Những quan niệm của nhà văn ma văn kháng về nhà văn, nghề văn, hoạt động lao động viết văn từ đó soi chiếu vào một số tác phẩm để làm sáng tỏ thêm mảng tiểu luận bút ký về nghề văn - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

MA VĂN KHÁNG
BÀN VỀ NGHỀ VĂN, NHÀ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, PGS.TS Nguyễn
Ngọc Thiện - người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi
trong suốt khóa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận
văn không tránh khỏi hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.

6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
7. Đóng góp của luận văn.................................................................................. 6
8. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................... 8
Chương 1. VAI TRÒ, SỨ MỆNH CAO CẢ CỦA VĂN CHƯƠNG ............... 8
1.1. Văn chương thể hiện khát vọng về cái đẹp ............................................... 9
1.1.1. Cái đẹp là nguồn cảm hứng vô tận trong văn chương............................ 9
1.1.2. Quan niệm của Ma Văn Kháng về cái đẹp trong văn chương .............. 11
1.1.3. Khát vọng hướng tới cái đẹp trong tác phẩm của Ma Văn Kháng ....... 14
1.2 . Văn chương là tấm gương phản chiếu văn hóa..................................... 16
1.2.1. Vai trò của văn chương với đời sống .................................................... 16
1.2.2. Lăng kính văn hóa trong quan niệm của Ma Văn Kháng ..................... 18
1.2.3. Văn chương của Ma Văn Kháng phản ánh góc nhìn thời đại .............. 20
1.3 . “Mua vui và để đời” .............................................................................. 21
1.3.1. Nhà văn và tác phẩm để đời.................................................................. 21
1.3.2. Quan niệm của Ma Văn Kháng về tác phẩm văn học để đời................ 23
1.4. Văn chương và sự tiếp nhận phê bình..................................................... 26
1.4.1. Quan niệm về sự tiếp nhận trong văn học ............................................ 26
1.4.2. Vai trò của người đọc với tác phẩm văn chương.................................. 28


1.4.3. Vai trò của nhà phê bình với tác phẩm văn học ................................... 31
Chương 2. QUAN NIỆM VỀ NGHỀ VĂN .................................................... 36
2.1 . Sống đã rồi hãy viết .............................................................................. 37
2.1.1. Nhà văn và sự trải nghiệm .................................................................... 37
2.1.2. Quan niệm của Ma Văn Kháng về sống và viết .................................... 39
2.2. Văn chương là sự lao động khó nhọc, gắn bó với đời sống nhân quần .. 44
2.2.1. Viết văn là một công việc khó nhọc và mang tính đặc thù.................... 44
2.2.2. Quan niệm của Ma Văn Kháng về lao động viết văn ........................... 45
2.3 . Lao động hết mình bằng phương tiện câu chữ...................................... 50

1. Lý do chọn đề tài
Nhắc đến Ma Văn Kháng người ta thường nghĩ đến ông với tư cách
một nhà văn tài danh, một phẩm chất lao động sáng tạo không mệt mỏi. Với
hàng trăm tác phẩm truyện ngắn và hàng chục tiểu thuyết, Ma Văn Kháng đã
giúp cho người đọc tiếp cận những mảng màu đa dạng của một phong cách
sáng tạo độc đáo, khả năng sáng tác dồi dào.
Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ nhìn Ma Văn Kháng ở riêng
phương diện sáng tác, bởi con người đa tài, sâu sắc ấy còn là một cây bút viết
tiểu luận và bút kí xuất sắc.
Tiểu luận, bút kí của Ma Văn Kháng thu hút được sự quan tâm của
người đọc một cách mạnh mẽ. Năm 2012 ông cho ra mắt cuốn Phút giây
huyền diệu thu hút sự quan tâm đặc biệt của đông đảo văn nghệ sĩ và bạn đọc.
Tiếp nối sự thành công đó, năm 2015 ông tiếp tục cho ra đời cuốn Nhà văn,
anh là ai?. Cả hai cuốn sách thể hiện sự trải nghiệm của nhà văn trên phương
diện sáng tạo mới. Sự chuyển kênh sáng tạo của Ma Văn Kháng thuận theo lẽ
tự nhiên, đánh dấu bước lão thực trong ngòi bút của ông trên tất cả những
phương tiện sáng tạo khác.
Rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích, bình giá về tác phẩm của
nhà văn Ma Văn Kháng như: Trần Đăng Suyền; Lã Nguyên; Phong Lê; Ngô
Văn Giá; Đoàn Trọng Huy…Một trong những cây bút luôn theo sát những tác
phẩm của Ma Văn Kháng và nhận được sự đồng thuận và tin cậy tuyệt đối của
ông là nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện. Những đánh giá của ông về tâm ý
của Ma Văn Kháng trong cuốn Phút giây huyền diệu là những đánh giá chân
tình của một nhãn quan nghiên cứu sắc sảo.
Nhìn một cách khái quát, các bài viết tiêu biểu nghiên cứu về tiểu luận,
bút kí của Ma Văn Kháng còn ít so với loạt bài nghiên cứu về sáng tác của


