Tiểu luận: Vai trò định hướng và khuyến khích cho hoạt động ngoại thương tức là hoạt động quản lý của nhà nước đối với hoạt động ngoại thương - Pdf 21


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\
TIỂU LUẬN

Đề tài:
Vai trò định hướng và khuyến khích cho hoạt
động ngoại thương tức là hoạt động quản lý
của nhà nước đối với hoạt động ngoại thương
vai trò định hướng và khuyến khích cho hoạt động
ngoại thương tức là hoạt động quản lý của nhà nước
đối với hoạt động ngoại thương
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ vì vậy hoạt
động ngoại thơng chiếm vị trí quan trọng và có tính quyết định đến toàn bộ quá trình phát
triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Nhng bản thân hoạt động ngoại thơng ở nớc ta hiện nay còn chứa đựng nhiều những bất
cập nh tình trạng xuất khẩu bừa bãi thiếu định hớng, gian lận thơng mại, trốn thuế Vì
vậy để nâng cao hiệu qủa của hoạt động ngoại thơng góp phần phát triển kinh tế thì cần
phải có vai trò quản lý của nhà nớc. Vai trò quản lý của nhà nớc ở đây phải mang tính định
hớng và khuyến khích hoạt động ngoại thơng. Trong qúa trình thực hiện vai trò đó ở nhiều
lúc, nhiều nơi nhà nớc cha thực sự thực hiện đợc vai trò định hớng và khuyến khích cho
hoạt động ngoại thơng tức là hoạt động quản lý của nhà nớc đối với hoạt động ngoại thơng

năm1989
Năm Tính theo giá cố định
năm 1994
1990 5,3% 1994 9,0%11,8%
1991 4,8% 1995 9,7%
1992 6,1% 1996 6,9%
1993 6,0% 1997 4,4%
1994 9,0% 1998
2. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào nâng cao chất lợng sản phẩm :
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, hàng hoá các nớc phải
chịu sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hoá các nớc khác và gặp phải sự cản trở quyết liệt
của các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nớc đặt ra vì vậy để tồn tại, đứng
vững và phát triển đợc thì các nớc phải không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá
thành sản phẩm để tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá nớc mình nhằm đứng vững,
phát triển trên thị trờng và chống trả đợc sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá các nớc
khác.
Riêng đối với Việt Nam để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì với điều
kiện là một nớc đi sau và có trình độ công nghệ và năng lực công nghệ thấp kém nếu chất
lợng sản phẩm sản xuất ra còn cha cao, giá thành sản phẩm cao nên sức cạnh tranh của
hàng hoá còn rất thấp so với hàng hoá của các nớc khác trên thế giới, vì vậy để thực hiện
thành công quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì nớc ta phải không
ngừng nâng cao chất lợng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm tạo sức cạnh tranh cho hàng
hoá trong nớc, đặc biệt là khi nớc ta tham gia AFTA, APEC, WTO thì hàng hoá của nớc ta
càng phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn trên thị trờng thế giới và khu vực cũng nh thị
trờng trong nớc vì vậy nâng cao chất lợng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm tạo sức cạnh
tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của nớc ta là yêu cầu mang tính tất yếu khi tham gia hội nhập
vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Vậy thông sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trờng xuất khẩu tức là thông qua tiến hành
hội nhập kinh tế mà chất lợng sản phẩm hàng hoá trên toàn thế giới nói chung và của nớc
ta nói riêng ngày một đợc nâng cao.

khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và
đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Ở nớc ta hiện nay, kể từ khi Đảng và Nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa nền kinh
tế thì kim ngạch xuất khẩu của nớc ta không ngừng tăng lên đã tạo điều kiện thúc đẩy sản
xuất trong nớc phát triển, tạo nguồn thu cho ngân sách và giải quyết công ăn việc làm cho
hàng triệu lao động.
