Quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã theo pháp luật hợp tác xã từ thực tiễn tỉnh sóc trăng (tóm tắt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH MINH TRẠCH

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HỢP TÁC XÃ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH SÓC TRĂNG

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số
: 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên

Phản biện 1: TS. Đặng Vũ Hưng
Phản biện 2: TS. Phạm Kim Anh

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 00 ngày 04 tháng 5 năm
2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội



lợi và nghĩa vụ của xã viên HTX được pháp luật qui định như thế
nào mà không thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân
vào loại hình kinh tế này? Và đây cũng là lý do mà tôi chọn chủ đề
“Quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX theo pháp luật Hợp tác xã
từ thực tiễn tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học
chuyên ngành luật kinh tế tại Học viện khoa học xã hội cho khóa học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, HTX luôn là chủ đề được quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, từ lĩnh vực kinh tế, chính trị,…đến luật
học trong và ngoài nước, một số công trình nghiên cứu liên quan tới
bài viết này trong những năm gần đây có một số công trình tiêu biểu
như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
* Chế độ pháp lý xã viên HTX – Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn cao học Luật, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Đại học luật Hà
Nội,1997
* Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi
HTX, Luận văn cao học Luật, Hoàng Thị Vinh, Đại học luật Hà Nội,
1999
* Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các HTX, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trần Thị Thơ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
* Khung khổ pháp lý và kinh nghiệm phát triển HTX của một
số nước, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2006.
* Đổi mới cơ chế quản lý HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Luận văn cao học, Vũ Mạnh Nam, Đại học luật Hà Nội, 2010

2



* Khảo sát và thăm dò ý kiến xã viên, lãnh đạo HTX và các
tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng về quyền và nghĩa vụ của
xã viên cũng như những vướng mắc làm họ chưa hài lòng về loại
hình kinh tế này.
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rỏ các mục tiêu đặt ra, bài nghiên cứu sẽ trả lời các câu
hỏi sau:
* HTX và các loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp
khác nhau như thế nào?
* Quyền và nghĩa vụ xã viên HTX khác quyền và nghĩa vụ
thành viên các loại hình doanh nghiệp khác như thế nào?
* Tại sao HTX không thu hút được sự quan tâm của các tầng
lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế hộ?
* Tại sao hiệu quả hoạt động của HTX ngày càng giảm sút,
trong khi đó nó được Nhà nước hỗ trợ từ cơ chế đến các nguồn lực
vật chất khác?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: quyền và nghĩa vụ của xã viên của
HTX theo pháp luật HTX.
* Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là HTX trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng, trong giai đoạn từ 2010 đến 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và phương pháp logic làm phương pháp luận cơ bản
và xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu của mình, cùng với một số
phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, cụ thể là:

4



Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của xã viên HTX
Chương 2: Thực tiễn thực hiện về quyền và nghĩa vụ của xã
viên trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và những giải pháp đảm bảo thực
hiện và hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp
tác xã ở Việt Nam hiện nay
Kết luận

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
1.1 Khái niệm, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của Hợp tác xã
1.1.1 Khái niệm
Theo điều 3 luật HTX hiện hành 2012 của Việt Nam thì HTX
được định nghĩa như sau:
HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nhân, do ít nhất 07 xã viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm
đáp ứng nhu cầu chung của xã viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX.
1.1.2 Vai trò
* Hợp tác, tương trợ trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm.
* Tận dụng quy mô sản xuất, nguồn vốn, áp dụng khoa học
công nghệ.
* Tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội.

khẳng định, Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp
tác và cạnh tranh theo pháp luật.
1.2.3 Cở sở pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên
Hợp tác xã
1.2.3.1 Cơ sở pháp lý quốc tế
* Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, XH và Văn hóa
* Khuyến nghị số 193 về khuyến trợ các HTX, 2002
* Tuyên bố về quy định về HTX 1995
8


1.2.3.2 Cơ sở pháp lý quốc gia
Việt Nam là một nước với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa,
với vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản việt nam về mọi
mặt đời sống xã hội, cho nên những quan điểm, nghị quyết, chỉ
thị,…của Đảng cộng sản việt nam cũng là cơ sở pháp lý quan trọng
trong việc nghiên cứu, phân tích để hoàn thiện pháp luật nói chung,
pháp luật HTX nói riêng.
* Nghị quyết số 13-NQ/TW
* Chỉ thị số 20 – CT/TW
* Kết luận số 56-KL/TW
1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ xã
viên Hợp tác xã
* Luật HTX phải đồng bộ và đầy đủ.
* Phổ biến pháp luật HTX
* Chế tài đủ mạnh
* Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.4 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã của các nước
* Kinh nghiệm của Hàn Quốc về phát triển HTX
* Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển HTX