2
ông. Các nhận định đánh giá về hai cuốn sách nói trên mới chỉ dừng lại ở mức

mới… Thậm chí, báo Văn nghệ còn mở hẳn mục “Nhà văn – Nghề văn” để tải
những bài viết dạng này. Hiện tại Ma Văn Kháng vẫn đang tiếp tục với mảng
đề tài này.
PGS.TS La Khắc Hòa nhận định: “Ma Văn Kháng là nhà văn của cái
đẹp trong dòng đời sinh hóa, bình dị, hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc
được làm người với ý nghĩa đích thực của nó…”.
Nhà văn Bích Ngân, một người học trò của Ma Văn Kháng hiện giữ
cương vị Phó Giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, tại buổi lễ ra mắt
tập sách mới nhất của Ma Văn Kháng đã nói những lời thành kính tri ân nhà
văn. Thay mặt nhà xuất bản chị dành cho người thầy của mình những lời trân
trọng: “Suốt 50 năm miệt mài cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã để lại dấu
ấn riêng biệt trong tâm trí nhiều thế hệ độc giả. Đồng thời, nhiều tác phẩm của
ông đã cắm những dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học”.
Trong bài viết: “ Nhà văn Ma Văn Kháng chuyển kênh viết” tác giả
Dương Tử Thành có những đánh giá về những chia sẻ với Ma Văn Kháng qua
tiểu luận, phê bình và bút kí của ông “Những bài viết về lao động nhà văn của
Ma Văn Kháng được ông đúc rút từ những kỷ niệm của chính bản thân,
những sự việc đã diễn ra trong suốt đời văn đời người, từ những câu chuyện,
những tình tiết xảy ra trong đời sống văn nghệ nước nhà”. Chẳng hạn, ở bài
“Sống rồi mới viết” từ một tình huống cụ thể ông đã khái quát để đi đến một
nhận định về “sống” đối với nhà văn: “Năm 1975, giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước. Hội Liên hiệp Thanh niên Thống nhất họp đại hôi bầu
Ban chấp hành mới. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi gọi điện mời tôi sang, nói,
sẽ giới thiệu tôi là đại diện cho giới nhà văn vào ban chấp hành nọ. Tôi đáp,
tôi đã 40 tuổi, không còn trẻ nữa. Nguyễn Đình Thi cười: Làm gì có nhà văn


4
dưới tuổi bốn mươi! Tất nhiên nói điều đó là nói quy tắc chung. Chứ ông thừa
biết, Chế Lan Viên viết Điêu tàn, Tô Hoài viết Dế mèn phiêu lưu ký và

