ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUỆ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH – QUA THỰC TIỄN
QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUỆ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH – QUA THỰC TIỄN
QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ DUYÊN THẢO
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
1.3.
1.4.
Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hộ tịch .................................................24
Chủ thể, trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch .................................26
1.4.1. Chủ thể áp dụng pháp luật về hộ tịch ...........................................................26
1.4.2. Các trường hợp áp dụng pháp luật về hộ tịch ..............................................28
1.5.
Quy trình áp dụng pháp luật về hộ tịch ...................................................39
1.6.
1.6.1.
1.6.2.
1.7.
1.7.1.
Hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch ....................................................43
Tiêu chí đánh giá hiệu quả ADPL về hộ tịch ...............................................43
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch ...............47
Kinh nghiệm áp dụng pháp luật về hộ tịch ..............................................50
Kinh nghiệm ADPL một số nước trên thế giới ............................................50
1.7.2. Đánh giá hoạt động ADPL về hộ tịch ở các quốc gia trên thế giới và
bài học kinh nghiệm cho hoạt động ADPL về hộ tịch ở Việt Nam .............55
Kết luận chương 1 ...................................................................................................58
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM ...................................................60
2.1.
Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hoàn Kiếm tác
quận Hoàn Kiếm ........................................................................................69
2.5.1. Hoạt động ADPL về hộ tịch tại UBND cấp phường ...................................70
2.5.2. ADPL về hộ tịch tại UBND quận ................................................................86
2.6.
Đánh giá thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch tại
quận Hoàn Kiếm ........................................................................................91
2.6.1. Thành tựu .....................................................................................................91
2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân ..............................................................................93
Kết luận chương 2 ...................................................................................................99
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH .......................................................101
3.1.
Những yêu cầu khách quan đảm bảo áp dụng pháp luật về hộ
tịch trong giai đoạn mới ...........................................................................101
3.1.1. Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải
đảm bảo sự khoa học trong quá trình quản lý, giản tiện các thủ tục
cho người dân .............................................................................................101
3.1.2. Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải đặt
trong mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, đảm bảo và bảo vệ
quyền con người .........................................................................................102
3.1.3. Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch phải trên
cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm trong việc quản lý hộ tịch của các
quận điển hình và kinh nghiệm quản lý công dân ở các nước tiên tiến
PHỤ LỤC ...............................................................................................................122
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADPL:
Áp dụng pháp luật
GKS:
Giấy khai sinh
HĐND:
Hội đồng nhân dân
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
Hộ tịch là một trong những vấn đề trung tâm của công tác quản lý nhà nước
về dân cư. Những sự kiện hộ tịch luôn diễn ra hàng ngày, hàng giờ, gắn liền với đời
sống của người dân đòi hỏi phải được pháp luật công nhận và đăng ký kịp thời.
Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của chính quyền
năm gần đây nhưng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ tịch để đảm bảo cho các sự
kiện hộ tịch của công dân được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng quy định
vẫn là mục tiêu đầy khó khăn đặt ra đối với các chính quyền các cấp. Nguyên nhân
do những quy định của pháp luật còn sơ sài, chưa bám sát thực tiễn, còn nhiều kẽ hở
gây khó khăn cho người dân cũng như cho chính cán bộ khi thừa hành trong việc áp
dụng pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch của chính quyền các
cấp cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp
và cải cách hành chính trong giai đoạn mới, như: chất lượng công tác đăng ký hộ
tịch chưa cao, vẫn còn nhiều sai sót, có việc gây bức xúc, nhất là tình trạng lợi dụng
đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước có dấu
hiệu gia tăng; công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa giấy tờ hộ tịch tuy
đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho người dân trong giải
quyết các yêu cầu hộ tịch; phương thức đăng ký hộ tịch còn mang tính thủ công;
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch còn chưa đồng đều, trình
độ năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch chưa đáp ứng được yêu
cầu… Những hạn chế, yếu kém trên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền nhân
thân cơ bản của cá nhân và quyền con người cũng như hiệu quả của hoạt động áp
dụng pháp luật về hộ tịch.
Quận Hoàn Kiếm là một quận lớn, trọng điểm thuộc thành phố Hà Nội, có vị
thế đặc biệt về vị trí địa lý và chính trị, văn hóa, xã hội. Đây là một quận tập trung
của các khu phố cổ với mật đô dân cư đông đúc, hơn 84.000 nghìn người/km, thuộc
loại cao nhất thế giới. Quận cũng là nơi tập trung của các khu thương mại, du lịch,
dịch vụ lớn như Chợ Đồng Xuân, Hàng Da, Hàng Bè,… nên thu hút ngày càng
nhiều dân cư tại các vùng miền đến lập nghiệp, lập cư làm ăn, khách du lịch trong
đó có rất nhiều đối tượng là người nước ngoài… làm cho nhu cầu đăng ký hộ tịch
trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng.
