I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN HONG DUY
NGHĩA Vụ CủA NGƯờI QUảN Lý CÔNG TY
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN HONG DUY
NGHĩA Vụ CủA NGƯờI QUảN Lý CÔNG TY
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGễ HUY CNG
H NI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI
QUẢN LÝ CÔNG TY ....................................................................... 5
1.1.
Quan niệm về nghĩa vụ ..................................................................... 5
1.2.
Mô hình quản trị công ty và ngƣời quản lý công ty ....................... 8
1.2.1.
Về mối quan hệ giữa công ty và người quản lý công ty ..................... 8
1.2.2.
Mô hình quản trị công ty ................................................................... 10
1.2.3.
Khái niệm người quản lý công ty ...................................................... 13
1.2.4.
Khái niệm nghĩa vụ của người quản lý công ty ................................ 20
1.3.
Kinh nghiệm pháp lý của một số nƣớc về nghĩa vụ của ngƣời
nghĩa vụ của ngƣời quản lý công ty ............................................... 67
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ
của ngƣời quản lý công ty ............................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật Dân sự
CTCP:
Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ:
Đại hội đồng cổ đông
HĐQT:
Hội đồng quản trị
HĐTV:
nghiệp năm 2014 đã có bước cải cách nhất định so với Luật Doanh nghiệp
năm 2005 liên quan tới nghĩa vụ của người quản lý công ty. Chế định này đã
được quan tâm hơn, dành nhiều dung lượng trong khuôn khổ một đạo luật
chung về doanh nghiệp. Tuy nhiên, còn có thể thấy ở đó nhiều khiếm khuyết
và khó có thể đi vào đời sống có lẽ bởi thiếu một nền tảng nghiên cứu chuyên
sâu. Trong khi đó ở nước ta hiện nay, hiện tượng làm ăn chụp giật và vấn đề
vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý công ty không thể không
nói là đang diễn ra khá phức tạp và gây ảnh hưởng rất xấu tới môi trường kinh
1
doanh. Vì vậy việc hoàn thiện các qui định pháp luật về nghĩa vụ của người
quản lý công ty hiện nay là một nhu cầu cấp thiết.
Bởi những lý do kể trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghĩa vụ của ngƣời quản
lý công ty theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định nghĩa vụ của người quản lý công ty là một chế định truyền
thống của luật công ty và được sử dụng rất nhiều trong thực tiễn tranh chấp
nội bộ công ty, nên thường được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu
về công ty nói chung và quản trị công ty nói riêng, cũng như trong quản trị
từng loại hình công ty cụ thể. Vì vậy có thể nói nghĩa vụ của người quản lý
công ty là đề tài nghiên cứu khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị
trường. Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu như như: “Business Law”
của các tác giả Keith Abbott, Norman Pendlebury và Kevin Wardman xuất
bản tại USA; “The Legal Environment of Business” của các tác giả Jethro K.
Lieberman & George J. Sieded xuất bản tại Harcourt Brace Jovanovich
Publisher, San Diego. New York. Chicago. Austin. Washington D.C. London.
Sydney. Tokyo. Toronto năm 1989; “Laws of Corporations and Other
Business Enterprises” của các tác giả Harry G. Henn & John R. Alexander
vào nêu ra các vấn đề thay vì kiến nghị và xây dựng giải pháp hoặc bộ giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật. Ngoài ra, một số công trình được viết cách
đây khá lâu làm phát sinh nhu cầu đánh giá, đối chiếu và so sánh khi Luật
Doanh nghiệp 2014 ra đời. Chính vì vậy đề tài này đối với pháp luật Việt
Nam hiện nay vẫn còn làm mảnh đất cần được khai phá.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chủ trương phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam nhằm tìm
kiếm những bất cập để kiến nghị hoàn thiện chế định pháp luật về nghĩa vụ
của người quản lý công ty ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Cụ thể việc
nghiên cứu đề tài này nhằm các mục đích sau:
3
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ của người quản lý
công ty để lấy đó làm cơ sở tìm kiếm những bất cập của pháp luật liên quan;
- Kiến nghị hoàn thiện chế định nghĩa vụ của người quản lý công ty ở
Việt Nam hiện nay.
