [35, tr. 3- 4].
Nghị quyết ra đời đã đáp ứng kịp thời nhu cầu và tình tình đặt ra trong thực
tế, đánh dấu đổi mới nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo trong hoàn cảnh
đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, mở cửa. Để triển khai nội dung Nghị quyết
24-NQ/TW, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 66-CT/TW ngày 26/11/1990 về
triển khai Nghị quyết 24-NQ/TW, tiếp theo đó trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã phản ánh khá hoàn chỉnh. “Tín
ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện
bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục thái độ hẹp hòi,
25