Phát triển kinh tế biển hải phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế tt - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN TUẤN SƠN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số

: 60.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN

Phản biện 1: TS. Lê Anh Vũ
Phản biện 2: TS. Hoàng Ngọc Hải

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học Xã hội... giờ..….ngày.…..tháng…..năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại:


1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, có khá nhiều hội thảo, bài báo, các công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế biển được tổ
chức, công bố. Có thể điểm qua như sau:
- Thông tin chuyên đề số 08, ngày 25/12/2006 của văn phòng
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về "Chiến lược và mô hình
quản lý biển của một số nước".
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2010) về “Chiến lược biển
Việt Nam: Từ quan điểm tới thực tiễn”.
- Tạp chí Cộng Sản số 20, ngày 25/9/2007 "Về kinh tế biển".
- Nguyễn Chu Hồi (Chủ biên): Tầm nhìn kinh tế biển và phát
triển ngành thủy sản, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, Hà Nội, 2007.
- Trong tháng 9/2008, Hội thảo “Điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển và phát triển bền vững”. Trong đó đã nêu rõ vị trí,
vai trò của Hải Phòng trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền
vững của nước ta, cùng một số giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế
biển ở Hải Phòng.
- PGS. TS. Trần Đình Thiên, trong bài viết “Về chiến lược
kinh tế biển của Việt Nam” (Trần Đình Thiên, Báo Tia Sáng, ngày
12/8/2011), đã nêu rõ: đã đến lúc cần có những đột phá mới trong tư
duy và chiến lược quản lý để phát triển kinh tế biển.
- PGS. TS. Bùi Tất Thắng đã có nhiều bài viết về kinh tế
biển.
- Nguyễn Chu Hồi: “Kinh tế biển xanh: Lý luận và thực tiễn
đối với Hải Phòng 2014”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, số 7-2014, tr
32-35; và “Sử dụng hợp lý vùng bờ biển từ góc nhìn phát triển hệ
thống cảng Hải Phòng”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, số 3-2014,

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3


Đối tượng nghiên cứu: Là nghiên cứu các vấn đề về lý luận
và thực tiễn phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng trong bối cảnh hội
nhập quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu là tập trung nghiên cứu vào quá trình
phát triển các ngành như: Kinh tế hàng hải, thủy sản, Du lịch biển,
Khu kinh tế, công nghiệp và đô thị ven biển trong giai đoạn từ năm
2009 đến nay. Từ đó, đề xuất những phương hướng, giải pháp cho
giai đoạn 2016 - 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên khung lý thuyết đó, quá trình nghiên cứu có sử dụng
các phương pháp nghiên cứu, cụ thể sau:
- Phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, logic, hệ thống để
nghiên cứu các vấn đề lý thuyết; đối sánh để nghiên cứu kinh nghiệm
của một số địa phương trong nước và nước ngoài.
- Phương pháp sơ đồ, tổng hợp dựa trên dữ liệu thống kê chính
thức và các báo cáo của ngành, địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Trình bày một cách khái quát nhất những lý luận và thực tiễn
các vấn đề phát triển kinh tế biển Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập
quốc tế trên cơ sở tìm hiểu cụ thể về từng lĩnh vực kinh tế biển.
- Đưa ra những phân tích, đánh giá khách quan quá trình phát
triển kinh tế biển Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay.
- Luận văn đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể, khả
thi để phát triển kinh tế biển Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc
tế.

biển và các dịch vụ hàng hải khác; (3) Du lịch biển và kinh tế
đảo; (4) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (5) Phát triển, nghiên
cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và

5


phát triển kinh tế biển; (6) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
biển.
1.1.3. Vai trò của phát triển kinh tế biển
Phát triển kinh tế biển có vai trò hết sức quan trọng đối với
Việt Nam, cũng như các quốc gia biển trên thế giới.
1.1.4. Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một chủ trương nhất quán và là nội dung
trọng tâm trong chính sách đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế của
Đảng ta trong quá trình đổi mới đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế
đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước, giúp mở
rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa và sản phẩm của Việt Nam;
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải thiện môi trường kinh doanh,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm.
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế vẫn còn nhiều tồn tại, nhất là hiệu
quả hội nhập còn thấp; ký kết nhiều cam kết quốc tế nhưng quá trình
đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế,
quá trình chuẩn bị của các tổ chức và cá nhân, nhất là của doanh
nghiệp trong nước không theo kịp với lộ trình và mức độ cam kết
quốc tế; chưa tận dụng triệt để và có hiệu quả các luật lệ; chưa xây
dựng được các chiến lược đối phó với rủi ro và các cú sốc khi hội
nhập sâu hơn; chưa chú trọng đúng mức việc thúc đẩy hội nhập trong
nước, gia tăng liên kết vùng miền, “đa dạng hóa, đa phương hóa các
quan hệ đối ngoại” chưa được quán triệt sâu sắc, tình trạng phụ thuộc