Luận văn chủ yếu nghiên cứu nghĩa vụ của người quản lý công ty trong
công ty cổ phần và phần nào đấy trong công ty trách nhiệm hữu hạn (nếu
công ty TNHH đó có mô hình quản trị có phần tách biệt tương đối về điều
hành gần gũi với công ty đối vốn điển hình là công ty cổ phần) theo pháp luật
về doanh nghiệp của Việt Nam. Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu nhằm tiếp thu
những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia có truyền thống pháp luật lâu đời.
Luận văn cũng chú ý đến các quy định có liên quan, trong phạm vi tương tự
của các hệ thống pháp luật phát triển như Anh Mỹ, Úc, Singapore …
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở các luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và các chủ
trương, đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội, Luận
văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau để nghiên cứu đề tài: (1) các
phương pháp chung nghiên cứu khoa học xã hội bao gồm phương pháp
hành động hoặc hành vi không hành động, như đã miêu tả trong Điều 280 của
Bộ luật dân sự 2005. Theo PGS. TS Ngô Huy Cương, nghĩa vụ dân sự có ba
đặc điểm quan trọng [2]. Thứ nhất, nghĩa vụ là một quan hệ pháp lý, đặc
trưng bởi khả năng cưỡng chế thi hành bằng quyền lực nhà nước. Hai thành tố
được pháp luật công nhận và có giá trị cưỡng bức thi hành giúp phân biệt
nghĩa vụ dân sự với nghĩa vụ tự nhiên, khi mà nghĩa vụ tự nhiên có thể được
công nhận nhưng không thể cưỡng bức thi hành. Thứ hai, nghĩa vụ là quan hệ
đối nhân. Yếu tố đối nhân có nghĩa là thay vì áp đặt một nghĩa vụ đối với mọi
người nói chung như quan hệ đối vật, quan hệ đối nhân chỉ áp đặt nghĩa vụ
đối với một người xác định. Quyền sở hữu là dạng quan hệ đối vật, có thể đối
kháng chống lại khả năng sở hữu của của tất cả mọi người trên vật thuộc sở
5
hữu của mình; trong khi đó, nghĩa vụ là quan hệ đối nhân, ví dụ như nghĩa vụ
trả tiền, trong quan hệ đó, người trái chủ chỉ có thể đòi người thụ trái trả tiền
cho mình chứ không thể đòi bất cứ ai khác. Thứ ba, nghĩa vụ là một quyền
sản nghiệp, hay nói cách khác, quan hệ tài sản. Đặc điểm này có nghĩa là
nghĩa vụ có thể trị giá được bằng tiền, trong đó, khi người thụ trái thực hiện
nghĩa vụ thì người trái chủ sẽ được hưởng các lợi ích từ việc thực hiện đó.
Các lợi ích, theo cách thông thường nhất là tài sản, có thể trị giá được bằng
tiền. Tuy nhiên, cũng có những lợi ích khó hoặc không thể định lượng giá
trị bằng tiền bạc và trên cơ sở nhận định của nhiều luật gia Nhật Bản cho
rằng các hành vi không được trị giá thành tiền không nhất thiết thuộc phạm
trù đạo đức, Điều 399 của Bộ Luật Dân Sự của Nhật Bản có quy định rằng
đối tượng của nghĩa vụ có thể là những gì không xác định được bằng tiền.
Quan niệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi soi chiếu vào đối tượng
nghiên cứu của luận văn này, nghĩa vụ của người quản lý công ty, sẽ được
phân tích ở phần sau.
hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền, được lợi không có căn cứ
pháp luật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Phân loại nghĩa vụ theo đối tượng là cách thức như được ghi nhận trong
Điều 280 của Bộ Luật Dân Sự 2005. Theo đó, nghĩa vụ có ba loại đối tượng là
(i) chuyển giao vật, (ii) hành động (thực hiện hành vi) và (iii) không hành
động (không thực hiện hành vi).
