Header Page 1 of 126.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------PHẠM TUẤN ANH
PHẠM TUẤN ANH
QUẢN TRỊ KINH DOANH
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC
TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
KHÓA CH2010B
Footer Page 1 of 126.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – 2013
Header Page 2 of 126.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------PHẠM TUẤN ANH
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC
TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
doanh thích hợp, có những ưu thế về tình năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh với
yêu cầu của thị trường và là phương tiện hiệu quả giải quyết công ăn việc làm.
Do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, sự hội nhập của Việt
Nam vào các tổ chức kinh tế quốc tế và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế với
các nước trên thế giới là xu thế tất yếu. Môi trường hoạt động này đòi hỏi các doanh
nghiệp (DN) Việt Nam muốn tồn tại và phát triển không chỉ tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp mình trong nước mà còn phải thắng trong cuộc cạnh tranh với DN
nước ngoài. Để tăng vị thế cạnh tranh với các đối thủ thì việc nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực phải đặc biệt được coi trọng.
Đối với bất kỳ một Doanh nghiệp nào thì quá trình nhân sự là quá trình hàng
đầu và không thể thiếu được vì nó quyết định sự thành bại của Doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
Footer Page 3 of 126.
PHẠM TUẤN ANH
1
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 4 of 126.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Vì vậy, việc đánh giá lại thực trạng và đề ra những giải pháp để phát triển và
nâng cao chất lượng nhân lực đối với công ty Chứng Khoán APEC là một điều thực
sự cần thiết và cấp bách.
Từ thực tế đó, đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại công ty
Chứng Khoán APEC ” được lựa chọn để nghiên cứu, mang tính cấp thiết và có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ nhân lực cho công ty.
2
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 5 of 126.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và phát triển nhân lực cho công ty Chứng
Khoán APEC góp phần đáp ứng được các yêu cầu của chủ doanh nghiệp về nâng
cao chất lượng nhân lực cũng như hạn chế những tồn tại cho phù hợp với yêu cầu
phát triển chung của xã hội.
7. Nội dung, kết cấu của luận văn
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực – quản trị chất lượng nhân lực
Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nhân lực tại công ty
Chứng Khoán APEC
Chương 3: Đề xuât một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực tại
công ty Chứng Khoán APEC
Kết luận
Footer Page 5 of 126.
PHẠM TUẤN ANH
3
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 6 of 126.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Footer Page 6 of 126.
PHẠM TUẤN ANH
4
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 7 of 126.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
niệm về nguồn nhân lực giữa các quốc gia, nhưng nhìn chung, nguồn nhân lực được
xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng dân cư tham gia vào hoạt động
kinh tế xã hội (lao động tham gia vào tổ chức cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp).
Số lượng của nguồn nhân lực được xác định bởi các chỉ tiêu về qui mô và tốc độ
tăng của nguồn nhân lực. Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện bằng các
chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề
nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân
bố theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn… Trong nguồn nhân lực,
chất lượng đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đọan hiện nay, khi mà Khoa
học - công nghệ và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng
cao có vai trò quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững. Do vậy, phát triển
nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội
phát triển.
1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường
chuyển sang nền kinh tế tri thức thì nguồn lực con người trở thành động lực chủ yếu
cho sự phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, tại Đại hội
lần thứ VII, Đảng ta đã nhấn mạnh: Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng
Như chúng ta biết, trong những năm 1950 và 1960 tăng trưởng kinh tế chủ
yếu là do công nghiệp hóa; thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ
yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có
một phần nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế có thể được giải thích bởi khía cạnh đầu
vào là nguồn vốn. Phần rất quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất
lượng lực lượng lao động (trình độ giáo dục, sức khỏe và mức sống).
Đầu tư cho con người, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá
nhân tạo ra khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống cho cả xã hội, từ đó nâng cao
năng suất lao động. Garry Becker, người Mỹ được giải thưởng Nobel kinh tế năm
1992, khẳng định “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào
nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục”. Lịch sử các nền kinh tế trên thế
giới cho thấy không có một nước giàu có nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao
trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông. Cách thức để thúc đẩy sản
xuất, đến lượt nó thúc đẩy cạnh tranh, là phải tăng hiệu quả giáo dục. Các nước và
các lãnh thổ công nghiệp hóa mới thành công nhất như Hàn Quốc, Xingapo, Hồng
Kông và một số nước khác có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong những thập
kỷ 1970 và 1980 thường đạt mức độ phổ cập tiểu học trước khi các nền kinh tế đó
cất cánh. Mặc dù vậy, các nghiên cứu cũng cho thấy thành công của Nhật Bản và
Hàn Quốc trong kinh tế không chỉ do phần đông dân cư có học vấn cao mà còn do
các chính sách kinh tế , trình độ quản lý hiện đại của họ. Do đó, giáo dục phải được
Footer Page 8 of 126.