tranh chấp trên biển đang trở thành vấn đề thời sự quốc tế do vậy để
khai thác tài nguyên và lợi thế từ biển, hình thành nền kinh tế biển
với quy mô lớn và trình độ phát triển cao sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận
mới cùng những năng lực mới, phương thức phát triển mới, với cơ
chế vận hành, điều hành mới.

7


1.2.2.3. Ảnh hương của biến đổi khí hậu trên toàn cầu: Biến đổi khí
hậu và nước biển dâng sẽ làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn
cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nhiều nguồn nước
ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của cộng
đồng dân cư, gây rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển
như đê biển, giao thông, bến cảng, các khu đô thị ven biển…
1.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển trong và ngoài nước
1.3.1. Kinh tế biển Quảng Ninh
Sau gần 10 năm triển khai thực hiện phát triển kinh tế biển,
tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả tích cực như:
* Kinh tế hàng hải
Năm 2015, khối lượng hàng hóa thông qua cảng đạt trên 53
triệu tấn/năm. Việc phát triển hệ thống cảng biển Quảng Ninh đang
theo đúng quy hoạch.
* Kinh tế thủy sản
+ Nuôi trồng thủy sản. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm
2015 đạt: 20.667 ha. Diện tích giữ mức ổn định, trong cơ cấu có sự
chuyển đổi hình thức quảng canh cải tiến sang thâm canh và bán
thâm canh ở một số đối tượng chủ yếu là tôm chân trắng; Sản lượng
nuôi trồng thủy sản năm 2015 đạt 46.287 tấn.
+ Sản lượng và cơ cấu tàu thuyền khai thác. Cơ cấu nghề

Phát triển cảng biển và vận tải biển là một ngành kinh tế mũi nhọn ở
Singapore. Hệ thống cảng biển của Singapore đã phát triển trong
nhiều năm và có truyền thống về dịch vụ, chất lượng phục vụ, điều
hành và quản lý hệ thống cảng. Cảng biển có vai trò then chốt trong
lĩnh vực vận tải của Singapore trong thương mại toàn cầu. Singapore
đã ưu tiên phát triển Trung tâm Hàng Hải Quốc tế - IMC
(International Marintime Center) nơi mà có hệ thống cầu cảng đồng
bộ với các dịch vụ cần thiết phục vụ cho các hoạt động liên quan tới

9


tàu biển, thương mại và dịch vụ hậu cần. Đây là một hệ thống đồng
bộ về dịch vụ biển với sự đa dạng phong phú như dịch vụ cho các
chủ tàu, cho thợ máy và những người chơi thuyền khác.
Trong vài thập kỷ qua, Singapore song hành cùng Hồng Kông đã và
đang thống trị trong danh sách những cảng biển container nhộn nhịp
nhất thế giới. Để làm được điều này, Singapore đã ưu tiên vào việc
ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và khai thác
biển. Tóm lại, để trở phát triển cảng biển và vận tải biển trở thành
cảng tiến tiến, hiện đại vào bậc nhất trên thế giới, Singapore đã tận
dụng tốt vị thế của mình và có những chính sách, chiến lược đầu tư
đổi mới quản lý hoạt động hàng hải đúng đắn, hiệu quả.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm
- Hải Phòng cần phát huy lợi thế hơn hẳn về vị thế tự nhiên để phát
triển một cách toàn diện, trọng tâm một số ngành công nghiệp và
dịch vụ quan trọng, như: vận tải biển, dịch vụ cảng, giáo dục-đào tạo,
y tế, chuyển giao công nghệ, bưu chính-viễn thông; đồng thời cần tận
dụng mọi khả năng, phối hợp hiệu quả với các địa phương lân cận
như Quảng Ninh, Hải Dương…

quanh các đảo khơi. Hai khu du lịch biển cấp quốc gia là Đồ Sơn và
Cát Bà, cùng hai huyện đảo Bạch Long Vĩ và Cát Bà, Hải Phòng có
đầy đủ các lợi thế về tự nhiên để phát triển kinh tế biển.
2.1.1.4. Tài nguyên, khoáng sản
Tài nguyên biển là một trong những nguồn tài nguyên quí hiếm
của Hải Phòng với rất nhiều loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển
có giá trị kinh tế cao như tôm rồng, tôm he, cua bể, đồi mồi, sò huyết,
cá heo, ngọc trai, tu hài, bào ngư... Biển Hải Phòng có nhiều bãi cá,
lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ với độ rộng trên 10.000
hải lý vuông, trữ lượng cao và ổn định.