trong đó: 86 HTX nông nghiệp tương đương 75%; 12 HTX tín dụng,
tương đương 10%; và các thành phần khác chiếm 17 HTX, chiếm
15%. Theo số liệu Niên giám thống kê 2008 của tỉnh Sóc Trăng thì
tại thời điểm năm 2008 trên địa bàn tỉnh có chỉ 26 HTX, nhưng đến
đầu năm 2015 thì số lượng HTX lên đến 115 HTX với số lượng là
28.612 xã viên, vốn điều lệ 90,452 tỷ đồng. Trong đó, 12 HTX Tín
dụng tương đương 10%, nhưng có tới 23,935 xã viên chiếm 84% xã
viên toàn tỉnh, vốn 21,7 tỷ đồng tương đương 24%. Còn lại 107 HTX
tương đương 90%, những chỉ có 4,677 xã viên tương đương 16%,
vốn 69 tỷ đồng tương đương 76%. Ngoại trừ các HTX tín dụng, các
HTX còn lại trung bình mỗi HTX có 43 xã viên, vốn 644 triệu đồng,
trong đó, HTX dưới 20 xã viên là 55 HTX tương đương 46%, vốn
dưới 150 triệu là 57 HTX tương đương 48%.
11


Tất cả số liệu trên cho thấy rằng, HTX trên địa bàn Sóc Trăng
còn nhỏ lẻ, yếu về vốn và ít về số lượng xã viên, chủ yếu tập trung
vào HTX tín dụng.
2.1.2 Thực trạng bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của
xã viên HTX trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Nhìn chung tất cả các quyền và nghĩa vụ của xã viên cơ bản đã
được thực thi đúng với tinh thần pháp luật của luật Hợp tác xã hiện
hành. Tuy nhiên qua khảo sát, thăm dò thực tế thì thấy có một số
quyền và nghĩa vụ của xã viên được quy định trong pháp luật hiện
hành nhưng chưa được các tầng lớp nhân dân đồng tình và hưởng
ứng, và theo nhận xét của những người được khảo sát cũng như tác
giả luận văn thì đây là một trong những nguyên nhân làm cho mô
hình kinh tế Hợp tác xã chưa được các tầng lớp dân cư đón nhận
rộng rãi. Cụ thể là:

Thứ ba là do ý muốn của xã viên là phân phối theo vốn góp.
- Ý kiến xã viên:
Đa số xã viên cho rằng, phân phối lợi nhuận theo vốn góp là
công bằng. Tại vì bản thân xã viên đã được ưu đãi trong việc sử dụng
sản phẩm dịch vụ rồi, thì không lý do gì tiếp tục được phân chia lợi
nhuận trong khi vốn góp là của người khác.
2.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
quyền và nghĩa vụ xã viên HTX
2.2.1 Phương hướng
Từ những kết quả khảo sát và phân tích trên cho thấy, những
quy định của luật HTX 2012 có những bất cập nhất định. Để loại
hình kinh tế HTX ngày càng phát triển và bền vững, thì cơ sở pháp lý
của chúng phải tuân theo quy luật chung của xã hội, nhưng để đảm
13


bảo HTX là công ty của nông dân và những người nghèo thì cần phải
có những quy định đặc thù và cụ thể để tạo sân chơi kinh doanh có
ưu thế đặc thù riêng cho loại hình kinh tế này. Từ đó, hướng hoàn
thiện pháp luật về HTX cần tập trung vào những yếu tố sau:
* Lấy lợi ích vật chất cá nhân của xã viên làm động lực phát
triển HTX.
* Lấy sự bình đẳng giữa các xã viên làm nền tảng cho hoạt
động của HTX, nghĩa là phát huy quyền biểu quyết ngang nhau của
xã viên, mỗi xã viên một phiếu biểu quyết.
* Tự do rút và chuyển nhượng vốn góp của xã viên cho những
người đủ điều kiện trở thành xã viên.
2.2.2 Giải pháp
* Phân phối lợi nhuận theo vốn góp
* Quyền biểu quyết theo đầu xã viên

để tăng quy mô của HTX thì luật HTX nên quy định nguyên tắc phân
chia lợi nhuận theo mức độ góp vốn.
* Về quyền chuyển nhượng hoặc rút một phần vốn góp: Nhằm
tạo điều kiện cho dòng vốn trong HTX luân chuyển nhanh và hiệu
quả, luật HTX nên quy định như sau:
Thứ nhất, xã viên được rút vốn góp ra khổi HTX miễn sao
phần còn lại không thấp hơn mức tối thiểu;
Thứ hai, xã viên được quyền chuyển nhượng một phần hoặc
toàn bộ phần vốn góp của mình cho xã viên khác hoặc người không
phải là xã viên nhưng có đủ điều kiện trở thành xã viên.

