Xử lý vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả từ thực tiễn quận hoàn kiếm, thành phố hà nội (tt) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

--------/--------

-----/-----

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TRƢỜNG SƠN

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ - TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI – 2016


Luận văn đƣợc hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN QUỐC SỬU

Phản biện 1: ………………………………………………….
Phản biện 2: ………………………………………………….

quyết định xử phạt, nên hiệu quả răn đe thấp, công tác đấu tranh phòng chống hàng giả
đạt kết quả không tƣơng xứng với kỳ vọng và thực tiễn đòi hỏi.
Để tìm hiểu một cách có hệ thống từ phƣơng diện lý luận đến thực tiễn về công
tác xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Hoàn Kiếm,
thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
này trong thời gian tới, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Xử phạt vi phạm hành
chính về buôn bán hàng giả - từ thực tiễn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn Thạc sỹ luật Hiến pháp và luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan tới đề tài luận văn, có nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ
khác nhau đã đƣợc công bố, có thể kể tới nhƣ:
- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tƣ pháp (1980), Xử phạt vi phạm hành chính,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
- TS. Vũ Thƣ (1996), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, Chuyên đề hội
thảo khoa học về giao thông, Hà Nội;
Liên quan đến vấn đề sản xuất, buôn bán hàng giả đã có một số công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập tới ở nhiều góc độ, ví dụ: Đề tài khoa học
Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc
tế của Việt Nam năm 2005 của Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án Phó tiến sĩ luật học
Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam năm 1996 của Lê Xuân Thảo; Luận án tiến sĩ
1


Luật học: Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả thực trạng và biện pháp phòng,
chống năm 2001 của Trần Ngọc Việt; Luận văn thạc sĩ Đấu tranh phòng chống tội làm
hàng giả, tội buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay năm 1998 của Đỗ Thị Lan. Chống
sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ quản lý nhà nước,
Luận văn Thạc sỹ luật học của Nguyễn Mạnh Cƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Qua khảo sát, có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về xử phạt vi phạm

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác xử phạt hành chính về buôn bán hàng
giả trên địa bàn quận Hoàn Kiếm của cơ quan quản lý thị trƣờng thành phố Hà Nội,
cụ thể là Đội quản lý thị trƣờng số 2 – Chi cục Quản lý thị trƣờng, thuộc Sở Công
thƣơng Thành phố Hà Nội.
2


Luận văn nghiên cứu trên địa bàn quận Hoàn Kiếm; giai đoạn 2010-2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên phƣơng pháp luận duy vật biện chứng của Chủ
nghĩa Mác – Lê nin vào nghiên cứu vấn đề khoa học xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu
khoa học xã hội là: Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp quan
sát thực tiễn (qua quá trình công tác) với khát quát hóa.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn Luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về xử phạt hành chính trong
lĩnh vực hàng giả.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
của cán bộ giảng dạy, sinh viên trong các trƣờng đại học luật, đại học hành chính
hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ngƣời quan tâm, nghiên cứu về xử
phạt hành chính về hàng giả.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu đƣợc
kết cấu gồm 3 chƣơng, gồm:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về xử phạt vi phạm hành
chính về buôn bán hàng giả
Chƣơng 2: Thực trạng công tác xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng
giả trên địa bàn quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội

có thể đƣa ra khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính nhƣ sau:
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, người
có thẩm quyền áp dụng chế tài pháp luật hành chính (hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả) đối với chủ thể vi phạm hành chính (cá nhân, tổ chức) theo thủ
tục do luật hành chính quy định, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính
phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với trạng
thái ban đầu của họ.
1.1.2. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ
chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong phòng
chống hàng giả mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt vi phạm hành chính.
4


Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả là hoạt động áp dụng
pháp luật, trong đó, người có thẩm quyền áp dụng chế tài pháp luật hành chính (hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả) đối với chủ thể vi phạm hành chính (cá
nhân, tổ chức) về buôn bán hàng giả theo thủ tục do luật hành chính quy định, kết
quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi,
thiệt hại về vật chất và tinh thần so với trạng thái ban đầu của họ.
1.1.3. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính về hàng giả
Ở phương diện thứ nhất, là các quy định pháp luật hành chính, xử phạt vi
phạm hành chính về buôn bán hàng giả có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, quy định pháp luật về xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả đƣợc
xây dựng thành một hệ thống, chủ yếu do Chính phủ ban hành (dạng Nghị định), và
Bộ ban hành (dƣới dạng Thông tƣ hƣớng dẫn thi hành Nghị định).
Trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện nay ở nƣớc ta, Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, quy định
những vấn đề chung nhất về xử lý vi phạm hành chính nhƣ: các biện pháp xử lý vi

nƣớc đƣợc thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn bán, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [46] .
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nƣớc Việt Nam thống nhất đƣợc ban hành vào
năm 1985 [28] quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tại Điều 176, thuộc
nhóm Tội kinh tế. Mặc dù có quy định chi tiết hơn, có chế tài nghiêm khắc hơn Điều
5 của Pháp lệnh năm 1982, Điều 176 của Bộ luật hình sự năm 1985 không đƣa ra
định nghĩa về hàng giả.
Văn bản pháp quy đầu tiên đƣa ra định nghĩa về hàng giả là Nghị định
140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng bộ trƣởng quy định về việc kiểm tra, xử lý
hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả. Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng giả
theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có
hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất,
nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá
trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”.
Sau một thời gian dài chuẩn bị, ngày 10/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị
định 08/2013/NĐ-CP về Quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn
bán hàng giả. Cũng trong năm đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 185/2013/NĐCP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn
bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ ngƣời tiêu dùng để thay thế Nghị định số
08/2013/NĐ-CP. Một trong những quan điểm quan trọng xuyên suốt Nghị định
185/2013/NĐ-CP là các quy định trong Nghị định đều nhằm bảo vệ có hiệu quả các
quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời kinh doanh và ngƣời tiêu dùng; góp phần đảm bảo
ổn định thị trƣờng, phát triển kinh tế xã hội và thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nƣớc, nâng cao ý thức pháp luật của doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng.
Nhƣ vậy, hiện nay, văn bản trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm hành chính
về sản xuất và buôn bán hàng giả là Nghị định 185/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm
và bảo vệ ngƣời tiêu dùng. Nghị định 185/2013/NĐ-CP đã đƣợc sửa đổi, bổ sung bởi
Nghị định số 124/2015/NĐ-CP).
1.2.2. Đối tƣợng bị xử phạt
Theo quy định hiện hành, các đối trƣợng thuộc diện bị xử phạt hành chính về

- Các hình thức phạt chính
+ Hình thức cảnh cáo: Hình thức cảnh cáo là hình thức xử phạt chính trong xử
phạt hành chính. Theo quy định tại Nghị định số 185, hình thức này không đƣợc áp
dụng cho các hành vi buôn bán hàng giả: không có giá trị sử dụng, công dụng, mạo
nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem, nhãn, bao bì giả. Theo Nghị định 99/2013/NĐCP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hình phạt cảnh cáo đƣợc áp dụng đối với hành vi
buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.
+ Hình thức phạt tiền: Hình thức phạt tiền là hình thức xử phạt chính và mức
tiền phạt quy định tại Nghị định 185 là áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính
do cá nhân thực hiện. Trƣờng hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện
thì phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định đối với cá nhân.
- Hình thức phạt bổ sung
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm: chỉ đƣợc áp dụng đối với loại tang
vật, phƣơng tiện vi phạm hành chính quy định tại Điều 26 Luật Xử lý vi phạm hành
7


chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi
phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP).
+ Tƣớc quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề
hoặc đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ vi phạm.
- Biện pháp khắc phục hậu quả
+ Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm đƣợc áp dụng đối với loại hàng hóa, vật
phẩm quy định tại Điều 33 Luật Xử lý vi phạm hành chính mà việc buộc cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính tiêu hủy không ảnh hƣởng đến môi sinh, môi trƣờng, sức
khoẻ con ngƣời, vật nuôi, cây trồng và trật tự an toàn xã hội;
+ Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng hóa, phƣơng tiện kinh
doanh, vật phẩm đƣợc áp dụng đối với loại hàng hóa, phƣơng tiện kinh doanh, vật