11


2.1.2. Các chính sách liên quan tới phát triển kinh tế biển
của Việt Nam
- Hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển kinh tế biển đã được
ban hành: Quốc hội đã ban hành hệ thống các văn bản luật có liên
quan đến phát triển kinh tế biển, với những quy định về nguyên tắc,
cơ chế đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội liên quan đến phát triển kinh tế biển như: Luật Biển Việt Nam,
Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách, Luật Tài nguyên, môi trường
biển và hải đảo, Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, Luật Thủy sản, Luật
Du lịch, Luật Dầu khí ….
- Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế biển: Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 30/9/2010
về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển
bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 và Quyết định
số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 về Ban hành nguyên tắc, tiêu
chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà

thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày
12/11/2015).
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế biển Hải Phòng
2.2.1. Kinh tế hàng hải
2.2.1.1. Cảng biển và dịch vụ cảng biển
Trong những năm qua, hệ thống cảng Hải Phòng đã không ngừng
phát triển cả về số lượng và chất lượng, phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước và thành phố. Trong
vòng 05 năm trở lại đây mức tăng trưởng tổng sản lượng thông qua
cảng ước tăng trưởng bình quân 12,72%/năm, sức vươn của cảng Hải
Phòng đã đóng góp nguồn lợi to lớn cho đất nước. Lượng hàng qua

13


cảng tăng kỷ lục, vượt xa dự báo là sự khẳng định.
Bảng 2. 1: Sản lượng hàng hóa thông qua cảng Hải Phòng

2.2.1.2. Vận tải biển
Dịch vụ tàu lai dắt hỗ trợ tàu biển: có 12 đơn vị quản lý, khai thác sử
dụng tàu lai với tổng số 38 chiếc. Đội ngũ tàu lai đều có khả năng và
năng lực hỗ trợ các tàu quay trở ra vào cập bến và lai dắt trong vùng
nước cảng biển Hải Phòng an toàn cho tàu trọng tải đến 53.000DWT.
2.2.1.3. Sửa chữa và đóng mới tàu
Ngành công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thủy phương tiện nổi đã có
bước phát triển mạnh, hạ thủy thành công nhiều tàu có trọng tải lớn
như tàu hàng 56.200 DWT, tàu dầu 13.500 DWT, tàu container l.700
TEU và kho nổi chứa dầu 150.000 DWT. Năng lực đóng mới toàn
ngành đạt trên 1.000.000 DWT/năm và có thể sửa chữa hàng trăm

Việc hình thành các khu công nghiệp, đô thị ven biển như Khu kinh
tế Đình Vũ – Cát Hải, Khu đô thị mới Bắc sông Cấm, Khu đô thị
công nghiệp và dịch vụ VSIP Hải Phòng, Khu CN Nam Đình Vũ, các
dự án phát triển dịch vụ du lịch và vui chơi giải trí như Khu vui chơi,
giải trí nhà ở và công viên sinh thái đảo Vũ Yên, Khu du lịch và nghỉ
dưỡng cao cấp Hòn Dấu…cùng nhiều dự án với quy mô đầu tư lớn,
có ý nghĩa không chỉ là trọng điểm trong việc phát triển không gian
đô thị của Hải Phòng, mà còn mang tầm chiến lược cấp vùng và quốc
gia; sẽ thu hút lao động, làm dịch chuyển mạnh mẽ cơ cấu kinh tế
sang nhóm ngành công nghiệp - dịch vụ (đặc biệt là cảng biển, công
nghiệp cao, nghỉ dưỡng, du lịch biển), tạo động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội cho thành phố.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.2.2.1. Tác động của hội nhập kinh tế tới phát triển kinh tế biển Hải
Phòng
-

Nhờ việc ký kết các hiệp định thương mại tự do như: FTA

với Hàn Quốc, Liên Minh Kinh Tế Á Âu (EEU) cùng với triển vọng
hoàn thành TPP sẽ cho phép thành phố mở rộng thêm quy mô sản
xuất, phát triển nhiều sản phẩm mới, thúc đẩy việc xuất khẩu các
nhóm ngành chủ lực, tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa thông qua Cảng Hải Phòng được kỳ vọng tiếp tục tăng
trưởng cao hơn.
-