PHẠM TUẤN ANH
6
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 9 of 126.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Footer Page 9 of 126.
PHẠM TUẤN ANH
7
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 10 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
nghiệm về quản lý và sử dụng nguồn nhân lực ở các nước trên thế giới là bài học
quý báu cho chúng ta trong việc khai thác tiềm năng của nguồn nhân lực nước ta.
* Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam.
Từ thực tế phát triển xã hội của nước ta những năm qua cùng với kinh
nghiệm của các nước đi trước đã chỉ ra rằng việc đầu tư vốn và công nghệ sẽ không
hiệu quả nếu không có nguồn nhân lực tương xứng với các yêu cầu của phát triển.
Xuất phát từ thực tế cũng như xu hướng đầu tư và phát triển của các nước
trên thế giới, bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, mà đặc biệt
là từ Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn vai trò của
nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế xã hội. Từ đó đến nay, Đảng ta luôn coi
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đảng ta đã khẳng
định: Nâng cao dân chí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt
Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Chính vì thế, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất, “quý báu nhất,
có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực
vật chất còn hạn hẹp”.Trước đây, Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú “rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu”, nhưng trải qua gần 100
phát triển kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới có nguy
cơ sẽ ngày càng xa. Vì vậy, chúng ta phải tranh thủ lợi thế của người đi sau là có thể
học tập kinh nghiệm của các nước đi trước để có thể rút ngắn được khoảng cách tụt
hậu đó. Theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, chúng ta cần nhanh chóng chuyển giao
công nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ hiện đại để có thể đi trước đón đầu,
nhanh chóng bắt kịp các nước. Để có thể thực hiện chuyển giao công nghệ một cách
có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải có một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, đội
ngũ cán bộ khoa học có trình độ. Điều đó có nghĩa là kết quả chuyển giao công
nghệ phụ thuộc một cách trực tiếp vào chất lượng của nguồn nhân lực hay nguồn
nhân lực là nhân tố cơ bản quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước. Với trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, chúng ta có thể
khai thác các nguồn tài nguyên trong nước vào phát triển sản xuất kinh doanh đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh yếu tố khoa học công nghệ, nguồn nhân lực Việt
Nam sẽ có thể thu hút được các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để khắc phục tình
trạng thiếu vốn ở trong nước, đồng thời tổ chức quản lý và sử dụng các nguồn vốn
đó một cách hiệu quả. Từ cách nhìn nhận trên có thể thấy nguồn nhân lực đóng một
vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta
trong thời kỳ mới. Nhiệm vụ của chúng ta là phải không ngừng nâng cao chất lượng
để có thể phát huy vai trò to lớn đó của nguồn nhân lực.
Footer Page 11 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
9
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 12 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
người Mỹ Philip B. Crosby nhận mạnh: “Chỉ có thể tiến hành có hiệu quả công tác
Footer Page 12 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
10
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 13 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá khi có quan niệm đúng đắn chính xác về chất
lượng”. Chất lượng của sản phẩm hàng hoá đã trở thành mối quan tâm của nhiều
người, nhiều ngành. Có thể tổng hợp ra mấy khuynh hướng sau:
- Khuynh hướng quản lý đề xuất: “Chất lượng của một sản phẩm nào đó là
mức độ mà sản phẩm ấy thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay
những qui định riêng cho sản phẩm ấy”.
- Khuynh hướng thoả mãn nhu cầu theo quan điểm của tổ chức kiểm tra chất
lượng Châu Âu (European Organisation Quality Control): “Chất lượng của sản
phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của
người sử dụng”. - Theo J. Juran (Mỹ): “Chất lượng sản phẩm là sự thoả mãn nhu
cầu thị trường với chi phí thấp nhất”.
