VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH DŨNG
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG DÂN
TỪ THỰC TIẾN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ THƢ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN ANH DŨNG
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 76
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1. Bảng 2.1: Kết quả giải quyết tố cáo hành chính của công dân thuộc thẩm
quyền cấp Huyện từ năm 2012 đến năm 2016 ............................................. 44
2. Bảng 2.2: Kết quả giải quyết tố cáo hành chính của công dân thuộc thẩm
quyền cấp Xã từ năm 2012 đến năm 2016 .................................................. 44
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Ở Việt Nam, quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản, quyền tự
do dân chủ quan trọng của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp, văn
bản quy phạm pháp luật và bảo đảm thực hiện. Việc ghi nhận quyền tố cáo
của công dân thể hiện chế độ dân chủ của Nhà nước Việt Nam, thực hiện xây
dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong quá trình thực hiện quyền làm chủ của mình, công dân phát hiện ra
những vi phạm, những hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân nào thì đều có quyền báo cho cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm đó, để có biện pháp xử lý, ngăn chặn và khắc
phục hậu quả xảy ra.
Việc ghi nhận quyền tố cáo của công dân là góp phần đặc biệt quan
trọng trong xây dựng tổ chức đảng, bộ máy chính quyền các cấp trong sạch,
vững mạnh, góp phần ngăn ngừa và đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng,
lượng, hiệu quả của công tác tiếp công dân, giải quyết tố cáo hành chính của
công dân. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, đặc biệt là đơn thư
tố cáo là cần thiết. ây cũng chính là lý do Học viên chọn đề tài: “Giải quyết
tố cáo hành chính của công dân từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội” làm Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tố cáo hành chính là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong
quản lý nhà nước. Cho đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu ở các
mức độ khác nhau liên quan đến đề tài góp phần làm rõ thêm vấn đề lý luận
và thực tiễn về công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết tố cáo. Học
viên xin nêu một số công trình nghiên cứu sau:
2
ề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật
về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Thanh tra
Chính phủ” (ThS. Văn Tiến Mai – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra
Chính phủ);
ề tài: “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện hệ thống quy định nghiệp
vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo” (ThS. Nguyễn Huy Hoàng - Trưởng khoa
nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, Trường Cán bộ Thanh tra Chính phủ);
ề tài: “Khiếu nại, tố cáo hành chính - Cơ sở lý luận, thực trạng và
giải pháp” (TS. Lê Tiến Hảo – Phó Tổng Thanh tra Chính Phủ);
ể tài: “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện hệ thống các quy định
nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại tố cáo” (Viện Khoa học Thanh tra);
ề tài: “Trách nhiệm pháp lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng” (ThS. Nguyễn Tuấn Khanh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh
Mỹ, thành phố Hà Nội nói riêng, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động giải
quyết tố cáo hành chính ở địa phương.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn: là hoạt động thực tiễn giải
quyết tố cáo hành chính của công dân.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
Về mặt không gian: đề tài Luận văn nghiên cứu thực trạng giải quyết tố
cáo hành chính trên địa bàn huyện Chương Mỹ - một huyện ngoại thành của
thành phố Hà Nội đang trên đà phát triển đô thị hóa.
Về mặt thời gian: đề tài Luận văn nghiên cứu hoạt động giải quyết tố
cáo hành chính trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội từ năm
2012 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
ề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, đường lối, chủ trương, chính
4
sách của
ảng, pháp luật của Nhà nước về các quyền cơ bản của công dân,
trong đó có quyền tố cáo, về cải cách hành chính...
Phương pháp nghiên cứu: được sử dụng trong luận văn chủ yếu là:
phương pháp tổng hợp, quy nạp, thống kê, phân tích, so sánh.
Chương 1, nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý về giải quyết tố
cáo hành chính của công dân. Chương này chủ yếu sử dụng phương pháp
nghiên cứu: tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm làm rõ cơ sở lý luận, các quy
định của pháp luật về giải quyết tố cáo.
Chương 2, nghiên cứu thực trạng giải quyết tố cáo hành chính trên địa
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm ba Chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về giải quyết tố cáo hành
chính của công dân.
Chƣơng 2: Thực trạng giải quyết tố cáo hành chính của công dân ở
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả giải quyết tố
cáo hành chính của công dân.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1. Khái niệm tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Giải quyết tố cáo hành chính được hiểu là việc cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận, thụ lý tố cáo của công dân; tiến
hành thẩm tra, xác minh, ra kết luận giải quyết tố cáo; tổ chức thi hành kết
luận giải quyết tố cáo theo thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính
Nhà nước.
Tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính phải tiến hành theo thủ tục nhất
định. Về mặt lý luận, các thủ tục này là bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện
quyền tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính. Nếu thiếu thủ tục này, dễ dẫn
sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tố cáo về
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (không
phải là hành vi tố tụng) thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố
cáo; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nói chung, bao gồm: vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được thực hiện theo
quy định của pháp luật tố cáo; tố cáo đối với hành vi vi phạm điều lệ của các
thành viên tổ chức thì được thực hiện theo quy định của
iều lệ tổ chức đó.
[26, tr. 8]
Tố cáo cũng khác với khiếu nại hành chính. Tố cáo là hành động
nhằm bảo vệ và ngăn chặn khả năng vi phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Những việc làm trái pháp luật
không chỉ của cán bộ, công chức nhà nước mà của cả các cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác. Những hành vi vi phạm pháp luật thường bị công dân phát hiện và
8
báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, phòng ngừa hành vi
vi phạm pháp luật và xử lý người có hành vi vi phạm.
Khiếu nại là hoạt động nhằm bảo vệ hoặc khôi phục lại các quyền hoặc
lợi ích của chính chủ thể khiếu nại khi bị quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan nhà nước xâm hại, do đó nếu các quyền này bị xâm hại
hoặc bị đe dọa xâm hại sẽ dẫn đến khiếu nại. Chính vì khiếu nại và tố cáo
không giống nhau cho nên Luật Tố cáo hiện hành đã quy định thẩm quyền,
trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo khác với thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải
quyết khiếu nại. Tuy nhiên điểm khác nhau cơ bản giữa khiếu nại và tố cáo là:
Về chủ thể: Chủ thể thực hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật Tố
hội. Pháp luật về tố cáo hiện hành của nước ta quy định đối với tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì do cơ quan tiến hành tố tụng giải
quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. ối với hành vi vi phạm
của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và
đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội… trong đó, các tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành
chính nhà nước là tố cáo hành chính.
1.1.2. Đặc điểm của giải quyết tố cáo hành chính
Một là, giải quyết tố cáo hành chính khác với giải quyết tố cáo tư pháp,
nó được thực hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Ở nước ta, tố
cáo và giải quyết tố cáo tư pháp thông thường được pháp luật quy định tại
phần cuối của các luật về tố tụng như: tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng
hành chính, tố tụng lao động…v.v. Trong tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính
được quy định trong Luật Tố cáo.
Hai là, thủ tục giải quyết tố cáo hành chính cũng như tố cáo tư pháp
nhìn về hình thức thì đều đơn giản bao gồm các bước sau: (1) Khởi xướng
(thụ lý) tố cáo; (2) Xem xét và ra quyết định giải quyết tố cáo; (3) Giải quyết
10
tố cáo lần tiếp theo; (4) Thi hành quyết định giải quyết tố cáo. Tuy nhiên giải
quyết tố cáo tư pháp bao giờ cũng phức tạp hơn.
Ba là, tố cáo hành chính thực hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính
nhà nước đa dạng, do đó các cơ quan giải quyết tố cáo cũng do nhiều cơ quan
nhà nước khác thực hiện. cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo hành chính
là cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc
lĩnh vực nào thì có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc chức năng của cơ quan
đó. Khác với giải quyết tố cáo theo thủ tục tư pháp, được thực hiện trong lĩnh
các nội dung cơ bản thể hiện trên ba phương diện: quy định pháp luật, tổ chức
thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.
1.2.1. Nội dung pháp lý về giải quyết tố cáo hành chính
1.2.1.1. Đối tượng tố cáo hành chính
Tại
iều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân
theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của của cơ quan, tổ chức, của chính mình hoặc
của người khác. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công
chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp
hành quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
1.2.1.2. Các nguyên tắc giải quyết tố cáo hành chính
Nguyên tắc giải quyết tố cáo là toàn bộ các quy tắc cơ bản mà người
giải quyết tố cáo phải tuân theo trong quá trình giải quyết tố cáo. Nguyên tắc
giải quyết tố cáo được quy định tại
iều 4 Luật Tố cáo và trong các văn bản
pháp luật hiện hành, cụ thể:
12
quyết tố cáo, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ tiếp
nhận thông tin, người được giao xác minh nội dung tố cáo, quyền giải trình
của người bị tố cáo đều phải tuân thủ nghiêm minh, để đảm bảo việc xác
minh, kết luận nội dung tố cáo được chính xác, đúng quy định của pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người bị tố cáo: trong phạm vi trách nhiệm của mình, người giải
quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ xác minh
nội dung tố cáo phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc báo ngay
cho cơ quan công an, cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện pháp bảo vệ
người tố cáo, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật trả thù người tố
cáo; khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi có kết luận tố
cáo sai, không có hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo.
