Xây dựng mô hình truyền thông biến đổi khí hậu lồng ghép vào các hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ xã tu lý, huyện đà bắc, tỉnh hòa bình - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LỒNG GHÉP VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ XÃ TU LÝ, HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LỒNG GHÉP VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ XÃ TU LÝ, HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Nguyễn Đức Ngữ

HÀ NỘI – 2016


công trình nghiên cứu của người khác. Số liệu và kết quả của luận văn là trung thực, chưa
từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác. Các thông tin thứ cấp sử
dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ và đúng qui cách.
Luận văn được tài trợ một phần tài chính từ học bổng Sasakawa – Nhật Bản. Tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn.
Tác giả

NGUYỄN QUỐC ĐẠT

ii


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................. 1
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................................. 2
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................................. 3
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................... 7
1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................................. 7
1.1.1 Biến đổi khí hậu......................................................................................................... 7
1.2. Truyền thông ................................................................................................................ 8
1.3. Truyền thông BĐKH ................................................................................................... 9
1.2. Các nghiên cứu về truyền thông BĐKH dành cho Phụ nữ .................................. 12
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới.................................................................................. 12
1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................................... 16
1.3. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 18
1.4. Tổng quan về Hội Liên Hiệp Phụ nữ xã Tu Lý ..................................................... 20
1.5. Các nghiên cứu đã triển khai tại địa bàn ............................................................... 21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 22
2.1. Mô hình truyền thông .............................................................................................. 22
2.1.1. Các loại mô hình truyền thông [35, 34] ................................................................. 22

3.2.3. Phương thức truyền thông BĐKH phù hợp với các hoạt động của Hội LHPN
xã Tu Lý ............................................................................................................................ 53
3.2.4. Lồng ghép mô hình truyền thông BĐKH vào hoạt động của Hội LHPN xã Tu
Lý....................................................................................................................................... 55
3.3. Kiểm nghiệm mô hình .............................................................................................. 63
3.3.1. Mục đích kiểm nghiệm .......................................................................................... 63
3.3.2. Nội dung kiểm nghiệm .......................................................................................... 64
3.4. Kết quả kiểm nghiệm mô hình ................................................................................ 65
3.4.1. Các kết quả đã đạt được ....................................................................................... 65
3.4.2. Đánh giá nhận thức của hội viên Hội LHPN xã Tu Lý trước và sau khi triển
khai mô hình truyền thông BĐKH................................................................................. 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 78
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 84

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH

Biến đổi khí hậu

Hội LHPN

Hội liên hiệp phụ nữ

CQK

Chiến lược, qui hoạch, kế hoạch

Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức

TNMT

Tài nguyên môi trường

TDBTT

Tính dễ bị tổn thương

1


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Qui trình lồng ghép BĐKH vào quá trình hoạch định chính sách
Hình 3.1. Thành phần dân tộc của hội viên Hội liên hiệp Phụ nữ xã Tu Lý
Hình 3.2. Thành phần nghề nghiệp của hội viên Hội LHPN xã Tu Lý
Hình 3.3. Tỉ lệ hội viên HLHPN xã Tu Lý đã từng tham gia tập huấn BĐKH
Hình 3.4. Nguồn thông tin biết về BĐKH của hội viên HLHPN xã Tu Lý
Hình 3.5. Tác động của BĐKH tại Xã Tu Lý
Hình 3.6. Tác động của BĐKH đến thói quen sinh hoạt và sản xuất của người dân xã Tu

Hình 3.7. Mô hình truyền thông BĐKH lồng ghép vào hoạt động của Hội LHPN xã Tu

Hình 3.8. Hiểu biết chung về BĐKH của hội viên Hội LHPN xã Tu Lý trước và sau khi
triển khai mô hình truyền thông
Hình 3.9. Nhận thức hậu quả của BĐKH của hội viên Hội LHPN xã Tu Lý trước và sau
khi triển khai mô hình truyền thông
Hình 3.10. Nhận thức về tác động của BĐKH tại địa phương của hội viên Hội LHPN xã
Tu Lý trước & sau triển khai mô hình truyền thông