- Theo ISO 8402- 86 “Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc điểm,
những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều
kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng, tên gọi của sản phẩm”.
- Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814- 94 “Chất lượng là tổng hợp các đặc tính
của một thực thể, tạo cho đối tượng đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra
hoặc tiềm ẩn”. Chất lượng của một sản phẩm là trình độ mà sản phẩm ấy thể hiện
các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể. Hay nói
một cách khác, chất lượng của sản phẩm, hàng hoá vừa có tính chủ quan, vừa có
tính khách quan. Quan niệm CLSP hàng hoá như vừa nêu trên thể hiện một lập luận
khoa học toàn diện về vấn đề khảo sát chất lượng, thể hiện chức năng của sản phẩm
trong mối quan hệ: “Sản phẩm - xã hội - con người”.
Khi nghe đến chữ “chất lượng” ta thường nghĩ đến sản phẩm và dịch vụ hảo
hạng đạt được bằng hay hơn điều mong đợi của người mua. Khi một sản phẩm vượt
quá sự mong đợi thì ta coi sản phẩm này là có chất lượng.
1.2.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
* Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chỉ trên cơ sở xác
định đầy đủ các yếu tố mới đề xuất được những biện pháp để không ngừng nâng
cao CLSP và tổ chức quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất kinh doanh.
* Mỗi ngành sản xuất kinh doanh có những đặc điểm riêng, tuy nhiên có thể
phân loại một số yếu tố cơ bản sau:
1) Một số yếu tố ở tầm vi mô.
- Nhóm yếu tố nguyên vật liệu: (Materials)
Đây là yếu tố cơ bản đầu vào có ảnh hưởng quyết định đến CLSP. Muốn có
sản phẩm đạt chất lượng cao thì điều trước tiên nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm
cũng phải đảm bảo về yêu cầu chất lượng. Phải đảm bảo cung cấp cho cơ sở sản
xuất những nguyên vật liệu đúng số lượng, đúng chất lượng, đúng kỳ hạn. Có như
vậy cơ sở sản xuất mới chủ động được quá trình sản xuất và kế hoạch chất lượng.
- Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị: (Machines)
Footer Page 14 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
12
CAO HỌC QTKD 2010B
những chủ trương, những chính sách đúng đắn về CLSP.
• Đối với CBCNV trong một đơn vị kinh tế phải có nhận thức rằng việc nâng
cao CLSP là trách nhiệm và là niềm vinh dự của mọi thành viên, là sự sống còn, là
Footer Page 15 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
13
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 16 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
quyền lợi cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp và cũng là chính
của bản thân mình. Trong phạm vi một Doanh nghiệp việc khảo sát một yếu tố ảnh
hưởng đến CLSP theo sơ đồ:
qui tắc 4M:
(MATERIALS)
Nguyên vật liệu,
năng lượng
(MEN)
(MACHINES)
Lãnh đạo, CBCNV,
• Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thể của nền
kinh tế cụ thể ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khả năng cung ứng của sản
xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước.
• Nhu cầu của thị trương rất đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại….
Nhưng khả năng của nền kinh tế thì có hạn: Tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ kỹ
thuật công nghệ đổi mới trang thiết bị, kỹ năng, kỹ xảo của CBCNV… như vậy,
chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng thực hiện của toàn bộ nền
kinh tế.
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật:
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học
kỹ thuật hiện đại trên quy mô toàn thế giới. Cuộc cách mạng này đã và đang thâm
nhập, chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người, Chất lượng bất
kỳ một sản phẩm nào cũng gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại, chu
kỳ công nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càng
phong phú và đa dạng. Song cũng chính vì vậy mà con người không bao giờ thoả
mãn với chất lượng hiện tại, mà thường xuyên theo dõi biến động của thị trường về
đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu, kỹ thuật - công nghệ thiết bị … để điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao CLSP, phát triển doanh nghiệp
- Hiệu lực của cơ chế quản lý:
• Trong nền kinh tế thị trường với sự điều tiết quản lý của Nhà nước, sự quản
lý ấy được thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật - hành chính - xã hội…
cụ thể hóa bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, nâng cao CLSP, hướng
dẫn tiêu dùng tiết kiệm ngọai tệ như: chính sách đẩu tư vốn, chính sách giá, chính
sách về thuế, tài chính, chính sách hỗ trợ, khuyến kích của Nhà nước đối với một số
doanh nghiệp.