Phân loại nghĩa vụ theo mức độ. Đây là cách thức phân loại nghĩa vụ ra
đời sau, tuy nhiên lại mang ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong nghiên cứu
nghĩa vụ của người quản lý công ty. Tiêu chí này phân chia nghĩa vụ thành
nghĩa vụ thành quả và nghĩa vụ mẫn cán, trung thực. Cách thức phân loại này
không hề được đề cập trong Bộ Luật Dân Sự 2005 của Việt Nam, vốn được
xem là văn bản đặt nền tảng lí luận cho toàn bộ hệ thống luật tư. Thay vào đó,
một cách đáng ngạc nhiên, Luật Thương Mại 2005, tại Điều 79 và Điều 80 đã
7
áp dụng cách phân loại này. Theo đó, nghĩa vụ của theo kết quả công việc
được mô tả là yêu cầu bên thụ trái đạt được một kết quả nhất định theo hợp
đồng hoặc kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường; Trong khi đó, cách
thức ở Điều 80 yêu cầu người thụ trái thực hiện nghĩa vụ với nỗ lực và khả
năng cao nhất. Cách thức phân loại này tạo ra sự khác biệt lớn khi phải chứng
minh sự vi phạm nghĩa vụ. Đối với nghĩa vụ thành quả, vì người thụ trái đã
cam kết một kết quả nhất định, người trái chủ chỉ cần chứng minh rằng kết
quả không đạt được thì có nghĩa rằng người thụ trái đã vi phạm nghĩa vụ. Đối
với nghĩa vụ mẫn cán, trung thực, thay vì bắt người thụ trái phải chứng minh
mình đã thực hiện nghĩa vụ với khả năng cao nhất, gánh nặng chứng minh
thuộc về trái chủ khi phải chứng minh người thụ trái đã không thực hiện nghĩa
vụ một cách cẩn trọng và siêng năng.
Chế tài do vi phạm nghĩa vụ
tài sản mà họ được trao quyền quản lý. Xuất phát từ nhận định công ty không
chỉ thuần túy hướng tới mục đích lợi nhuận mà còn có những mục tiêu cao cả
hơn, lý thuyết người quản gia cho rằng các mục tiêu này thúc đẩy người quản
lý công ty hành động tốt hơn. Chính vì vậy, lý thuyết người quản gia tập trung
vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho người quản lý công ty theo đuổi các mục
đích cao cả đó. Lý thuyết này phải gánh chịu nhiều chỉ trích do xem xét mối
quan hệ giữa công ty và người quản lý như một mối quan hệ tĩnh với nhiều
yếu tố phải cố định. Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu đã chỉ ra có những
kết quả nhất định cho thấy hiệu quả quản lý được nâng cao khi người quản lý
công ty được trao nhiều quyền hơn theo lý thuyết người quản gia thay vì bị
đặt dưới con mắt quản lý, soi sét của lý thuyết đại diện [15, tr. 62].
Cá nhân tác giả luận văn thì cho rằng lý thuyết đại diện là hợp lý hơn
về mặt cơ bản, tuy nhiên, lý thuyết người quản gia cũng có những giá trị cần
xem xét và những nhân tố tích cực có thể áp dụng. Tóm tắt lại, có thể hiểu
mối quan hệ giữa người quản lý công ty với công ty là quan hệ đại diện, trong
9
đó những người quản lý công ty được ủy quyền quản trị công ty, thay mặt các
chủ sở hữu xác lập quyền và nghĩa vụ, trong đó lợi ích của hai phía là không
đồng nhất và những người quản lý công ty chỉ hành động vì lợi ích tốt nhất
của công ty trong những điều kiện xác định.
1.2.2. Mô hình quản trị công ty
Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn thường được xem là
các hình thức công ty đối vốn theo ngôn ngữ của các nước theo truyền thống
Civil Law. Tuy nhiên có thể nói công ty trách nhiệm hữu hạn là một hình
thức lai tạp giữa công ty đối vốn điển hình là công ty cổ phần và công ty đối
nhân điển hình là công ty hợp danh [3, tr. 162]. Song công ty trách nhiệm
hữu hạn có nhiều mô hình quản trị linh động hơn so với công ty hợp danh.
công ty xuất phát từ quyền sở hữu của chính họ đối với công ty, ví dụ như đối
với công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản.