Với nhận thức đúng về vị trí, vai trò quan trọng của công tác hộ tịch đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại quận, đặt trong sự tác động của việc hội nhập quốc
tế toàn diện của đất nước, Quận ủy, HĐND, UBND quận Hoàn Kiếm luôn quan tâm
chỉ đạo, lãnh đạo và điều hành công tác hộ tịch một cách sâu sát, nhất là việc triển khai
Có thể nói hộ tịch là một lĩnh vực quan trọng đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm
hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn và cần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc
điểm dân cư, truyền thống, tập quán, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương. Có
như vậy nhà quản lý mới áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa
ra các quyết định đúng, phù hợp, mang lại hiệu quả cao.
3
Lĩnh vực hộ tịch không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo mà còn
là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học, nhà quản lý. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến hộ tịch và các chính
sách về hộ tịch trong thời gian qua:
- Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư
pháp của công dân”, tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
tháng 6 năm 2005;
- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm
Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;
- Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch trong giai
đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9
năm 2006; 6 Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 hộ tịch và
quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;
- “Hướng dẫn nghiệp vụ quản lý và đăng ký hộ tịch” của Bộ Tư pháp, Nhà
xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;
- Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác
giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008;
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:
- Phạm Hồng Hoàn, “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội” (luận văn cao học) năm 2011;
- Nguyễn Thị Chính, “Quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân
quận Hoàn Kiếm từ năm 2011 đến nay.
Về mặt thực tiễn: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng, hiệu quả của
công tác áp dụng pháp luật về hộ tịch tại đơn vị hành chính là quận (huyện) cụ thể
là tại các cơ quan hành chính thuộc quận Hoàn Kiếm gồm UBND quận và UBND
phường nhằm nêu lên thực trạng, qua đó đưa ra các chủ trương, đường lối của
Đảng, Nhà nước cũng như đề xuất, kiến nghị của bản thân nhằm nâng cao công tác
áp dụng pháp luật về hộ tịch.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục đích
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác áp dụng pháp luật
của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch.
- Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của chất
lượng áp dụng pháp luật về hộ tịch.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó xác định các giải pháp để
5
đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Quận ủy, UBND quận trong việc áp dụng pháp
luật nói chung và áp dụng pháp luật về hộ tịch nói riêng.
- Góp phần tạo dựng một cơ sở lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật về hộ
tịch để hoàn thiện công tác này trong thực tiễn ở Hoàn Kiếm nói riêng, ở Việt Nam
nói chung.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan, pháp luật thực định của Việt
Nam về hộ tịch, áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận (huyện), tìm hiểu kinh
nghiệm áp dụng pháp luật ở nước ngoài về hộ tịch.
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật về hộ
tịch tại các cơ quan hành chính ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội từ năm 2011
bài học kinh nghiệm, nêu những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo áp dụng pháp
luật trong hoạt động giải quyết sự kiện hộ tịch có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công
cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đánh giá thực trạng công tác áp
dụng pháp luật trong phạm vi cấp huyện thông qua thực tiễn tại quận Hoàn Kiếm từ
đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ tịch và công
tác áp dụng pháp luật về hộ tịch tại Việt Nam.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các nhà lãnh
đạo, nhà hoạch định chính sách trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý điều
hành của Nhà nước, sự thực hiện pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về hộ tịch
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch tại quận Hoàn Kiếm.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
1.1. Khái quát về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch
1.1.1. Khái quát về hộ tịch
Về khí cạnh ngôn ngữ, “Hộ tịch” là một từ ngoại lai gốc Hán được du nhập
vào ngôn ngữ tiếng Việt, rất khó xác định thời điểm xuất hiện. Hộ tịch được ghép bởi
hai thành tố có nghĩa độc lập, “hộ” được hiểu là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra
là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn cùng ở với nhau”. “Tịch” có
nghĩa là “sổ sách”, hay “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên, khi kết hợp
hai thành tố này lại với nhau lại cho ra những khái niệm “hộ tịch” khác nhau. Các Từ
Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong
các giáo trình giảng dạy của của Đại học Luật khoa Sài Gòn chế độ Việt Nam cộng
hòa. Trong đó nổi lên một số tác giả sau:
Tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên
hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú,
khai sinh và khai tử” [14, tr.111].
Nghĩa về từ “hộ tịch” trong hệ thống pháp luật hiện hành được duy trì từ
Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Theo đó, “Hộ
tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi
sinh ra đến khi chết”.
Điều 1, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này thay thế
cho Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện
cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Nếu theo quan niệm cũ trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về
sinh, tử, kết hôn thì theo quy định Nghị định số 158/2005/NĐ-CP tại Hộ tịch bao
gồm 09 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha,
mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm
sinh; xác định lại dân tộc,.... Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản,
bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của cá nhân.