• Hiệu lực của cơ chế quản lý là đòn bẩy trong việc quản lý CLSP, đảm bảo
cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất
và người tiêu dùng. Mặt khác, hiệu lực của cơ chế quản lý còn đảm bảo sự bình
Footer Page 17 ofPHẠM
thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các nhóm yếu tố: Sức khỏe (nhân trắc, độ
lớn và mức độ dai sức…), trình độ (kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý,
mức độ cố gắng… Trong kinh tế thị trường không cần có biên chế, nhân lực của
doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành các loại khả năng lao động của những người
giao kết, hợp đồng làm việc cho doanh nghiệp. Các loại khả năng lao động đó phù
hợp với nhu cầu đến đâu, đồng bộ từ khâu lo đảm bảo việc làm, lo đảm bảo tài
chính, lo đảm bảo công nghệ, lo đảm bảo vật tư, lo tổ chức sản xuất… đến đâu chất
lượng nhân lực của doanh nghiệp cao đến đó, mạnh đến đó.
Footer Page 18 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
16
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 19 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Nếu coi con người (nhân lực) như là một loại sản phẩm đặc biệt vì thực chất
con người là một thực thể (sản phẩm) của tự nhiên - xã hội; thì từ định nghĩa về
CLSP và định nghĩa về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở trên ta có thể
có khái niệm về Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là là một phạm trù kinh
tế phức tạp. Có thể hiểu chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là khả năng thỏa
mãn nhu cầu sử dụng nhân lực. Do đó ta có định nghĩa về CLNL như sau: “ Chất
lượng nhân lực là mức độ đáp ứng , phù hợp của các lọai nhân lực thực có so
với nhu cầu (yêu cầu) nhân lực cần phải có cho việc thực hiện, hoàn thành các
nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp “. Nguồn [4 Tr 8]
Đối với doanh nghiệp, chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng, phù hợp của
những nguồn tài nguyên khác, nên hiệu suất của nhân lực là một nhân tố quan trọng
quyết định hiệu quả của tổ chức.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp. Áp
dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất của các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần thấy rằng:
Thứ nhất: máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo ra. Nếu
không có lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó.
Thứ hai: máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình
độ tổ chức, trình độ kỹ thuật của người lao động.
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp nhập tràn lan thiết bị hiện đại của nước
ngoài nhưng do trình độ sử dụng yếu kém nên vừa không đem lại năng suất cao lại
vừa tốn kém tiền của cho sửa chữa, kết cục là hiệu quả kinh doanh thấp.
Trong sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng
tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho
việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản
phẩm mới có kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản
phẩm (dịch vụ) của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình
độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu...) nên tác động
trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học kết tinh
trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng phải là lực lượng rất tinh nhuệ,
có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Điều này càng khẳng định vai trò ngày càng quan
trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Nói cách khác, chất xám (năng lực lao động) luôn cần thiết để nâng cao
năng suất lao động và hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp .
Như vậy, chất lượng nhân lực của doanh nghiệp quyết định chất lượng của
các yếu tố đầu vào, chất lượng của các sản phẩm trung gian, chất lượng của sản
• Nếu yếu tố nhân lực đầu vào là yếu tố cơ bản quyết định đặc tính vốn có và
CLNL của doanh nghiệp thì yếu tố công nghệ kỹ thuật thiết bị lại có tầm quan trọng
đặt biệt, có tác dụng việc hình thành CLNL của doanh nghiệp.
• Trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp điều cần thiết là
phải nắm đặc tính vốn có của nguồn nhân lực đầu vào. Song trong quá trình tổ chức
thực hiện, khảo sát CLNL theo mức độ phối hợp trong công việc là điều quan trọng
để cải tiến sáng kiến kỹ thuật - công nghệ, hợp lý hoá sản xuất - kinh doanh, tăng
cường quản lý nhằm không ngừng nâng cao CLNL của doanh nghiệp.