Nguồn vốn FDI chảy vào các lĩnh vực xuất khẩu sẽ gia tăng

nhu cầu các dịch vụ kho bãi, bốc dỡ và vận chuyển.

hậu cần thủy sản; hoạt động nạo vét, nhận chìm và đổ thải và do hoạt
động du lịch, dịch vụ trên các đảo và ven đảo,...
- Ngành thủy sản vẫn còn hạn chế ở cả ba lĩnh vực, chưa phát huy lợi
thế, khai thác xa bờ yếu, nuôi biển và nuôi công nghiệp chưa mạnh,
chế biến chưa gắn với phát triển nguồn nguyên liệu, thương hiệu. Du
lịch phát triển chậm, hạ tầng thiếu, yếu.
2.2.2.3. Nguyên nhân
- Xuất phát từ những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và
trong nước, biến đổi khí hậu. Việc thực hiện công tác hội nhập quốc
tế đối với quá trình phát triển kinh tế biển còn nhiều lung túng, đặc
biệt trong việc xử lý các vấn đề như: mở cửa cho các nhà đầu tư nước

17


ngoài trong các lĩnh vực, hoạt động về biển đảo…Hệ thống cơ chế,
chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế biển còn chưa thống
nhất, đồng bộ, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế.
Thiếu nhạy bén và khả năng về cung ứng vốn, chưa có nhiều sự liên
kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực phục vụ cho
phát triển kinh tế biển của Hải Phòng có chất lượng chưa cao, chưa
có khả năng cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1. Quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển kinh
tế biển Hải Phòng
3.1.1. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và những thách
thức đối với quá trình phát triển kinh tế biển Hải Phòng
- Tranh chấp chủ quyền lãnh hải (chủ quyền biển đảo) gia tăng

và phương tiện nổi;(4) Kinh tế thủy sản; (5) Du lịch biển và (6) Phát
triển các huyện đảo.
3.2. Giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế biển Hải Phòng
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
3.2.1. Giải pháp về công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã
hội, quy hoạch không gian biển phục vụ phát triển các ngành, lĩnh
vực kinh tế biển
Các ngành kinh tế biển của Hải Phòng (hàng hải, du lịch, thủy sản,
nhân lực biển…) cần rà soát lại quy hoạch, kế hoạch, dự báo sự phát
triển của ngành, lĩnh vực qua từng năm cụ thể và cân đối lại các điều
kiện sẵn có, cơ hội và thách thức của ngành để điều chỉnh, bổ sung
quy hoạch bảo đảm sự gắn kết với nhau và với quy hoạch tổng thể
phát triển KT-XH của thành phố trong bối cảnh hội nhập.

19


3.2.2. Hoàn thiện môi trường đầu tư, thu hút những nguồn
lực lớn
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp, các nhà đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn
lớn trong và ngoài nước như: Vingroup, SunGroup, FLC, Him Lam,
Xuân Trường, Xuân Thành… đến với vùng ven biển, hải đảo; tạo
điều kiện thuận lợi (thuế, giá thuê đất, dịch vụ hạ tầng, thủ tục hành
chính…), tháo gỡ khó khăn đối với các doanh nghiệp. Huy động, thu
hút mọi nguồn lực đầu tư:
- Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư có trọng điểm;
- Vốn FDI và thu hút vốn ODA vào hệ thống cơ sở hạ tầng
quan trọng;
- Vốn từ các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh, thương

luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta,
kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển đảo Việt Nam đã ký
kết với quốc tế.
3.2.6. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường biển
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường biển; Bảo
tồn và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường biển;
Tăng cường kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển.
3.2.7. Nâng cao hiệu quả đối ngoại và hội nhập quốc tế
Nghiên cứu, khai thác những cơ hội phát triển mới được tạo ra
bởi các cam kết hội nhập quốc tế, trong khuôn khổ Cộng đồng
ASEAN, Hiệp định đối tác TPP và các Hiệp định thương mại tự do
đã ký kết. Thường xuyên tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư vào
các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế biển của thành phố, nâng
cao tỷ lệ nội địa hóa, sức cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ biển,
góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh về biển. Quan

21


tâm thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế biển.
KẾT LUẬN
Với những điều kiện thuận lợi, Hải Phòng đang từng bước xây
dựng và phát triển thành thành phố cảng văn minh, hiện đại, đầu mối
giao thông quan trọng, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; từng
bước trở thành một Trung tâm công nghiệp, dịch vụ hàng hải và vận
tải biển lớn của Việt Nam..., là “bàn đạp” tiến ra biển, là hậu phương
hỗ trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế biển,
hải đảo, một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng, an ninh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status