Nhìn một cách tổng quát có thể thấy rằng, sau khi cuốn Phút giây
huyền diệu ra đời và cho đến năm 2015, với sự ra đời của cuốn Nhà văn anh
là ai?, có thể khẳng định rằng: Dẫu Ma Văn Kháng bảo rằng ông không làm
gì nhiều, những tác phẩm vốn viết hoặc trăn trở từ nhiều năm trước nay tập
hợp, hoàn thiện và công bố, nhưng rõ ràng hình ảnh cần mẫn, lặng lẽ của ông
vẫn lưu lại trên cánh đồng văn một cách đáng trân trọng. Tác phẩm bao hàm
nhiều ý nghĩa súc tích soi sáng trên nhiều phương diện: chân dung, phẩm
cách, chức năng, tiêu chí, sự hình thành và con đường đi tới của nhà văn…Đó
là những suy tư bình dị mà sâu sắc, trần thế mà thiêng liêng, đơn sơ mà cao
đẹp, khiêm nhường mà kiêu hãnh.
Như vậy, cùng với sự ra đời của hai cuốn sách thuộc mảng tiểu luận,
bút kí của Ma Văn Kháng về công việc mang tính đặc thù của nghề viết , cho
đến nay còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Ma Văn
Kháng- nhà tiểu luận bút ký. Vì thế tôi mạnh dạn chọn đề tài: Ma Văn Kháng
bàn về nghề văn và nhà văn nhằm đi sâu tìm hiểu về những quan niệm và chia
sẻ của ông về nghề văn và nhà văn, từ đó hiểu hơn về những công việc bếp
núc của một nhà văn, những khát khao trăn trở với nghề của một nhà văn đã
dành trọn cả cuộc đời tâm huyết và sáng tạo ra nhiều tác phẩm đặc sắc, đóng
góp cho sự phát triển của văn học nước nhà.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu một số vấn đề lí luận, phê bình
văn học qua tiểu luận, bút kí về nhà văn, nghề văn của Ma Văn Kháng. Trên
cơ sỏ đó góp phần làm rõ thêm một khía cạnh tài năng khác của Ma Văn
Kháng cũng như những đóng góp của ông với nghề văn.


6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về những quan niệm của nhà văn Ma
Văn Kháng quan niệm về nhà văn, nghề văn, về hoạt động lao động viết văn.

Đây có thể coi là một trong những công trình khoa học đầu tiên chọn
cuốn Nhà văn anh là ai? làm đối tượng nghiên cứu, kết hợp với cuốn Phút
giây huyền diệu và một số bài tiểu luận, phê bình trước đó của ông để khái


7
quát quan niệm nghệ thuật của nhà văn về nghề văn, về nhà văn, từ đó nhằm
làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận qua ngòi bút Ma Văn Kháng. Với định hướng
nghiên cứu này, luận văn hi vọng đóng góp thêm một phần vào những kết quả
nghiên cứu về Ma Văn Kháng ở phương diện tiểu luận, phê bình văn học.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày
trong 3 chương.:
Chương 1. Vai trò, sứ mệnh cao cả của văn chương
Chương 2. Quan niệm về nghề văn
Chương 3. Quan niệm về nhà văn


8

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
VAI TRÒ, SỨ MỆNH CAO CẢ CỦA VĂN CHƯƠNG
Tác phẩm văn học muốn trường tồn phải mang trong mình một sức hấp
dẫn riêng và cho đến nay, nhân loại đã có một kho tàng văn học khổng lồ.
Đọc một tác phẩm văn học điều mà chúng ta quan tâm hơn cả là sau những
câu chữ, những cách thể hiện hấp dẫn, nhà văn đem đến cho độc giả điều gì?
Nếu tài năng của họa sĩ được đánh giá bằng đường nét, màu sắc của bức vẽ,
tài năng nhà văn được đánh giá dựa trên những vấn đề cuộc sống mà anh ta đề
cập trong tác phẩm được sáng tạo bằng chữ nghĩa. Nói như vậy để khẳng định