Để làm rõ nội hàm, là cơ sở để xác định phạm vi đăng ký hộ tịch, Luật Hộ
tịch năm 2014 đã giải thích và làm rõ khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và các vấn
đề có liên quan:
* Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật
này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi
chết (Khoản 1 Điều 2).
9
10
thời gian dài, chỉ được sửa đổi hai lần bởi các Sắc lệnh ngày 10/02/1893 và Sắc lệnh
ngày 23/7/1931.
Các quy định về hộ tịch của chế độ thuộc địa và tay sai tuy khá hoàn thiện,
nhưng trong thực tiễn việc áp dụng không được như mong muốn của họ. Do nhiều
nguyên nhân, trước hết là do bản chất của chế độ, việc đăng ký và quản lý hộ tịch
không nhằm mục đích phục vụ nhân dân mà để thống trị; Đa số người dân chưa thấy
được quyền lợi từ việc thực hiện hộ tịch, đã phải gánh chịu nhiều nghĩa vụ từ những
quy định hà khắc, không phù hợp với hoàn cảnh điều kiện sống của mình trong giai
đoạn đó. Chủ trương của những người kháng chiến yêu nước, của cách mạng giải
phóng dân tộc là bằng mọi cách phải lũng đoạn sự quản lý thống trị của thực dân xâm
lược và của bộ máy tay sai vốn sẵn quan liêu, thi hành một cách máy móc. Vấn đề khác
mang tính đặc thù, xuyên suốt không thể không đề cập đến, đó là chiến tranh ác liệt đã
làm hạn chế không ít việc đăng ký và quản lý hộ tịch của các chế độ trước đây.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự điề u chỉnh pháp luâ ̣t trong liñ h vực
hô ̣ tich
̣ của Nhà nước ta đươ ̣c đánh dấ u bằ ng bản Điề u lê ̣ đăng ký hô ̣ tich
̣ đầ u tiên
đươ ̣c ban hành kèm theo Nghi ̣đinh
̣ số 764/TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính
phủ. Bản điều lệ này bao gồm 34 điề u quy đinh
̣ các vấ n đề cơ bản về viê ̣c đăng ký
khai sinh; đăng ký kế t hôn; đăng ký khai tử; viê ̣c ghi chú và thay đổ i về hô ̣ tich;
̣ viê ̣c
công nhâ ̣n và đăng ký hô ̣ tich
̣ đố i với ngoa ̣i kiề u và Viê ̣t kiề u về cư trú ở trong nước.
Bản điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1956 thi hành đươ ̣c năm năm thì bi ba
thế văn bản này , đồ ng thời Nghi ̣đinh
̣ số 68/2002/NĐ-CP cũng đươ ̣c sửa đổ i và bổ
sung bởi Nghi ̣đinh
̣ số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006.
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ
tịch; quyền và nghĩa vụ của cá nhân; thống kê hộ tịch và trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước trong quan lý nhà nước về hộ tịch.
Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch: xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo
nơi cư trú. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú được xác định như sau: Đối
với công dân Việt Nam ở trong nước, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi
người đó đăng ký hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú có thời
hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu; Đối với người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký
thường trú; nếu không có nơi đăng ký thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực
hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú. Theo đó, đăng ký hộ tịch được thực hiện tại
03 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. UBND cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký kết hôn,
nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp giúp thực hiện
đăng ký việc khai sinh, khai tử, giám hộ có yếu tố nước ngoài; đăng ký việc thay
đổi, cải chính hộ tịch; bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ
hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh cho người nước ngoài và người Việt Nam
định cư tại nước ngoài trong trường hợp trước đây họ đã đăng ký hộ tịch tại Việt
Nam. UBND cấp huyện thực hiện đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho
người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính và bổ sung hộ
12
tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi; cấp lại bản
chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch. UBND cấp xã thực
thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp. Cấp huyện: UBND cấp huyện thực hiện quản lý
nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình. Phòng Tư pháp giúp UBND cấp huyện
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi
địa phương. Cấp xã: UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa
13
phương mình. Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp UBND cấp xã thực
hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch.
Nhìn chung Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về hộ tịch, khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tự giác thực hiện việc
đăng ký hộ tịch; đảm bảo quyền, nghĩa vụ của công dân liên quan đến hộ tịch; đảm
bảo xác nhận tất cả các sự kiện hộ tịch liên quan đến công dân, đáp ứng được nhu
cầu của công dân liên quan đến hộ tịch của mình và những người có liên quan góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức
thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch và bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống
nhất, đúng, đầy đủ các quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh nói
riêng, cả nước nói chung.