1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG
1.3.1. Kinh nghiệm của lực lƣợng Quản lý thị trƣờng ở Thái Bình
Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Thái Bình là: Quán triệt tầm quan trọng của
Ban Chỉ đạo 127 ( nay là Ban chỉ đạo 389), tầm quan trọng của Cơ quan thƣờng trực
Ban Chỉ đạo 127 là Cơ quan Quản lý thị trƣờng; tăng cƣờng phối hợp liên ngành; tập
trung kiểm tra những lĩnh vực, mặt hàng trọng điểm; chủ động kiểm tra, kiểm soát
chống vận chuyển, buôn bán hàng nhập lậu, hàng cấm, hàng giả và gian lận thƣơng
mại; tăng cƣờng kiểm tra trên khâu lƣu thông tại các tuyến đƣờng bộ, đƣờng biển và
thị trƣờng nội địa, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm; tập trung vào các đƣờng dây, ổ
nhóm, đối tƣợng có quy mô hoạt động lớn ở các địa bàn trọng điểm [50].
1.3.2. Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại, hàng
giả ở Thành phố Hồ Chí Minh là: các lực lƣợng chức năng đã tập trung, tăng cƣờng
các hoạt động phối hợp liên ngành, tập trung vào các mặt hàng nhập lậu, hàng giả,
hàng kém chất lƣợng, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định kiểm dịch, thú
y... [51].
1.3.3. Kinh nghiệm của Chi cục Quản lý thị trƣờng tỉnh Lào Cai
Kinh nghiệm của ngành Quản lý thị trƣờng tỉnh Lào Cai là: đoàn kết nội bộ,
đổi mới điều hành, nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Quản lý thị
trƣờng, gắn với việc phối hợp liên ngành, tăng cƣờng tuần tra, phát hiện và xử lý
nghiêm minh vi phạm.

Tiểu kết Chƣơng 1
Buôn bán hàng giả là hiện tƣợng tất yếu của xã hội, nhƣng ảnh hƣởng rất lớn
tới hoạt động sản xuất, buôn bán và tiêu dùng hàng thật. Pháp luật nƣớc ta cũng nhƣ
nhiều nƣớc khác sử dụng biện pháp xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả để
phòng chống vấn nạn này. Tuy nhiên, việc thực hiện truy cứu trách nhiệm hành chính
đối với những hành vi vi phạm của lực lƣợng chức năng là vấn đề nan giải, phụ thuộc

Với chợ Đồng Xuân - một khu thƣơng mại và dịch vụ lớn, là đầu mối giao lƣu
hàng hoá của cả khu vực phía bắc cùng với một loạt chợ lớn nhƣ: Hàng Da, Cửa
Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thƣơng mại sầm uất nhƣ Hàng Gai, Hàng Bông,
Hàng Ngang, Hàng Đào..., Hoàn Kiếm đã và đang trở thành trung tâm thƣơng mại
lớn của Thủ đô Hà Nội.
2.1.3. Tình hình buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
Đối với lực lƣợng Quản lý thị trƣờng Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2015, Chi
cục Quản lý thị trƣờng Hà Nội đã kiểm tra, xử lý nhiều vi phạm về hàng giả. Trong 6
tháng đầu năm 2016, theo Ban chỉ đạo 389 thành phố Hà Nội, các lực lƣợng chức
năng thành phố đã kiểm tra 23.340 vụ, xử lý hơn 11.000 vụ buôn lậu, hàng giả, gian
lận thƣơng mại , khởi tố hình sự 111 vụ. Tổng số tiền phạt hành chính, truy thu thuế,
tiền bán hàng thanh lý, tiền tiêu hủy là hơn 1.400 tỉ đồng, tăng hơn 300 tỉ, số vụ buôn
lậu, hàng giả, gian lận thƣơng mại bị xử lý đã tăng hơn 2.500 vụ so với cùng kỳ năm
2015.
10