Giăng sáng…người đọc không chỉ cảm thông với các nhân vật có cảnh ngộ éo
le trong truyện mà tác phẩm còn như tấm gương soi để mỗi chúng ta tự nhận
ra mình, không ngừng vươn lên hoàn cảnh của bản thân để sống tốt đẹp hơn.
Đó cũng chính là điều mà Nam Cao mong mỏi ở những tác phẩm của mình.
Ông cho rằng, tác phẩm văn học phải hướng tới những giá trị cao đẹp “Nó
chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca
tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình, nó làm cho người gần người
hơn”. Với nhà văn Thạch Lam “Văn chương không phải là cách đem đến cho
con người sự thoát li hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới
thanh cao và đắc lực mà ta có thể vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối
tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. Có thể nói,
cái đẹp toát ra từ văn chương chính là giúp con người thanh lọc tinh thần, đưa
con người hướng về bản thể, đó chính là sứ mệnh đích thực của văn chương.
Từ thế kỉ thứ XIX, nhà mỹ học người Nga Tsecnuepxki đã đưa ra quan
niệm: “Cái đẹp là cuộc sống”, theo ông cái đẹp luôn hiện hữu trong cuộc sống
xung quanh chúng ta. Nó có trong tất cả những sự vật, hiện tượng cho đến con
người. Tuy nhiên, trong nghệ thuật thì cái đẹp được biểu hiện tập trung hơn,


11
kết tinh được những cái đẹp trong cuộc sống để làm nên những áng văn
chương tuyệt mĩ ban tặng cuộc đời. Nhận thức được điều này, các nhà văn ở
nhiều thế hệ trước và sau này luôn lấy vẻ đẹp muôn hình vạn trạng của cuộc
sống làm mục đích sáng tạo văn chương. Đó là cái đẹp trong thiên nhiên,
trong xã hội và đặc biệt là con người.
Cái đẹp trong xã hội vô cùng phong phú, đó là cái đẹp trong đời sống
hằng ngày, trong lao động và trong đấu tranh. Không nên xem thường cái
bình dị trong cuộc sống đời thường, một hành vi, một nếp sống, một thói quen
trong gia đình và trong cộng đồng đều được đánh giá theo tiêu chuẩn cái đẹp.
Tác phẩm văn chương cũng luôn theo đuổi mục đích đó bằng cách tái hiện cái

người như một lẽ tự nhiên kỳ lạ, cho dù nó là một thứ hàng hoá bị trả giá quá
thấp, cho dù nó bị dè bỉu dìm dập; cho dù nó có thể gây nên bao nhiêu oan
khổ, cho đời người. Đó là điều ta đã thấy qua cái thoải mái, thanh thản, thậm
chí ngông ngạo của không ít các nhà văn” [15,Tr.193]
“Chúng ta yêu mê say công việc của mình, vì như Maxim Gorki nói:
Với quyển sách và cây bút là vũ khí trong tay, chúng ta chiến đấu cho ngày
mai! Vì nghề nghiệp này đã hóa giải tâm hồn và lý tưởng của chúng ta. Vì
hơn ở đâu hết, đây là một nghề nghiệp để hóa thân đến triệt để, đến tận cùng.
Vì khát vọng về sự toàn thiện, toàn mỹ trên mỗi câu chữ, mỗi trang văn” - Ma
Văn Kháng viết. Mạch viết của ông trong suốt cuốn sách dựa vào triết lý
“thuận theo người mà không bỏ mình” của nhà thơ - chí sĩ Nguyễn Thượng
Hiền (1868-1925).
Ông suy ngẫm thêm về cách nói “phải sống cuộc đời rất thơ” của
Hoàng Cầm để giúp bạn đọc hiểu rằng sáng tạo nghĩa là phải sống cuộc đời
của kẻ nhạy cảm, thường trực tiếp nhận cái mới mẻ, biết rung động trước
những vẻ đẹp, xúc động trước tình cảm nhân văn, yêu quý dân tộc, đất nước,
nhìn ra được những cái vô hình vô ảnh, xuyên thấu được chốn thăm thẳm của