5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại :
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nớc ta gắn chặt
với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các
hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn,
xuất khẩu và sản xuất hàng hoá thúc đẩy các quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế đến
lựơt nó chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện để cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhất là trong điều kiện hiện nay
xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới và nó là cơ hội
cho mỗi quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghiệp hoá đất nớc đòi hỏi
phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật vật t và công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể sử dụng từ các nguồn
- Liên doanh đầu t nớc ngoài với nớc ta
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
- Xuất khẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn nh đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ cũng phải trả bằng
cách này hay cách khác để nhập khẩu nguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất khẩu. Xuất
khẩu quyết định quy mô và tốc độ phát triển của nhập khẩu.
Trong thời kỳ 1986 - 1990 nguồn thu của nớc ta về xuất khẩu chiếm 3/4 tổng nguồn
thu ngoại tệ, năm 1994 thu từ xuất khẩu đã đảm bảo đợc 80% nhập khẩu so với 24,6%
năm 1986.
PHẦN II
TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ VÀO

giới, tức là nó là nhân tố quan trọng quyết định đến việc mở rộng thị trờng cho hàng xuất
khẩu của nớc ta. Tuy nhiên, lực lợng lao động của nớc ta có chất lợng thấp cần phải đẩy
mạnh đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và quản lý, mặt khác lực lợng lao động của nớc ta còn
cha đợc khai thác một cách có hiệu quả. Cẩn phải khai thác có hiệu quả hơn để tạo lợi thế
so với các nớc khác trong việc phát triển sản xuất nói chung và thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu.
Mặt khác thông qua quá trình đổi mới thì nền kinh tế nớc ta đã có sự chuyển biến
tích cực về mọi mặt kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có bớc phát triển nhất định, tốc độ phát
triển kinh tế cao và ổn định, môi trờng kinh tế ổn định, đã tác động góp phần đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu làm cho kim ngạch xuất khẩu của nớc ta tăng trung bình 22%/ năm.
2. Môi trờng Chính trị - xã hội
Cùng với quá trình mở cửa để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Đảng
và Nhà nớc ta đã chủ trởng phát triển hoạt động ngoại thơng theo hớng
- Nhà nớc quản lý thống nhất đối với hoạt động ngoại thơng theo chính sách và
pháp luật, đồng thời mở rộng quyền hạn cho các ngành, các địa phơng và các cơ sở sản
xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ tình trạng độc
quyền trong sản xuất kinh doanh xuất khẩu.
- Mọi doanh nghiệp đều đợc phép kinh doanh xuất khẩu trực khi có đủ các điều kiện
theo quy định của nhà nớc.
- Thực hiện chính sách đa phơng hoá thị trờng : những thị trờng quan trọng của Việt
Nam là ASEAN, Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc và tơng lai là Mỹ.
Nhờ chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thúc đâỷ hoạt động ngoại thơng phát triển và nó là tiền đề cho việc phát triển liên
tục với tốc độ cao ( 22%/ năm ) trong thời gian qua.
II. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUỘC MÔI TRỜNG KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Mặt thuận lợi :
Thông qua xu hớng toàn cầu hoá thì môi trờng kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ
vào nền kinh tế nớc ta nói chung và hoạt động xuất khẩu của nớc ta nói riêng.
Toàn cầu hoá nền kinh tế đã đa đến hệ quả tất yếu đó là các quốc gia phải mở cửa để
hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã và đang tích cực tham gia và xu thế này,

trờng trớc sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá các nớc khác.
Trên thị trờng thế giới nớc ta mới xuất khẩu chủ yếu là các nguyên liệu và sản phẩm
sơ chế, nh dầu thô, gạo, cà phê, chè, cao su. Còn các sản phẩm công nghiệp chế biến nhất
là sản phẩm chất lợng cao còn ít, sức cạnh tranh yếu. Trong khi đó giá cả các mặt hàng
nguyên liệu và sơ chế lại bấp bênh hay bị tác động xấu bất lợi cho nớc xuất khẩu.