Từ Nghị định số 04/CP ban hành ngày 16/01/1961 đến Nghị định số 158/NĐCP ngày 27/12/2005 đều đã thể hiện quan điểm, mục đích và những quy định cụ thể
của Nhà nước về hộ tịch. Tuy nhiên, có thể thấy do nhiều nguyên nhân và hoàn
cành lịch sử cụ thể nên việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hộ tịch gần như
không có sự biế n chuyể n đáng kể , để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đời sống xã
hô ̣i. Lĩnh vực hộ tịch chưa được điều chỉnh ở tầm văn bản luật, nên tính ổn định
thấp, hiệu lực thi hành còn hạn chế. Những quy định của pháp luật quy định trong
Nghị định 158/2005/NĐ-CP chưa bám sát thực tiễn hoàn toàn, còn bộc lộ nhiều kẽ
hở, quy định giản đơn, sơ sài, không thống nhất gây phiền hà cho người dân và cho
cán bộ, công chức khi thừa hành, áp dụng pháp luật.
Nhằm khắc phục những điểm hạn chế trên, nhất là trong bối cảnh triển khai
thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người,
thức quan trọng, có tính đặc thù bởi nó chứa đựng những yếu tố bảo đảm cho những
quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế. Nếu chỉ thông qua các
hình thức như tuân thủ thi hành và sử dụng pháp luật mà không có áp dụng pháp
luật thì nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện hoặc thực hiện không chính
xác, không đầy đủ và nghiêm minh đảm bảo cho quan hệ pháp luật đi vào đời sống
góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật. Nếu như tuân thủ và chấp hành và sử dụng pháp luật là những
hình thức mà mọi chủ thể đều có thể thực hiện, thì áp dụng pháp luật luôn có sự
tham gia của nhà nước, là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc áp dụng pháp luật
không thể tùy tiện của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền mà phải là các
hoạt động, các hành vi áp dụng pháp luật được pháp luật quy định bằng các hình
15
thức, cách thức cụ thể, theo nguyên tắc: “cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền
chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định”
Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của trường đại học Luật Hà
Nội và giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội thì: ADPL là hoạt động có tính tổ chức quyền lực nhà nước, do
các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến
hành nhằm cá biệt hóa các quy định của pháp luật hiện hành vào những trường hợp
cụ thể, đối với những cá nhân, tổ chức cụ thể”.
Qua phân tích khái niệm nói trên, về cơ bản, ADPL có các đặc điểm sau:
- ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật và đảm bảo pháp luật được thực hiện trên thực
tế; áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền
nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi. Nhờ có sự đảm bảo của nhà nước nên
pháp luật mới có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể có liên quan. Tính quyền
Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra trong
quá trình áp dụng pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người được áp
dụng, nó có thể mang lại cho người ta lợi ích rất lớn (ví dụ, quyết định giao quyền
sử dụng đất, quyết định lên lương, quyết định công nhận tốt nghiệp...), song nó
cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề (ví dụ, quyết
định xử phạt vi phạm hành chính, bản án hình sự...). Do vậy, để đảm bảo tính đúng
đắn, chính xác của quá trình áp dụng pháp luật, hoạt động này không thể được tiến
hành một cách tuỳ tiện mà phải theo những trình tự, thủ tục và trên cơ sở những
điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định. Đương nhiên, trình tự, thủ tục đó
không thể như nhau trong tất cả các vụ việc mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc này sang
vụ việc khác tuỳ theo tính chất của vụ việc. Ví dụ, trình tự, thủ tục xem xét để cấp
Đăng ký kết hôn sẽ khác với trình tự, thủ tục công nhận tốt nghiệp cho người học,
càng khác với trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính [9, tr.15].
- Áp dụng pháp luật có điều kiện, quy trình, thủ tục được pháp luật quy định
chặt chẽ. Đó là quá trình đặc biệt của việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo cho
pháp luật có giá trị trên thực tế, để tránh sự tuỳ tiện, hoạt động đó phải được quy
định chặt chẽ về thủ tục, trình tự, thời gian cũng như hình thức; tuỳ thuộc vào từng
lĩnh vực mà có các trình tự, thủ tục, hình thức áp dụng pháp luật khác nhau, các quy
định về thủ tục có thể là đầy đủ hoặc rút gọn theo quy định của pháp luật, không có
một trình tự chung cho tất cả các lĩnh vực áp dụng pháp luật trên thực tế.
- Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, hoạt động này có thể là
cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ hoặc cá biệt hoá chế tài quy phạm pháp luật [9, tr.16].
17
Về phía chủ thể, nhờ có áp dụng pháp luật mới xác định được giới hạn pháp lý cần
thiết cả về nội dung của quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, cũng như trách nhiệm pháp
lý có liên quan khi tham gia quan hệ pháp luật, áp dụng pháp luật là hoạt động cần
phải dược chi tiết hoá một cách chính xác, tỉ mỉ về những yêu cầu chung thành