13
cuộc đời, tâm can thời đại… Và sau cùng là biết chuyển hóa hiện thực qua
ngôn ngữ thành những hình tượng thẩm mỹ. “Trút hết vào những trang sách
toàn bộ tinh lực của đời người. Giữa các dòng chữ, ta nghe thấy tiếng đập bồi
hồi của con tim bệnh tật…Viết xong một cuốn sách, như một kẻ mất máu, anh
đã kiệt lực hoàn toàn…” - ông bày tỏ.
Theo Ma Văn Kháng, nghệ thuật không có nhiệm vụ phải thay đổi bất
cứ điều gì cả. Nghệ thuật chỉ hiện diện đó, để ta có được khoái cảm khi sáng
tạo, đem đến cho ta một cảm xúc mãnh kiệt khi được đọc một kiệt tác, cho ta
tận hưởng vẹ đẹp tỏa ra từ đó.Vẻ đẹp của những trùm tia sáng rực rữ chói lòa,
bền bỉ lâu dài, nhưng rồi cũng lụi tàn.

chương hoàn thiện, đẹp lộng lẫy nguy nga”. [15,Tr.191]. Có lẽ rằng với Ma
Văn Kháng khát vọng vươn tới cái đẹp hoàn mĩ trong văn chương luôn thôi
thúc nhà văn bước vào những cuộc tìm kiếm với tất cả niềm say mê, hứng thú
và khao khát đến tận cùng.
Để biểu hiện con người trong chiều kích sâu xa của tâm hồn, trí tuệ và
phong cách đó là điều nhà văn luôn trăn trở, luôn phải sống với tất cả thế giới
hiện thực, đưa cảm xúc thăng hoa, thậm chí đôi khi phấn khích tưởng như
điên rồ để cho ra đời nhưng tác phẩm có giá trị, đủ sức lay động lòng người.
Hạnh phúc của người cầm bút là sau công cuộc lao động miệt mài, gian khổ
và cô đơn đến cùng cực, họ sẽ được nhìn thấy thành quả lao động đáng ca
ngợi: “Quá trình sáng tác là quá trình nhập đồng, thăng hoa hoặc đau đớn, dằn
vặt, như là xa lìa hoàn toàn tục lụy phàm trần, với tất cả bồi hồi trước cái bí ẩn
chưa hề biết với những gắng gỏi trên sức của mình, trong cơn say mê điên rồ
nhất, với khát vọng chung nhất là tạo dựng tòa lâu đài nguy nga tráng lệ của
mình.” [25,Tr.193].
1.1.3. Khát vọng hướng tới cái đẹp trong tác phẩm của Ma Văn Kháng
Đúc kết từ cuộc đời văn của mình, Ma Văn Kháng chỉ ra rằng: Đặc
điểm căn bản nhất trong những sáng tác của mình chính là cái đẹp bi tráng,


15
cái đẹp sản sinh từ trong lao khổ và đau đớn. Từ Đồng bạc trắng hoa xòe với
nhân vật Pao phải chịu bao đau thương mất mát từ cuộc sống gia đình, cho
đến Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong
vườn…khi ông viết về người trí thức, dấn thân và hi sinh, về những cái chết
bi hùng. Tất cả những tác phẩm đó ông đều viết bằng sự thôi thúc mãnh liệt
của con tim dựa trên sức hút của văn chương. Con người trải qua những mất
mát gian truân, khổ đau thì cái đích cuối cùng cũng hướng tới cái đẹp của
điều thiện và chắc chắn không thể không nhắc đến cái đẹp toát ra từ những
trang văn ông viết về thiên nhiên và con người vùng cao với con mắt tinh đời

những vấn đề cuộc sống, bất kỳ một nhà văn nào cũng thoát thai từ một môi
trường sống nhất định. Phản ánh hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn chương.
Văn chương nghệ thuật đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời
sống con người. Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong nó sứ mệnh cao cả, là
tấm gương phản chiếu văn hóa của thời đại mà tác phẩm đó ra đời. Cùng với
thời gian, văn chương đã và đang tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của
mình đối với nhân loại. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Cái cao
quý của một đất nước, một dân tộc là ở giá trị văn hóa…văn học nghệ thuật
có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên giá trị văn hóa ấy”.
Có thể nói, từ bao đời nay, văn chương nghệ thuật luôn là món ăn tinh thần, đáp
ứng nhu cầu tất yếu của xã hội. Chính từ những nhu cầu tất yếu đó mà con người
đã không ngừng sáng tạo nên các tác phẩm văn học để thưởng thức nó.
Có thể nói, chính cuộc sống bao la kì diệu với bao trăn trở suy tư đã
mang tới chất liệu vô giá, phong phú và trở thành nơi xuất phát và cũng là
nơi đi về của văn học. Đời sống là chất liệu, là nơi khơi nguồn cho cảm hứng