Ngoài ra, môi trờng quốc tế còn đặt ra cho hoạt động xuất khẩu của nớc ta nhiều
khó khăn bất lợi nh tình trạng mất ổn định của nền kinh tế thế giới và khu vực, hệ thống
hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nớc đặt ra, tình trạng gian lận thơng mại là
những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến thị trờng, giá cả của hàng hoá xuất khẩu của nớc ta,
do đó mà môi trờng quốc tế có tính quyết định đến sự tồn tại, đứng vững và phát triển của
hàng hoá nớc ta.
III. VAI TRÒ CỦA NHÀ NỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1. Chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trờng xuất khẩu
Thành công đáng kể trong công tác thuế đẩy xuất khẩu trong thời gian qua là đã vợt
qua đợc cơn sốc xảy ra năm 1991 - 1992 do sự biến đổi chính trị của các nớc XHCN,
Đông Âu và Liên Xô cũ. Việc mất đi thị trờng lớn này đã kích thích nhà nớc và các doanh
nghiệp Việt Nam phải tìm và khai thác các thị trờng mới. Bằng cách nỗ lực ngoại giao và
chính sách kinh tế đối ngoại đúng đắn nhằm mở đờng và kích thích quan hệ buôn bán của
các doanh nghiệp, chính phủ Việt Nam đã ký trên 70 hiệp định thơng mại và hiện nay có
quan hệ buôn bán với trên 110 nớc trong đó đáng chú ý là hiệp định hợp tác kinh tế với
Liên minh Châu Âu ký ngày 17/7/1995, tham gia vào AFTA, bình thờng hoá quan hệ buôn
bán Việt Nam - Trung Quốc, ký hiệp định thơng mại với Mỹ, gia nhập APEC, WTO, cơ
cấu thị trờng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là Châu Á 80%, Châu Âu 15%, Châu Phi
3%, Châu Mỹ 2%.
2. Nhà nớc phải thành lập các Tổng công ty và các tập đoàn kinh doanh lớn để
tăng sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
Trong những năm gần đây, hàng loạt các Tổng công ty, các tập đoàn đã đợc thành
lập. Trong điều kiện thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý và khả năng vơn tầm hoạt động
ra thị trờng thế giới của từng doanh nghiệp còn hạn chế, việc làm này đã giúp các doanh
nghiệp trong cùng ngành liên kết để phát huy sức mạnh tổng hợp với tầm vóc ( thế và lực )

vực cần u tiên có những quy định miễn, giảm thuế. Sau khi có luật thuế, cơ cấu biểu thuế
xuất nhập khẩu thì chính phủ Việt Nam đã không ngừng sửa đổi cho phù hợp với tình hình
trong nớc cũng nh trên toàn thế giới và khuyến khích xuất khẩu ( luật thuế xuất nhập khẩu
đợc sửa đổi vào 5/1992 và tháng 1/1993 )
Chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt tạo điều kiện cho việc thúc đẩy xuất khẩu :
Từ năm 1987 Việt Nam bắt đầu thực hiện cải cách trong cơ chế điều hành tỷ giá
đồng Việt Nam ( VNĐ ) với đô la Mỹ ( đồng tiền đóng vai trò quan trọng trong quan hệ
thanh toán của Việt Nam với nớc ngoài ). Khoảng cách giữa tỷ giá quy định của ngân hàng
Trung ơng so với tỷ giá thị trờng tự do đợc thu hẹp qua các năm. Thời kỳ 1991 - 1992 mức
tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc điều chỉnh linh hoạt trong giai đoạn 1993 - 1995 Việt Nam
đã theo đuổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đến đầu năm 1995 tỷ giá của hệ thống
ngân hàng so với tỷ giá thị trờng tự do chênh lệch không đáng kể nữa. Chính sách tỷ giá
hối đoái trên góp phần giữ vững đợc giá trị đồng tiền Việt Nam cả về danh nghĩa và giá trị
thực và kiềm chế lạm phát, khuyến khích xuất khẩu tăng lên hàng năm.