về BĐKH cho cộng đồng là một công tác hết sức quan trọng và cần thiết đối với việc
thay đổi hành vi và chủ động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Đây cũng là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của truyền thông BĐKH đã được thừa nhận trong các văn
bản của nhà nước [23, 24].
Theo Công ước Khung Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), BĐKH sẽ
tác động nhiều nhất tới những người nghèo có ít nguồn lực nhất để ứng phó với những hệ
quả của BĐKH, 70% trong số này là phụ nữ [48]. Báo cáo chung năm 2012 của Liên
Hợp Quốc (UN) và Oxfam cũng nhận định ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có
Việt Nam, bên cạnh người nghèo, người cao tuổi và trẻ em, phụ nữ là những đối tượng
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi BĐKH [49, 50]. Báo cáo cũng nhấn mạnh phụ nữ đóng một
vai trò cốt yếu, không chỉ trong dân số mà còn giữ những vị trí quan trọng trong gia đình,
trong khu vực kinh tế nông thôn và thành thị cũng như trong xã hội nói chung. Điều này
có nghĩa phụ nữ chính là một nhân tố quan trọng và đông đảo trong công cuộc thích ứng
và giảm nhẹ BĐKH. Tuy nhiên nguồn lực này lại chưa được khai thác và thừa nhận đúng
mức [29, 51]. Chính vì vậy, trao quyền cho phụ nữ trong quá trình hoạch định chính sách
và thực thi các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH sẽ là cách làm hiệu quả, đặc biệt
là ở cấp độ địa phương.
4


Tại Việt Nam, ảnh hưởng của BĐKH tới phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong công
cuộc ứng phó, thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đã nhiều lần nhắc đến trong các văn bản của
Chính Phủ như “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu” và
“Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu” [2, 24], trong các nghiên cứu và các dự của
nhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Oxfam, UNICEF, UNFPA, ActionAid v.v… Từ
năm 2006 đến 2009, tổ chức ActionAid cũng đã triển khai thực hiện chương trình “Phát
huy vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong việc xây dựng khả năng ứng phó của địa phương
nhằm giảm nhẹ rủi ro do thảm họa, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ khả năng bị
tổn thương trước biến đổi khí hậu và thiên tai” tại tỉnh Hòa Bình [57]. Tuy nhiên, đối
tượng tham gia chương trình mới chỉ là một số ít các cán bộ phụ nữ xã Tu Lý và chưa có

Hội liên hiệp Phụ nữ; (4) Kiểm nghiệm mô hình truyền thông.
Ngoài các phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được
chia thành 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan tài liệu;
- Chương 2: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3: Xây dựng mô hình truyền thông BĐKH và lồng ghép vào các hoạt
động của Hội LHPN xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;

6


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trên thế giới, truyền thông BĐKH hiện nay là một trong những trọng tâm hàng
đầu trong chiến dịch nâng cao ý thức của cộng đồng về BĐKH. Rất nhiều biện pháp
truyền thông được nhiều tổ chức trên thế giới áp dụng, tuy nhiên đa phần các biện pháp
này nhắm mục tiêu tuyên truyền chung cho cả cộng đồng thay vì khoanh vùng từng nhóm
đối tượng với những đặc điểm riêng biệt để có được các hình thức truyền thông phù hợp
[16]. Hiện nay, các nghiên cứu về truyền thông BĐKH trên thế giới chủ yếu tập trung vào
công tác truyền thông đại chúng, trong khi truyền thông BĐKH cho đối tượng phụ nữ thì
chưa thực sự được chú ý.
Tại Việt Nam, các chương trình truyền thông BĐKH cho phụ nữ mới chỉ chú
trọng vào công tác truyền thông nâng cao vai trò của phụ nữ trong công tác ứng phó và
giảm nhẹ BĐKH. Bên cạnh đó, các chương trình đa phần mang tính điểm, chỉ áp dụng
được ở một vùng địa phương nhất định, chứ chưa thực sự nhắm đến mục tiêu nâng cao
nhận thức của toàn phụ nữ về BĐKH, đặc biệt là phụ nữ nông thôn và dân tộc thiểu số,
cũng như chưa có một mô hình truyền thông BĐKH dành riêng cho phụ nữ.
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Biến đổi khí hậu
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH đã định nghĩa "BĐKH là những
biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể

của đời sống xã hội của con người, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả đến các
thế hệ tương lai.
Từ những đặc điểm nêu trên nên mục đích của truyền thông về BĐKH không chỉ
là nhằm truyền đạt thông tin hay quá nhấn mạnh vào truyền đạt thông tin mà quan trọng
hơn là nhằm thu hút mọi người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu
biết chung, nhận thức chung về những vấn đề BĐKH để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm
9


và thống nhất hành động theo một hướng chung trong việc giải quyết những vấn đề của
BĐKH đặt ra [15].
Lịch sử truyền thông BĐKH
BĐKH là vấn đề mang tính toàn cầu và bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ
những năm 1960. Tuy nhiên, phải đến nửa cuối thập niên 1980, các chiến dịch truyền
thông về BĐKH mới thực sự được khởi xướng. Thời gian đầu, đa số các hoạt động
truyền thông cho công chúng chủ yếu tập trung vào các phát hiện khoa học về BĐKH và
các báo cáo tổng hợp, đôi khi là về một số hiện tượng thời tiết cực đoan, các cuộc họp
cấp cao hoặc các cuộc họp hoạch định chính sách [39]. Trải qua 20 năm phát triển, truyền
thông về BĐKH đã không còn là cuộc tranh luận của riêng các chuyên gia. Với sự phát
triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông, nhận thức của công chúng về bản chất
và tác động của BĐKH đã được nâng cao, đặc biệt là tại các nước đang phát triển –
những quốc gia được xem là có khả năng chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH [40].
Ngày nay, hoạt động truyền thông BĐKH đã vượt ra ngoài các kênh dành riêng
cho giới khoa học, và bắt đầu vươn tới những đối tượng truyền thông rộng khắp hơn, sử
dụng những diễn đàn và kênh thông tin đa dạng hơn, truyền tải được nhiều thông điệp
hơn với vô số loại mô hình truyền thông khác nhau dành riêng cho từng loại đối tượng
[68]. Các hoạt động truyền thông BĐKH hiện nay được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau, song chủ yếu tập trung vào các mục đích chính là: Giáo dục, nâng cao nhận
thức và thay đổi hành vi [40].
Thông điệp truyền thông BĐKH

của chúng đến kinh tế - xã hội ở địa phương để cho các thông điệp truyền thông sinh
động hơn. Tùy theo đối tượng cụ thể, các tuyên truyền viên về BĐKH sẽ lựa chọn và diễn
đạt những nội dung thông điệp truyền thông sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, tạo được ấn tượng
thông qua các hình thức truyền thông khác nhau, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa
phương [15].

11


1.2. Các nghiên cứu về truyền thông BĐKH dành cho Phụ nữ
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các nghiên cứu về mối liên hệ và tác động của BĐKH tới phụ nữ
được thực hiện từ thập niên 1990 bởi nhiều tổ chức lớn như UN, CARE, FAO, UNDP…
Các nghiên cứu này đều nhận định phụ nữ tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có
Việt Nam, chính là một trong những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi BĐKH vì những
lý do sau: (1) Không được tham gia nhiều vào quá trình hoạch định chính sách ứng phó
với BĐKH. (2) Phụ nữ là giới đảm nhiệm hầu hết các sinh kế liên quan đến nông nghiệp
và ít có khả năng thay đổi sinh kế. (3) Bất bình đẳng giới ở các nước phát triển. (4) Bị
giới hạn về kiến thức và kỹ năng bởi các yếu tố truyền thống, văn hóa xã hội. (5) Phải
sinh nở và nuôi con (tăng tính bị tổn thương) [44, 45, 52, 53, 54, 55]. Chính vì lẽ đó,
truyền thông BĐKH cho phụ nữ là một hoạt động cần thiết và đã được nhiều nước triển
khai, điển hình như:
Châu Mỹ
- Mỹ: Năm 2008, Đại học Yale, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và triển khai dự án về
truyền thông BĐKH quy mô lớn cho toàn thể người dân nước Mỹ, với mục tiêu: (1) Nâng
cao hiểu biết của công chúng về BĐKH cũng như các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ
BĐKH; (2) Thúc đẩy hành động của các nhà lãnh đạo, quần chúng, các doanh nghiệp,
giới học giả và truyền thông nhằm cài thiện hơn nữa kiến thức và hiểu biết cho người
Mỹ, trong đó phụ nữ là một trong những đối tượng quan trọng mà dự án này nhắm đến
[32].