ây là một trong
những nguyên tắc nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.2.1.3. Quyền, nghĩa vụ của các bên trong giải quyết tố cáo hành chính
Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo: Quyền và nghĩa vụ của người
tố cáo được quy định tại
iều 9 Luật Tố cáo năm 2011 gồm: quyền được giữ
bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình; yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải
quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền
giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo; tố cáo tiếp khi có căn cứ cho
rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự
thật, người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; được khôi phục quyền, lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm, được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường
thiệt hại do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra.
Người bị tố cáo cũng có nghĩa vụ giải trình bằng văn bản về hành vi bị
tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo khi cơ quan,
15
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu, chấp hành nghêm chỉnh quyết định
xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; bồi thường, bồi hoàn thiệt
hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Trong trường hợp người bị tố cáo phải chấp hành quyết định xử lý hành
vi vi phạm bị tố cáo mà không chấp hành thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật…
Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo: Việc giải quyết tố cáo
có vai trò quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với
ảng
và Nhà nước, tránh gây tình trạng bức xúc, mất niềm tin của nhân dân. Do đó,
để bảo đảm việc giải quyết tố cáo được kịp thời, chính xác,
iều 11 Luật Tố
cáo năm 2011 đã quy định về quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo.
Quyền và nghĩ vụ của người giải quyết tố cáo chỉ áp dụng trong quá trình giải
quyết tố cáo.
Người giải quyết tố cáo có các quyền: Yêu cầu người tố cáo cung cấp
quyết.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ
quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ,
công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
giải quyết.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành
tố tụng giải quyết theo trình tự, quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Thủ trưởng cơ quan hành chính
nhà nước.
ối với cán bộ, công chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước có hành
vi vi phạm pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ bị tố cáo thì thẩm quyền
giải quyết tố cáo được quy định tại iều 13 Luật Tố cáo năm 2011:
17
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là
cấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; người đứng đầu, cấp phó của người đứng
đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công
chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu,
cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và
định được người có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi có tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không
phải là cán bộ, công chức, iều 17 Luật Tố cáo quy định người đứng đầu, cơ
quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ
mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ.
Thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về
quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Hành vi vi phạm trong các lĩnh vực bao gồm tất cả các hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong xã hội, kể cả vi phạm
của cán bộ, công chức, viên chức ngoài phạm vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ
và vi phạm của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nhằm giúp người
tố cáo, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật tới đúng cơ quan, người có thẩm
quyền giải quyết tố cáo, hạn chế trường hợp đơn thư tố cáo lòng vòng, hiệu
quả giải quyết thấp,
iều 31 Luật Tố cáo quy định thẩm quyền giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Theo
đó, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực nào thì có thẩm quyền giải quyết
19
tố cáo đối với nội dung tố cáo có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quản lý
nhà nước của cơ quan đó.
Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
quyết tố cáo; (3) Giải quyết tố cáo lần tiếp theo; (4)thi hành quyết định giải
quyết tố cáo.
Giải quyết tố cáo hành chính là một thủ tục hành chính và được thực
hiện các giai đoạn như sau:
a) Khởi xướng (thụ lý) tố cáo
Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.
Người có quyền tố cáo có thể gửi đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp tại cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Theo quy định tại Khoản 2
iều 19 Luật Tố cáo: đơn tố cáo phải do
người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng
đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những
người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.
Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng
dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng
văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản.
Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn
người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo.
- Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của
cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
iều 20 Luật Tố cáo quy định cụ thể về việc tiếp nhận và xử lý thông
tin tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức, viên chức
trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Thời hạn thụ lý giải quyết tố cáo: 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn tố
cáo, người giải quyết tố cáo phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người
tố cáo và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý. Trường hợp phải kiểm tra,