7. Nhà nớc phải thành lập các tổ chức xúc tiến thơng mại của Việt Nam
Một kinh nghiệm quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu là thành lập các tổ chức
xúc tiến thơng mại. Đây là các tổ chức phi lợi nhuận có nhiệm vụ thu thập và nghiên cứu
thông tin về thị trờng ngoài nớc, bố trí triển lãm, tham gia các hoạt động giao lu quốc tế
nhằm hỗ trợ phát triển các mặt hàng mới hoặc ngành nghề sản xuất cụ thể hỗ trợ việc thực
hiện các chơng trình nằm trong chính sách xuất khẩu của Nhà nớc và tổ chức hợp tác kinh
tế đối ngoại.
Việt Nam nên có một tổ chức xúc tiến thơng mại đủ mạnh để chuyên làm các nhiệm
vụ kể trên. Việc thành lập tổ chức này sẽ cho phép mở rộng khả năng phối hợp giữa các
Bộ, các cơ quan trong việc quản lý nhà nớc về hoạt động xuất khẩu cũng nh khả năng cung
cấp thông tin và khả năng tham gia vào thị trờng nớc ngoài của các doanh nghiệp Việt
Nam
Một điều đáng lu ý là hiện nay một số tổ chức xúc tiến, thơng mại đã có mặt ở nớc
ta song chúng ta còn yếu trong công tác phối hợp hoạt động của các tổ chức này.
IV. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NỚC TRONG
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1990 6.650 7330 + 13,30 + 67,30
1991 12.720 12330 - 0,02 + 68,00
1992 10.720 10550 - 0,02 + 17,30
1993 10.835 10736 -0,01 + 3,20
Bảng số liệu trên cho ta thấy tỷ giá VNĐ/USD qua các năm có biến động lên xuống.
Tuy nhiên tổng quát mà nói trong khoảng thời gian này tỷ giá VNĐ/USD có khuynh hớng
tăng và đợc nhà nớc điều chỉnh sát với giá thị trờng tự do. Điều này chứng tỏ nhà nớc bắt
đầu thả nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã đợc quan tâm đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả
nổi tỷ giá đã:
- Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ nhằm mục đích hởng chênh lệch
- Tình trạng tỷ giá thờng xuyên đột biến và thiếu ngoại lệ đã gây ra những cơn sốt
USD làm mất ổn định nền kinh tế
- Quản lý ngoại tệ của Chính phủ không đạt đợc kết quả mong muốn
- Nhà nớc đã không kiểm soát đợc lu thông ngoại tệ.
b. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996
Năm Tỷ giá USD/ VNĐ So sánh % năm trớc Tốc độ lạm phát
1 2 3 4
1993 1083300 100,00% 3,2%
1994 1103000 + 1,98% 14,4%
1995 1104000 0% 12,7%
1996 1106600 + 0,18% 4,3%
Do tỷ giá chính thức của Nhà nớc và tỷ giá thị trờng tự do trong thời gian này không chênh
nhiêù nên chúng ta chọn tỷ giá chính thức của Nhà nớc làm cơ sở tính toán. Qua số liệu
trên bảng trên chúng ta thấy tốc độ tăng tỷ giá chậm hơn tốc độ tăng của lạm phát vì phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu ngoại tệ, vào cụm các nhân tố kinh tế đối ngoại.
Tuy nhiên việc cố định tỷ giá trong một thời gian dài ( 1993 - 1996 ) đã không
khuyến khích đợc xuất khẩu đã làm cho ngoại thơng kém phát triển biểu hiện cụ thể qua
bảng sau :
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu So sánh
1 2 3 4 = 3 - 2

giá trị VNĐ phản ánh tơng đối xác thực cung cầu ngoại tệ góp phần kiềm chế lạm phát,
một mặt đáp ứng khả năng hỗ trợ xuất khẩu mặc dù giá cao su giảm 42%, dầu thô giảm
30%, giày da và may mặc cũng đang giảm mạnh. Riêng mặt hàng gạo trong năm qua bị
thiên tai, lũ lụt do cơn bão số 5 gây ra nhng ta vẫn cố gắng khắc phục và nhanh chóng duy
trì xuất khẩu gaọ.