trường cùng Quỹ Quốc gia dành cho Bảo vệ môi trường và Quản lý nguồn nước hợp tác
phát hành năm 2006, chính phủ Phần Lan một lần nữa khẳng định vai trò của truyền
thông BĐKH, đặc biệt là truyền thông BĐKH trong trường học và cho giới trẻ, đặc biệt
là giới nữ [42].
- Hà Lan: Là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi BĐKH, từ
lâu chính phủ Hà Lan luôn chú trọng tới công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho
người dân về BĐKH qua nhiều kênh thông tin đa dạng, đặc biệt là Internet. Năm 2015,
Đại học Amsterdam đã cho triển khai nghiên cứu về phương thức truyền thông BĐKH
13


cho Phụ nữ và Nam giới qua mạng xã hội Twitter. Nghiên cứu này tập trung làm rõ sự
khác biệt trong cách thức truyền đạt thông tin về BĐKH giữa Phụ Nữ và Nam giới thông
qua mạng Twitter. Theo đó, Phụ nữ có xu hướng quan tâm tới các vấn đề liên quan đến
BĐKH nhiều hơn so với Nam giới, cũng như có cái nhìn ít hoài nghi hơn về tác động của
BĐKH so với Nam giới [38, 41].
Châu Phi:
- Uganda: Trong các năm 2012, 2013 và 2014, trung tâm Kabarole Research and
Resource và một số đơn vị tư nhân ở Uganda đã tổ chức Lễ hội nghệ thuật đường phố
thường niên lồng ghép truyền thông BĐKH tại thị trấn Fort-Portal, trong đó huy động các
nghệ sĩ truyền thông về BĐKH cho người dân, đặc biệt là phụ nữ và các bé gái [59].
- Nigeria: Cho đến nay, Nigeria đã thực hiện khá nhiều chương trình truyền thông
BĐKH có sự tham gia của phụ nữ. Có thể kể đến như Dự án truyền thông về BĐKH cho
các nông dân vùng nông thôn, bao gồm cả phụ nữ do tổ chức NGO Women
Environmental Programme thực hiện. Tháng 8/2009, chính phủ Nigeria cũng cho tiến
hành một nghiên cứu quy mô lớn tại các vùng Bắc Trung và Đông Nam Nigeria về sự
khác biệt trong nhận thức về BĐKH giữa Phụ Nữ và Nam giới. Nghiên cứu chỉ ra rằng
phụ nữ Nigeria mặc dù nhận được mức độ giáo dục thấp hơn so với nam giới, song lại
quan tâm và có nhiều kiến thức hơn nam giới về các vấn đề liên quan đến BĐKH, nguyên
nhân chính là do sinh kế của đại đa số phụ nữ Nigeria chủ yếu phụ thuộc vào các nguồn

- Nhật Bản: Được nhận định là thành công nhất trong truyền thông về BĐKH.
Chiến dịch nâng cao nhận thức công chúng bao gồm các biện pháp liên ngành trong đó
chính phủ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các khu vực kinh tế, học viện… để phổ
biến thông tin và nâng cao giáo dục môi trường nhằm khuyến khích mọi công dân, đặc
biệt là phụ nữ, giảm phát thải khí nhà kính trong sinh hoạt hàng ngày của họ và tham gia
vào các hoạt động ứng phó với sự nóng lên toàn cầu điển hình như: Chiến dịch "Cool
Biz"; "Warm Biz"; "Uchi-Eco"; Phong trào "Tác giả tuyên bố giảm 1 kg CO2 /1 người/1