17
sáng tạo vô hạn cho người nghệ sĩ, góp phần giúp người nghệ sĩ cống hiến
nhiều hơn nữa cho nghệ thuật.
Mối quan hệ giữa văn chương và đời sống có thể ví như hai mặt của
một bàn tay, đó là mối quan hệ căn cốt, máu thịt. Văn chương, rộng ra là nghệ
thuật luôn gắn chặt với đời sống của nhân dân và thời đại mình bởi một lẽ
thật giản đơn: Con người và xã hội vốn sinh ra văn chương để thỏa mãn nhu
cầu tinh thần giàu có và cao đẹp vô hạn của chính mình, vậy nên văn chương
không thể tách rời cuộc sống, nói như nhà văn Pháp Albert Camus: “ Nghệ
thuật sẽ chẳng là gì nếu không có thực tại. Nhưng không có nghệ thuật thì
thực tại cũng chẳng có bao nhiêu giá trị. [25,Tr.49].
Chính cuộc sống bao la kì diệu với bao trăn trở suy tư đã mang tới chất
liệu vô giá, phong phú và trở thành nơi xuất phát và cũng là nơi đi về của văn

lưu lại được xác định bằng ngôn từ văn tự [15,Tr.102], “Từ khi loài người có
ngôn ngữ văn tự thì quỷ thần cũng phải khóc than” [15,Tr.102].
Với Ma Văn Kháng, văn học chính là nơi lưu giữ hình bóng của cuộc
đời, nói theo chữ của Nguyễn Tuân thì đó là “Một thời vang bóng”. Đọc Hà
Nội 36 phố phường và Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam ta cảm thấy nao nao
xao xác biết bao là hoài cảm mênh mang về cuộc sống. Đọc tiểu thuyết của
Tự lực văn đoàn thấy rưng rưng cảm động như ngược dòng trở về một thời xa
xưa. Đọc Số Đỏ gặp những Xuân Tóc đỏ, bà phó Đoan, cả một thế giới nhân
vật kì quặc và phi lý là bước vào cái bảo tàng có thể nhìn thấy được ảnh hình,
nghe được âm thanh, ngửi được mùi vị đời sống hiện thực của một thời nhố
nhăng lố bịch và khôi hài. Cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma
Văn Kháng ghi lại một thời đã qua cách đây hơn bốn chục năm, nhà văn tâm
sự: “Nếu sau khi đọc cuốn sách của tôi , bạn đọc gật gù nói rằng: à, cái thời
cách đây bốn chục năm, người ta sống như thế đấy. Thì tôi đã vô cùng mãn
nguyện và cảm kích rồi” [15,Tr.104].


19
Với Ma Văn Kháng, văn học giản dị là vậy. Do vậy, ông rất tâm đắc
với định nghĩa sau đây về tiểu thuyết của Bách khoa toàn thư Comptons Anh
quốc. “Tiểu thuyết là mảnh đất lưu giữ bóng hình cuộc đời”. Văn học chính là
tấm gương phản ánh đời sống và để con người tự soi chiếu chính bản thân
mình. “Văn hóa chẳng cứu vớt được ai, chẳng cứu vớt được cái gì, văn hóa
không biện hộ. Nhưng đó là sản phẩm của con người; con người tự phóng
chiếu trong đó, tự nhận ra mình trong đó, riêng chỉ có tấm gương ấy cũng cho
con người thấy hình ảnh của mình. [15,Tr.105]
Cũng theo Ma Văn Kháng, ông cho rằng, vai trò và vị trí của văn
chương nghệ thuật là khả năng mở rộng biên độ đời sống con người “chúng
khiến cho cuộc đời hữu hạn của mỗi con người trở nên phong phú đến vô hạn.
Và đó là lí do tồn tại mãi mãi của văn chương, là thứ văn chương để đời”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status