Bảng thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả
của lực lƣợng Quản lý thị trƣờng Thành phố Hà Nội từ năm 2010-2015
Trị giá hàng hóa vi
Năm
Số vụ
Số tiền phạt (VNĐ)
phạm (VNĐ)
2010
222
800.000.000
8.000.000.000
2011
540

thƣơng mại và hàng giả thành phố Hà Nội (gọi tắt là Cơ quan thƣờng trực Ban chỉ đạo
389/TP), là đơn vị dự toán cấp 3, đặt tại Chi cục Quản lý thị trƣờng Hà Nội.
2.2.2. Kết quả xử phạt vi phạm hành chính
Theo số liệu thống kê do Đội Quản lý thị trƣờng số 2 (cơ quan thƣờng trực Ban
chỉ đạo về chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại và hàng giả quận Hoàn Kiếm) thực
hiện từ năm 2010 đến 2015, Đội QLTT số 2 đã tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm về
buôn bán hàng giả, kết quả nhƣ sau:
Năm
Số vụ
Số tiền phạt (VNĐ)
Trị giá hàng hóa vi
phạm (VNĐ)
2010
86
138.840.000
90.650.000
2011
73
486.050.000
183.477.000
2012
119
623.000.000
253.520.000
2013
127
722.000.000
1.050.493.000
2014
120

lậu, mũ bảo hiểm, xe đạp điện, mặt hàng thuỷ sản không bảo đảm chất lƣợng, không
rõ nguồn gốc xuất xứ...
- Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị định số 185/2013/NĐ-CP
ngày 15/11/2013 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014) đã thu
đƣợc nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận
thƣơng mại, hàng giả và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng: Nghị định số
185/2013/NĐ-CP cơ bản giải quyết đƣợc những bất cập mẫu thuẫn, chồng chéo với
các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan; Các hành vi
vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt quy định rõ ràng, cụ thể, phù hợp với
các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy định chi tiết thi
hành tạo thuận lợi cho việc áp dụng xử phạt trong thực tiễn; thẩm quyền lập biên bản
vi phạm hành chính và thẩm xử phạt quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng tạo cơ sở pháp
lý cho các lực lƣợng chức năng thực thi công vụ; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy
định cụ thể nguyên tắc áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả
trên cơ sở phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản
quy phạm pháp luật có liên quan; căn cứ định giá để xác định thẩm quyền, mức phạt
rõ ràng, cụ thể đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong quá trình
áp dụng xử phạt.
12


2.3.2. Những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân
2.3.2.1. Những hạn chế, khó khăn
- Việc phát hiện hàng giả ngày càng khó khăn do công nghệ làm hàng giả ngày
càng tinh vi, hàng giả đƣợc làm giống nhƣ hàng thật, có những loại hàng hóa giả xuất
hiện trên thị trƣờng mà chỉ có nhà sản xuất mới có thể nhận biết đƣợc thông qua mã
số, ký hiệu trên sản phẩm của mình, vì vậy không dễ dàng gì ngƣời tiêu dùng và cơ
quan quản lý phát hiện đƣợc.
- Ý thức đấu tranh của một bộ phận ngƣời tiêu dùng còn chƣa cao, chỉ thấy lợi

hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đƣợc xếp vào nhóm hành vi xâm phạm quyền sở hữu
13