Footer Page 21 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
19
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 22 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
• Nhìn chung CLNL của doanh nghiệp hiện đại phải có cơ cấu gọn nhe, linh
hoạt, khả năng thích ứng cao trong điều kiện thay đổi… đảm bảo thỏa mãn toàn
diện các yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
• Công nghệ: Quá trình công nghệ có ảnh hưởng đến CLNL của doanh
nghiệp. Đây là quá trình phức tạp vừa làm thay đổi, cải thiện nhiều đặc tính ban đầu
của nguồn nhân lực theo hướng sao cho phù hợp với nhu cầu về nguồn nhân lực đặc
trưng của doanh nghiệp.
• Bằng nhiều tác động khác nhau: kỹ thuật, quy trình công nghệ…đã tạo nên
sự thay đổi về phong cách, kỹ năng, đặc tính của nguồn nhân lực đầu vào để đảm
bảo CLNL của doanh nghiệp theo mẫu thiết kế (hoạch định nguồn nhân lực).
quyền lợi cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp và cũng là chính
của bản thân mình.
2)Một số yếu tố ở tầm vĩ mô.
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là kết quả của quá trình thực hiện một
số biện pháp tổng hợp: kinh tế - kỹ thuật - hành chính - xã hội…. Những yếu tố vừa
nêu trên mang tính chất của lực lượng sản xuất. Nếu xét về quan hệ sản xuất thì
CLNL của doanh nghiệp lại còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố sau:
- Nhu cầu của nền kinh tế:
• Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp chịu sự chi phối của các điều
kiện cụ thể của nền kinh tế cụ thể ở các mặt: mặt bằng giá lao động của thị
trường, trình độ, khả năng duy trì nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chính sách
kinh tế của Nhà nước.
• Nhu cầu của thị trường rất đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại
nguồn nhân lực…. Nhưng khả năng cung ứng nguồn nhân lực của nền kinh tế thì có
hạn: về ý thức tác phong công nghiệp, về trình độ văn hoá, kỹ thuật, chuyên môn
nghiệp vụ, tay nghề… như vậy, CLNL của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào khả
năng thực hiện của toàn bộ nền kinh tế.
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật:
Chất lượng nhân lực của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng gắn liền với sự
phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại, cũng chính vì vậy mà mọi doanh nghiệp
không bao giờ thoả mãn với CLNL hiện tại, họ thường xuyên theo dõi biến động
của thị trường về đổi mới của khoa học kỹ thuật để điều chỉnh kịp thời nhu cầu
nguồn nhân lực qua đó thực hiện các chính sách mới nhằm nâng cao CLNL của
doanh nghiệp.
- Hiệu lực của cơ chế quản lý:
• Trong nền kinh tế thị trường với sự điều tiết quản lý của Nhà nước, sự quản
lý ấy được thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật - hành chính - xã hội…
cụ thể hóa bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, phát triển nguồn nhân lực,
nâng cao CLSP, hướng dẫn tiêu dùng tiết kiệm ngọai tệ như: chính sách đẩu tư vốn,
động tích cực vào các yếu tố ảnh hưởng đến CLNL của doanh nghiệp.
1.3. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC HIỆN CÓ CỦA
DOANH NGHIỆP.
Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp hoạt động là vận dụng các nguồn lực
giành giật với các đối thủ các yếu tố đầu vào, phần nhu cầu thị trường, lợi nhuận,
các lợi ích từ hoạt động kinh doanh nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển.
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành một loạt các hoạt
động một cách khoa học nhất. Công việc nào cũng do con người đảm nhiệm, hoạt
động nào của doanh nghiệp do con người tiến hành.
Footer Page 24 ofPHẠM
126. TUẤN ANH
22
CAO HỌC QTKD 2010B
Header Page 25 of 126.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC
Sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp do một đội ngũ người lao động lo liệu tạo
ra. Đa số người lao động ở doanh nghiệp chỉ thực hiện nhiệm vụ được giao một
cách say mê, sáng tạo khi họ có trình độ cao và được tạo động cơ, tức là khi có cơ
chế, chính sách sử dụng hấp dẫn, đảm bảo hài hòa lợi ích. Khi đông đảo người lao
động làm việc say mê, sáng tạo sản phẩm của doanh nghiệp mới có vị thế cạnh
tranh tốt về chất lượng, giá, thời hạn, thuận tiện so với các đối thủ cạnh tranh. Khi
sản phẩm đầu ra có vị thế cạnh tranh tốt doanh nghiệp có doanh thu bằng các đối
thủ nhưng có tổng chi phí của doanh thu đó thấp hơn hoặc với cùng chi phí doanh