- Nguyên nhân nhập siêu trong thời gian qua là do ngân hàng điều hành tỷ giá bị
đông cứng, do tỷ giá có tác động lớn đến nhập khẩu, nó là giá của hoạt động xuất nhập
khẩu. Tỷ giá đứng ( trên thực tế là giảm so với biến động giá trong nớc ) làm cho bán cũng
rẻ mà mua cũng rẻ.
- Bán rẻ không khuyến khích bán, mua rẻ sẽ khuyến khích mua, mua đợc khuyến
khích, bán bị hạn chế do đó đa đến tình trạng nhập siêu, ngoài ra còn nguyên nhân khác là
định hớng xuất khẩu yếu, tình trạng nhập lậu tràn lan, trốn thuế, cha đợc quản lý chặt chẽ.
Bớc sang năm 1998 tình hình tỷ giá hối đoái trong nớc ngày càng trở lên phức tạp,
giá USD mỗi ngày một tăng thậm chí có ngày thay đổi vài lần đã ảnh hởng tiêu cực đến
đời sống kinh tế xã hội nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Trớc tình hình đó Chính phủ có một quyết định đúng đắn nhằm kiểm soát hoạt động
ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam bằng việc ban hành quyết định 37/1998/QĐ - TTg ngày
14/2/1998 về một số biện pháp quản lý ngoại tệ đây là một bớc thành công lớn của Nhà
nớc nhằm kiểm sóat và quản lý ngoại tệ làm cho tỷ giá của thị trờng tự do và tỷ giá thị
trờng có tổ chức ( Thị trờng liên ngân hàng ) đã sát lại gần nhau và hiện nay ngân hàng đã
kiểm soát đợc trên 90% lợng ngoại tệ giao dịch trên thị trờng.
2. Thực trạng của việc thực hiện chính sách thuế xuất khẩu trong điều hành
hoạt động xuất khẩu
Chính sách thuế xuất khẩu đợc thể hiện ở luật thuế xuất khẩu và các văn bản pháp
quy dới luật nh Nghị định, quyết định của Chính phủ, các thông t hớng dẫn của Bộ, ban
ngành có liên quan trong lĩnh vực xuất khẩu.
Luật thuế xuất khẩu hiện hành đợc quốc hội ban hành từ năm 1987 và đã đợc sửa
đổi và bổ sung hai lần vào năm 1991, 1993 cho phù hợp với chính sách mở rộng kinh tế
đối ngoại và thực tiến hoạt động xuất khẩu của nớc ta trong từng thời kỳ phát triển kinh tế.
Trong những năm qua nhờ việc thực hiện luật thuế xuất có hiệu quả đã phát huy tác dụng

những sai sót trong công tác quản lý nhà nớc đối với hoạt động xuất khẩu thì còn nguyên
nhận thuộc về phía ngời quản lý đó là việc còn nhiều cán bộ quản lý thiếu năng lực quản
lý, quan liêu tham ô, nhng ngoài ra thủ tục hành chính trong điều hành hoạt động xuất
khẩu còn quá rờm rà đã gây ra những trở ngại cho hoạt động xuất khẩu
3. Thực trạng việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nớc đối với hoạt động xuất
khẩu
Việc quản lý nhà nớc đối với hoạt động xuất khẩu ngày càng đợc cải tiến và hoàn
thiện theo hớng khuyến khích xuất khẩu. Vừa qua Quốc hội đã thông qua luật thơng mại
tạo nên khuôn khổ pháp lý ổn định cho hoạt động xuất nhập khẩu Nhà nớc tập trung quản
lý xuất khẩu vào một đầu mối đó là Bộ Thơng Mại. Bộ Thơng mại thực hiện chức năng
thống nhất quản lý nhà nớc và phối hợp với các Bộ và các cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc chính phủ để quản lý hoạt động ngoại thơng nói chung và hoạt động xuất khẩu nói
riêng.