công nghiệp thì phải tuân theo quy trình kiểm tra, xử lý đƣợc quy định tại chƣơng 3
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ: “ Quy định chi tiết và
hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữa trí
tuệ và quản lý nhà nƣớc về sở hữu trí tuệ” theo đó chủ thể quyền phải gửi “ đơn yêu
cầu xử lý” khi cho rằng hàng hóa của mình đã bị đối tƣợng giả mạo nhãn hiệu kèm
theo là các tài liệu chứng minh quyền sở hữu, chứng minh vi phạm và trong khi các
hành vi vi phạm về hàng giả khác đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3 ( ngoại trừ điểm
g khoản 8 Điều 3) đƣợc xử lý theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP thì hành vi vi phạm
đƣợc quy định tại điểm g khoản 8 Điều 3 ( Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy
định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ) lại áp dụng Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày
28/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp, nhƣ vậy là cùng nhóm hành vi vi phạm về hàng giả đƣợc quy định trong
cùng một văn bản (Nghị định 185/2013/NĐ-CP) lại đƣợc áp dụng để xử lý tại hai văn
bản khác nhau dẫn đến sự rắc rối cho việc áp dụng văn bản xử lý.
Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “ Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng
hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không
đƣợc phép của chủ sở hữu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý”, việc quy định
“khó phân biệt” ở đây rất mơ hồ, không rõ ràng, thế nào là khó phân biệt ?, đối với
ngƣời này là khó phân biệt, đối với ngƣời khác chƣa hẳn là khó phân biệt nên rất dễ
dẫn đến tranh chấp kéo dài mà ngay cả tòa án cũng khó giải quyết.
Cũng tại Điều này có cụm từ quy định “mà không đƣợc phép của chủ sở hữu”
cũng là một quy định rất khó cho các cơ quan chức năng khi thực thi nhiệm vụ vì
không rõ số hàng hóa đang nghi ngờ có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu có đƣợc sự đồng
ý của chủ sở hữu hay không?, điều này còn phải căn cứ vào tính chủ động của chủ sở
hữu trong việc thể hiện thái độ của mình bằng việc gửi đơn đến các cơ quan chức

kinh doanh mà chỉ có hãng mới có những dấu hiệu riêng để phân biệt, không dễ gì
thông tin ra bên ngoài vì nếu lộ thông tin thì vấn đề trở thành “ lợi bất cập hại”, các
đối tƣợng sẽ khai thác các điểm này để sản xuất hàng giả giống nhƣ hàng thật.
- Hành vi vi phạm về hàng giả đƣợc quy định tản mát ở nhiều văn bản khác
nhau, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý
dẫn đến việc cùng một hành vi vi phạm thì mỗi nơi, mỗi ngành áp dụng một văn bản
khác nhau, thiếu tính thống nhất. Hơn nữa có một thực tế là các văn bản ( thông
thƣờng là các Nghị định) có những vấn đề không quy định cụ thể mà phải chờ có
thông tƣ hƣớng dẫn, trong khi đó thông tƣ lại ban hành chậm, không kịp thời nên mặc
dù Nghị định đã đƣợc ban hành, có hiệu lực nhƣng vẫn phải chờ thông tƣ hƣớng dẫn
mới có thể thực hiện đƣợc.
2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn
Thực tế thị trƣờng có thể thấy nguyên nhân của tình trạng hàng giả vẫn diễn
biến phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thứ nhất là, hệ thống văn bản pháp luật không đồng bộ, mặc dù văn bản điều
chỉnh trong lĩnh vực hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhiều nhƣng các
quy định tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau thiếu tính thống nhất, khái niệm về hàng
giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu không tách bạch, quy định thiếu rõ ràng.
- Thứ hai là, lợi nhuận từ việc sản xuất, buôn bán hàng giả rất cao cho nên các
cơ sở sản xuất, thƣơng nhân buôn bán hàng giả bất chấp việc bị xử lý vi phạm hoặc
chấp nhận bị xử phạt để rồi tiếp tục vi phạm miễn là vẫn thu đƣợc lợi nhuận cao; điều
này xuất phát từ chế tài đối với một số hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả còn chƣa
nghiêm khắc, chƣa tƣơng xứng với hành vi vi phạm; công tác đảm bảo thực hiện xử
phạt vi phạm còn chƣa đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, còn nhiều trƣờng hợp ngƣời vi
phạm không chấp hành quyết định xử phạt nhƣng việc cƣỡng chế ít đƣợc áp dụng nên
dẫn đến tình trạng “ nhờn pháp luật”.
15


- Thứ ba là, sự phân cấp quản lý, phân công trách nhiệm chƣa rõ ràng; mặc dù

xƣởng sản xuất hàng giả của thế giới), có chung đƣờng biên giới dài và hiểm trở do
vậy việc kiểm soát hàng giả qua các đƣờng mòn, lối mở trên các tuyến biên giới là rất
khó khăn, hàng giả vẫn hàng ngày thẩm lậu vào thị trƣờng nội địa, khi hàng giả vào
thị trƣờng nội địa thì phát tán rất nhanh nên gây khó khăn cho các cơ quan chức năng.