15


ngày". Sự thành công của "Cool Biz" tại Nhật Bản được Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Ý
và Liên Hợp Quốc áp dụng để giảm tiêu thụ năng lượng và lượng khí thải carbon [46].
Như vậy, có thể thấy truyền thông BĐKH đang được một số nước trên thế giới
quan tâm và sử dụng nhiều phương tiện truyền thông công cộng (truyền thông gián tiếp)
để thực hiện các tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là cho đối tượng
phụ nữ về BĐKH. Tuy nhiên, các phương thức và phương tiện truyền thông mà các nước
này lựa chọn lại đôi khi chỉ dễ tiếp cận đối với các nhóm phụ nữ ở thành thị, mà bỏ qua
các nhóm phụ nữ ở các khu vực nông thôn. Có thể thấy, phụ nữ ở các khu vực nông thôn
và xa xôi là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH, song lại chưa có một
mô hình truyền thông nào thực sự dành riêng cho các đối tượng này. Đây là cơ sở cho
việc lựa chọn đề tài luận văn của học viên. Đồng thời cũng là một khó khăn, thách thức
không nhỏ đối với học viên khi nghiên cứu xây dựng mô hình truyền thông cho các phụ
nữ ở vùng sâu vùng xa và các phụ nữ dân tộc thiểu số.
1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề ảnh hưởng của BĐKH mới chỉ thực sự bắt đầu được nghiên
cứu vào những năm 1990. Các nghiên cứu trong thời gian đầu tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu bản chất, nguyên nhân, diễn biến và đề xuất các nguyên tắc, giải pháp chung
để thích ứng và giảm thiểu BĐKH [22]. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu thực sự
chuyên sâu nào về ảnh hưởng của BĐKH tới phụ nữ, ngoại trừ một số nghiên cứu mang

khí hậu”. Dự án sẽ được triển khai tại xã Tân Nhuận Đông và An Nhơn của huyện Châu
Thành.
Dự án nhằm nâng cao nhận thức của phụ nữ và cộng đồng trong việc ứng phó
thiên tai và vấn đề biến đổi khí hậu thông qua các hoạt động: in và phát hành tài liệu
truyền thông về quản lý và giảm nhẹ rủi ro do thiên tai, tuyên truyền kỹ năng ứng phó với
biến đổi khí hậu cho phụ nữ, tập huấn về quản lý rủi ro do thiên tai v.v… Dự án được
thực hiện từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2016 [58].

17


Thừa Thiên Huế: Dự án "Truyền thông giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với
biến đổi khí hậu thông qua các câu hò điệu ví" của chi hội Phụ nữ thôn Vân Quật Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế [14, 66].
Hòa Bình: Từ năm 2006 đến 2009, tổ chức ActionAid đã triển khai một vài
chương trình tuyên truyền và phố biến kiến thức về BĐKH dành cho các cán bộ trong xã
và một vài thành viên cốt cán của Hội Liên hiệp phụ nữ xã Tu Lý [57].
Tất cả các dự án truyền thông nói trên đều không thực sự chú trọng vào đối tượng
phụ nữ, mà phụ nữ chỉ là một trong những đối tượng được truyền thông. Do đó, các dự án
này cũng chưa xây dựng được một mô hình truyền thông nào cụ thể, chi tiết và phù hợp
dành cho phụ nữ.
1.3. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu được học viên lựa chọn là xã Tu Lý, một trong ba xã nghèo
nhất huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, với tỷ lệ người nghèo chiếm 22% (theo số liệu thống
kê năm 2009). Toàn xã Tu Lý có 1.140 hộ với 5.240 khẩu, hầu hết là người dân tộc thuộc
nhóm Mường, Tày, Dao, Thái sống rải rác ở 13 xóm. Toàn xã có 1353 phụ nữ từ 18 tuổi
trở lên (chưa tính số phụ nữ cán bộ, công chức nhà nước) có 797 hội viên tham gia sinh
hoạt hội thường xuyên, ổn định. Có thể nói, xã Tu Lý là một xã điển hình về xã miền núi
nghèo với phần đông dân cư là người dân tộc thiểu số [12].
Vị trí địa lý

Về chăn nuôi: Toàn xã Tu Lý có 1.178 con bò, 3.405 con lợn và 24358 con gia
cầm; Về thủy sản: Tổng diện tích ao hồ nuôi thủy sản toàn xã đạt 16,5 ha; Về lâm nghiệp:
Toàn xã có 54,7 ha rừng, bao gồm cây bồ đề, keo mỡ và hơn 4.500 cây lâm nghiệp các
loại.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status