Hiện nay tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình không phân biệt thành phần
kinh tế đều đợc tự do buôn bán với nớc ngoài trên cơ sở luật định. Đối với các doanh
nghiệp đã có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu chính thức đợc xuất khẩu và nhận uỷ
thác xuất khẩu cả những mặt hàng ngoài phạm vi ngành hàng ghi trong giấy phép kinh
doanh trừ một số mặt hàng có quy định riêng nh gạo, hàng dệt may xuất khẩu vào EU,
Canađa, Thổ Nhĩ Kỳ. Cà phê, sản phẩm gỗ, lâm sản và lâm sản chế biến, hàng xuất khẩu
theo quy chế quản lý chuyên ngành.
Từ cuối năm 1995, thủ tục cấp giấy phép xuất, nhập khẩu từng chuyến hàng đã đợc
bãi bỏ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cũng nh các doanh
nghiệp sản xuất và đọc đông đảo các doanh nghiệp đánh giá cao. Đây là một trong các lý
do giải thích vì sao kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh.
PHẦN III
NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NỚC
TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nớc đối
với hoạt động xuất khẩu thì vẫn còn chứa đựng những sai sót, bất cập trong quá trình quản
lý nhà nớc đối với hoạt động xuất khẩu do đó để nâng cao năng lực quản lý của mình và

thơng mại, tăng dự trữ ngoại tệ ở ngân hàng Nhà nớc đồng thời có biện pháp quản lý các
luồng chuyên ngoại tệ về nớc qua ngân hàng, hạn chế tối đa phạm vi sử dụng đồng ngoại
tệ, nhằm thu hút các nguồn vốn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, đồng thời kiểm soát đợc
một cách có hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ tạo một cơ sở nền tảng cho điều hành
chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng.Mặt khác cần tiếp tục
chỉnh sửa chính sách quản lý ngoại hối cho phù hợp không gây khó khăn cho sản xuất
kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu. Việc quy định các ngân hàng
cổ phần chỉ giữ đợc một lợng ngoại tệ tối đa bằng 15% vốn tự có cũng gây trở ngại cho
ngân hàng và cả các doanh nghiệp.
7. Nhà nớc cần ban hành chính sách thuế xuất khẩu phải tạo điều kiện cho mọi
thành phần kinh tế tham gia bình đẳng vào hoạt động xuất khẩu đồng thời chính sách
thuế xuất khẩu phải phù hợp với những yêu cầu của hội nhập kinh tế, thông lệ quốc tế,
chống lại thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh của nớc ngoài.
8. Nhà nớc phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý cho các cán bộ quản
lý trong lĩnh vực xuất khẩu làm cho đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng đợc yêu cầu của
tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
9.Nhà nớc phải không ngừng cải cách thủ tục hành chính trong việc điều hành
hoạt động xuất khẩu đồng thời nhà nớc cũng phải có biện pháp làm cho bộ máy quản lý
của mình trong hoạt động xuất khẩu đợc gọn nhẹ hơn và có hiệu quả hơn.
II. ĐỊNH HỚNG CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
Cùng với quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì hoạt động xuất
khẩu của nớc ta có những bớc phát triển nhất định vì vậy vai trò quản lý của Nhà nớc
trong hoạt động xuất khẩu phải đợc đổi mới theo hớng
- Nhà nớc phải thực hiện vai trò định hớng cho hoạt động xuất khẩu thông qua việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hớng về xuất khẩu
- Nhà nớc phải thực hiện vai trò trong việc tìm kiếm thị trờng cho hàng xuất khẩu
và làm cho nhà nớc thực sự trở thành nhân tố quyết định trong việc phát triển hoạt động
xuất khẩu đồng thời làm cho hoạt động xuất khẩu phát triển lành mạnh góp phần phát triển
kinh tế.
- Nhà nớc phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý của mình và làm cho công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status