16


Tiểu kết Chƣơng 2
Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội là địa bàn rất phát triển các hoạt động
buôn bán hàng hóa và dịch vụ, vào bậc nhất của Hà Nội. Những năm qua, ngành
Quản lý thị trƣờng đã phát hiện và xử lý nhiều vi phạm hành chính về buôn bán hàng
giả. Tuy nhiên, tình trạng buôn bán vẫn diễn biến theo chiều hƣớng phức tạp, tinh vi.
Điều này đặt ra cho các cơ quan chức năng cần có những giải pháp thích hợp để kiểm
soát tình trạng buôn bán hàng giả.

17


Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HOÀN KIẾM -THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VỀ HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
3.1.1. Nâng cao hiệu quả xử phạt hành chính về hàng giả phải gắn liền với
việc hoàn thiện quy định và thủ tục xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả
Luật Xử lý vi phạm hành chính đƣợc ban hành năm 2012 là văn bản pháp lý
cao nhất điều chỉnh thống nhất về công tác Xử lý vi phạm hành chính ở nƣớc ta.


Xử phạt nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật là nhân tố vô cùng cần thiết đảm
bảo kỷ cƣơng và sự vững mạnh của pháp luật. Sử dụng nhuần nhuyễn giáo dục và
cƣỡng chế trong quản lý nhà nƣớc, điều hành xã hội bằng pháp luật, giữ vững kỷ
cƣơng, phép nƣớc chính là chìa khóa để duy trì tính nghiêm minh của pháp luật một
cách hiệu quả.
Nhƣ vậy, có thể nói rằng có rất nhiều yếu tố làm ảnh hƣởng đến luật pháp mà trong
đó công tác xây dựng pháp luật, tổ chức xây dựng pháp luật và kiểm tra giám sát, xử phạt
vi phạm pháp luật có ý nghĩa to lớn, ảnh hƣởng to lớn và mãnh mẽ đến pháp luật.
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH VỀ HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt hành chính về hàng giả
Hiện nay, tuy đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ngăn ngừa,
hạn chế các vi phạm; truy cứu trách nhiệm sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng xâm
phạm quyền sở hữu song hiệu lực thực thi của một số văn bản còn thấp do chƣa đƣợc
cụ thể hóa hoặc chƣa theo kịp với những diễn biến phức tạp nảy sinh trong cuộc sống.
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan lại chủ yếu tập trung vào chống, nhất là
chống trong khâu tiêu thụ hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu mà chƣa chú trọng
đúng mức đến phòng ngừa ngăn chặn sản xuất hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở
hữu…, vì vậy cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hàng giả, xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm khắc phục, sửa chữa, loại bỏ những văn bản không
còn phù hợp, văn bản có sự xung đột pháp luật với các văn bản khác; từ đó xây dựng
hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất.
- Văn bản pháp luật cần xác định rõ hàng giả với hàng hóa xâm phạm quyền sở
hữu và các khái niệm khác nhƣ hàng hóa khuyết tật theo Luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng;
hàng hóa chứa yếu tố xâm phạm đến sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, kiểu
dáng công nghiệp và giống cây trồng theo luật sở hữu trí tuệ.
- Quy định ranh giới cụ thể giữa mức độ xử lý hành chính với xử lý hình sự.