Vấn đề xung đột lợi ích luôn tồn tại, ngay cả trong những công ty mà
những người quản lý đều đồng thời là chủ sở hữu. Tuy nhiên, khi những
người quản lý công ty là những nhân lực được thuê từ bên ngoài, thì khả
năng xung đột lúc này càng trở nên rõ rệt hơn. Thêm vào đó, những nhân lực
thuê ngoài này lại là đối tượng chuyên nghiệp, nắm trong tay những kiến
thức chuyên sâu và được đào tạo bài bản, có hệ thống liên quan đến quản trị
công ty, và hoàn toàn có thể lạm dụng những kiến thức và kỹ năng đó để
chống lại các đồng sở hữu chủ của công ty một cách rất tinh vi [7, tr. 27].
Chính vì thế, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn, kỹ lưỡng
hơn về những người quản lý này so với những người quản lý trong các loại
hình công ty khác.
Vì những lẽ đó mô hình quản trị công ty là vấn đề pháp lý quan trọng
có thể giúp cho công ty vận hành một cách an toàn hướng tới mục tiêu của
chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu. Mô hình quản trị công ty cổ phần thường
thấy ở Việt Nam bao gồm những cơ quan chính sau:
11
* Cơ quan quyền lực cao nhất – ĐHĐCĐ: Đây là cơ quan tập hợp tất
cả các cổ đông của công ty. ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất và có
quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty. Tuy nhiên, do
tính chất đông đảo và không chuyên nghiệp của cổ đông, ĐHĐCĐ không
thể là cơ quan hoạt động thường xuyên, quản lý các hoạt động thường ngày
của công ty mà chỉ có thể nhóm họp một số lần trong năm theo pháp luật
hoặc theo điều lệ công ty.
* Cơ quan chuyên quản lý chuyên trách - HĐQT: Cơ quan này gồm
một nhóm người, thường là cổ đông hoặc không phải là cổ đông của công ty,
- Cơ quan kiểm soát: cơ quan theo dõi, kiểm tra, thẩm định các hoạt
động quản lý và điều hành cũng tương tự như trong công ty cổ phần.
Trong các mô hình quản trị hai loại hình công ty, người ta xác định
những ai là người quản lý công ty để áp đặt cho họ những nghĩa vụ của người
quản lý công ty.
1.2.3. Khái niệm người quản lý công ty
Người quản lý công ty là một khái niệm đã được đề cập trong Luật
Doanh nghiệp 2005 (Điều 4, khoản 13). Trong phạm vi những người quản lý
chuyên nghiệp, những người quản lý công ty có thể bao gồm chủ tịch hội
đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên HĐQT, giám đốc hoặc tổng
giám đốc và một số chức danh khác do điều lệ công ty quy định. Các chức
danh khác có thể là kế toán trưởng, giám đốc tài chính của công ty. Họ là
cánh tay mặt và có lợi ích sát sườn với ban giám đốc hay hội đồng quản trị
của công ty. Tuy nhiên, với những chức danh như trưởng phó các bộ phận,
phòng ban hay các kiểm soát viên vốn được quy định trực thuộc bộ máy quản
lý của công ty thì lại tương đối khó xác định vì thiếu cơ sở pháp lý. Trên thực
tế, các chức danh nhỏ như vậy cũng đã có những ảnh hưởng và thẩm quyền
nhất định xác lập những quyền lợi và nghĩa vụ cho công ty, nhưng thường
không được quy định trong điều lệ công ty, vì với tư cách là người lao động
13
của công ty, những người này (hoàn toàn và dễ dàng) có thể bị thay đổi. Mặt
khác, chính vì bó hẹp vào quy định trong điều lệ, nhiều người quản lý hoàn
toàn có thể bị bỏ lọt và cũng chính là kẽ hở để họ chủ động trốn tránh trách
nhiệm. Dựa trên phân tích về mặt ngữ nghĩa của khoản 2, Điều 73, Luật
Doanh nghiệp 2005, đối với công ty TNHH, người quản lý chắc chắn bao
gồm các thành viên của hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty (tùy theo
mô hình quản lý được lựa chọn). Nhưng kiểm soát viên có thể không được
báo cáo với HĐQT. Vị trí này thực chất vừa giống với giám đốc vừa giống
với người đại diện theo pháp luật trong luật Việt Nam. Tuy nhiên, thuật ngữ
“director” còn bao gồm ý nghĩa thứ hai, chỉ “một người được chỉ định hoặc
bổ nhiệm vào một hội đồng để quản lý các vấn đề của công ty” hay nói cách
khác, chính là thành viên HĐQT. Chính vì thế, thuật ngữ “board of directors”
của các nước common law phải dịch là HĐQT chứ không phải là ban giám
đốc. Tóm lại, thuật ngữ “director” trong tiếng Anh phải được hiểu là “người
quản lý doanh nghiệp/công ty” thay vì bó hẹp trong phạm vi là “giám đốc”.