15


2.4.2 Kiến nghị về nghĩa vụ của xã viên
* Về nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX: Như
chúng ta đã biết, mục đích HTX ra đời là để hỗ trợ những khâu mà
cá nhân các xã viên không thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu
quả, điều đó có nghĩa là những sản phẩm dịch vụ mà HTX cung ứng
phải có ưu thế hơn so với thị trường. Hay nói cách khác, đương
nhiên xã viên sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX sẽ có chi phí thấp
hơn ngoài thị trường. Nếu xã viên sử dụng sản phẩm dịch vụ của
HTX mà cao hơn thị trường cung cấp thì việc thành lập HTX không
còn ý nghĩa nữa. Từ đó cho thấy việc ràng buộc xã viên phải có
nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX là phi lý. Còn nghĩa vụ
xã viên phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng là đương
nhiên, vì đó là nghĩa vụ dân sự khi tham gia hợp đồng dân sự, nên
không nhất thiết phải đưa vào trong nghĩa vụ của xã viên làm mất đi
tính nhân văn của HTX.
Kết luận chương 2

tất cả các nước trong đó có Việt Nam, muốn phát triển mô hình kinh
tế HTX thì ngoài việc hỗ trợ chính sách và hoàn thiện khung pháp lý
thì nhà nước còn phải hỗ trợ tiền của thông qua các chính sách như:
cho vay tín dụng ưu đãi, cho thuê đất không thu tiền, hỗ trợ cơ sở hạ
tầng .v.v. từ những ưu thế đó dẫn đến giá cung ứng sản phẩm dịch vụ
của HTX tương đối chấp nhận được, điều đó cùng với chính sách
phân phối lợi nhuận theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ dẫn đến
xã viên mua sản phẩm dịch vụ cho những người thân quen họ hàng
để được phân chia lợi nhuận, trong khi đó họ có dư tiền để gửi tiết
kiệm mà không muốn góp vốn vào HTX.
Thứ hai, do nguyên tắc dân chủ trong biểu quyết, mỗi xã viên
một phiếu biểu quyết mà không phụ thuộc vào mức vốn góp, nên
người góp nhiều và người góp ít có quyền ngang nhau nên những
người có tiền nhiều cảm thấy bất công nên họ không muốn góp vốn
thêm.
17


Thứ ba, do khi tham gia HTX thì không được chuyển nhượng
hay rút bớt phần vốn đã góp, còn việc rút khổi HTX cũng gồm gà,
chính điều này làm cho những người có tính linh hoạt trong kinh
doanh không tha thiết với việc góp vốn vào HTX.
Thứ tư, do hệ quả mang tính nhân – quả, HTX là công ty của
người nghèo và nông dân nên phần lớn xã viên là nông dân nên trình
độ còn hạn chế, kinh nghiệm kinh doanh thấp, số lượng xã viên ít, từ
đó khó chọn được người lãnh đạo HTX đủ tài năng để đưa hoạt động
HTX đạt hiệu quả cao, cho nên những xã viên có vốn nhàn rỗi cũng
thấy được nhược điểm này nên họ không muốn đặt cược cả gia sản ít
ỏi của mình cho những “doanh nhân chân đất”.
* Về chuyển nhượng vốn góp: Hầu như tất cả người được khảo

phân tích và khảo sát thực tế, cũng như tôn chỉ của HTX là nhằm
tương trợ lẩn nhau giữa các hộ sản xuất nhỏ lẻ và yếu thế, để phát
huy tính tập thể và quy mô, đó là mục đích ra đời của HTX thì
không có lý do gì được hưởng những ưu thế đó lại gọi việc sử dụng
sản phẩm, dịch vụ của Hợp tác xã là “nghĩa vụ”. Cho nên phải gọi là
“quyền sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên”, đã gọi là quyền thì
xã viên có quyền ký hay không ký hợp đồng với HTX về sử dụng
sản phẩm dịch vụ. Từ đây ta có thể bỏ luôn quy định tại mục e khoản
1 điều 16 quy định: Sẽ bị chấm dứt tư cách xã viên, nếu xã viên
không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy
định của điều lệ nhưng không quá 03 năm. Đối với HTX tạo việc
làm, xã viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định
của điều lệ nhưng không quá 02 năm.
* Vấn đề về góp vốn của xã viên: Vốn là yếu tố quan trọng
trong quá trình tồn tại và phát triển của mọi tổ chức kinh tế, HTX
cũng không ngoại lệ. Muốn HTX tồn tại và phát triển thì điều quan
trọng và tiên quyết là phải tạo điều kiện và khuyến khích xã viên góp
19


vốn vào HTX. Sự khuyến khích đó không phải bằng lời cổ vũ động
viên hay khoa trương sáo rổng, mà phải bằng những lợi ích thiết thực
theo những quy luật khách quan để tạo động lực cho xã viên sẳn sàng
tin tưởng và giao phó tài sản, vốn liếng của mình cho HTX sử dụng.
Như vậy, để khuyến khích xã viên góp vốn cũng như người khác
tham gia HTX thì một số yêu cầu cần thực hiện là:
Thứ nhất là phương thức phân chia lợi nhuận phải theo nguyên
tắc “mức độ góp vốn” chứ không theo mức độ sử dụng sản phẩm,
dịch vụ như luật HTX 2012 quy định.
Thứ hai là tạo điều kiện cho việc chuyển giao vốn trong HTX

định để HTX luôn là công ty của nông dân và người nghèo, và đây là
sự khác biệt mang tính đặc thù của HTX với những loại hình doanh
nghiệp khác.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status