nhiệm chính, chủ trì và tổ chức phối hợp với các cơ quan chuyên môn; các cơ quan
khác có trách nhiệm phối hợp, tham gia với lực lƣợng chủ trì theo chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn đƣợc pháp luật quy định. Trƣờng hợp phát hiện hành vi vi phạm trên
địa bàn hoặc lĩnh vực cơ quan khác chủ trì thì cơ quan phát hiện thông báo ngay cho
cơ quan có trách nhiệm chủ trì xử lý để phối hợp hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành tốt
nhiệm vụ theo chức năng nhiệm vụ đƣợc phân công.
- Quan hệ phối hợp hoạt động đƣợc thực hiện theo nguyên tắc kịp thời, hiệu
quả; trong quá trình phối hợp không gây khó khăn, phiền hà hoặc kéo dài thời gian
trong kiểm tra, xử lý vi phạm.
- Việc trao đổi thông tin về tình hình vi phạm giữa các cơ quan chức năng đòi
hỏi phải đảm bảo tính bảo mật.
3.2.4.Truyền thông nâng cao nhận thức của ngƣời tiêu dùng, cộng đồng
doanh nghiệp
Thƣờng xuyên duy trì công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật một cách sâu rộng cho mọi thành phần từ chủ sở hữu, doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh đến ngƣời tiêu dùng; đối với mỗi đối tƣợng cần có
những biện pháp phù hợp, cụ thể:
* Đối với doanh nghiệp
Nội dung tuyên truyền cần làm cho doanh nghiệp nhận thức rõ về việc bảo vệ
quyền sở hữu không chỉ là quyền của chủ sở hữu mà còn là trách nhiệm đối với ngƣời
tiêu dùng cũng nhƣ xã hội, khắc phục tƣ tƣởng cho rằng việc chống hàng giả, bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ thuộc về các cơ quan chức năng.

20


Các biện pháp mà các doanh nghiệp đã áp dụng có hiệu quả cần chú ý: tem
chống hàng giả, mã số sản phẩm, đặc điểm dây truyền công nghệ sản xuất, ký hiệu
riêng trên từng sản phẩm…
Công tác chống hàng giả không thể đạt hiệu quả cao nếu không có sự tham gia,

về hàng giả
Công tác đấu tranh chống hàng giả đòi hỏi phải thƣờng xuyên, lâu dài và phải
cần có sự vào cuộc của mọi tầng lớp nhân dân, vì vậy cần phải phát huy sức mạnh
tổng hợp của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và ngƣời tiêu
dùng mới đem lại hiệu quả cao;
21


- Đối với các cơ quan chức năng: cần phải thƣờng xuyên, tích cực, chủ động
trong công tác chuyên môn của mình, kiểm tra, kiểm soát thị trƣờng, phát hiện và xử
lý kịp thời các sai phạm.
- Đối với các tổ chức xã hội: phải ý thức rõ về sự ảnh hƣởng của mình đối với
xã hội từ đó có những chƣơng trình hành động cụ thể; ví dụ: Hội chống hàng giả và
bảo vệ ngƣời tiêu dùng phải lắng nghe, tìm hiểu, phát hiện những tiêu cực trong hoạt
động kinh doanh cũng nhƣ những thiệt hại của ngƣời tiêu dùng để phản ánh với các
cơ quan chức năng đấu tranh xử lý sai phạm, bảo vệ quyền lợi của ngƣời tiêu dùng.
- Đối với các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp đƣợc sự bảo vệ của pháp luật,
tuy nhiên cũng cần phải có trách nhiệm với sản phẩm của mình đang lƣu thông trên
thị trƣờng và có cơ chế tự bảo vệ thông qua các hình thức tuyên truyền, quảng bá sản
phẩm, thông tin cảnh báo hàng kém chất lƣợng, hàng hoá của doanh nghiệp mình có
thể bị làm giả để các cơ quan chức năng và ngƣời tiêu dùng có thông tin đấu tranh
phòng chống hàng giả, hàng kém chất lƣợng.
- Đối với ngƣời tiêu dùng: là đối tƣợng chịu ảnh hƣởng nhiều nhất, trực tiếp
nhất từ nạn hàng giả, hàng kém chất lƣợng; vì vậy, mặc dù đƣợc sự bảo vệ của pháp
luật thì ngƣời tiêu dùng cũng cần phải nói lên tiếng nói của mình khi bị xâm hại bởi
đây là kênh thông tin nhanh nhất, đầy đủ nhất và đáng tin cậy nhất để giúp các cơ
quan chức năng phát hiện và đấu tranh hiệu quả nhất đối với vi phạm.
Nhƣ vậy, công tác đấu tranh chống hàng giả chỉ đem lại hiệu quả cao nhất khi
có sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và
ngƣời tiêu dùng.

trách nhiệm công dân trong việc phối hợp với cơ quan chức năng phát hiện, chứng
minh, xử lý vi phạm về hàng giả.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status