Trong luận văn này, khi phân tích các quy phạm pháp luật hoặc vụ việc pháp
lý của các nước thuộc họ pháp luật common law, từ “giám đốc” có thể được
sử dụng vì lí do thuận tiện và ngắn gọn khi sử dụng tiếng Việt nhưng phải
được hiểu theo nghĩa chung là “người quản lý công ty”.
+ Thứ ba, những người mà chỉ thị hoặc mong muốn của họ sẽ được
thực hiện bởi những người quản lý hoặc các bộ phận/phòng ban của công ty.
Tấm lưới cuối cùng này có mục đích thâu tóm những “người quản lý trong
bóng tối” (shadow director) [14, tr. 252]. Tấm lưới này là quan trọng nhất để
ngăn chặn bất kỳ ai có mong muốn sử dụng một công ty hoặc lợi dụng quy
định về trách nhiệm của thành viên hội đồng quản trị để hành động sai trái
hoặc đẩy trách nhiệm sang người khác. Một ví dụ dễ thấy trong trường hợp
này là các Hội đồng sáng lập (“HĐSL”) ở các ngân hàng thương mại mà đi
đầu là Hội đồng sáng lập ACB do ông Nguyễn Đức Kiên (thường được biết
15
đến với tên gọi “bầu Kiên”) là Phó chủ tịch, đồng thời là người được cho là
chủ nhân của “sáng kiến” này [17]. Theo Điều lệ, quy chế hoạt động và các
quy định của pháp luật Việt Nam, những thành viên của hội đồng này không
phải những người quản lý của ACB và không được pháp luật thừa nhận khi
những người này dường như chỉ làm nhiệm vụ tư vấn cho các hoạt động của
Mặc dù vậy, các nhà làm luật Việt Nam dường như cũng đã ý thức
được và thiết kế một điều khoản bảo vệ cho lợi ích chính đáng của công ty
con như một thực thể độc lập, khỏi nguy cơ lạm dụng của công ty mẹ. Điều
khoản này không có nhiều thay đổi từ Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 147)
sang Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 190). Điều khoản này áp đặt một cách
trực tiếp trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con, hơn là dựa trên
nguyên tắc suy đoán xem công ty mẹ có phải là “shadow director” của công
ty con hay không, mặc dù về bản chất, đều phải dựa trên phạm vi hành động
của công ty mẹ để xác định trách nhiệm có phát sinh hay không. Nội dung
Điều 190 này như sau:
1. Tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ
sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theo quy định
tương ứng của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ và
công ty con đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng
theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập.
3. Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của
chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công ty con phải thực
hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường
hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi mà không đền bù hợp lý
trong năm tài chính có liên quan, gây thiệt hại cho công ty con thì
công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó.
17
4. Người quản lý của công ty mẹ chịu trách nhiệm về việc
can thiệp buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh quy
định tại khoản 3 Điều này phải liên đới cùng công ty mẹ chịu trách