Triết lý nhân sinh trong phong, tục tập quán của người thái ở sơn la - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

NGUYỄN HỒNG QUANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN
CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

NGUYỄN HỒNG QUANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN
CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 6
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ....................................................... 6
5. Giả thuyết khoa học ............................................................................... 6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 7
7. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu ................................................................ 7
8. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 8
9. Cấu trúc luận văn ................................................................................... 8
10. Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả ................ 8
Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN
CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA ....................................................... 10

1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................ 10
1.1.1. Triết lý............................................................................................ 10
1.1.2. Nhân sinh ....................................................................................... 11
1.1.3. Khái niệm triết lý nhân sinh .......................................................... 13
1.1.4. Khái niệm phong tục, tập quán ...................................................... 15
1.1.5. Vai trò của phong tục, tập quán trong đời sống xã hội.................. 18
1.2. Khái quát về dân tộc Thái và phong tục, tập quán của người
Thái ở Sơn La ......................................................................................... 20

2.1.5. Giáo dục ý thức bảo vệ quê hương đất nước ................................. 92


2.1.6. Giúp người dân Thái sống lạc quan, yêu đời ................................. 93
2.2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của triết lý nhân sinh
trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La ......................... 93
2.2.1. Những hạn chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập
quán của người Thái ở Sơn La ...................................................... 93
2.2.2. Nguyên nhân hạn chế của triết lý nhân sinh trong phong tục,
tập quán của người Thái ở Sơn La ................................................ 96
2.3. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị, khắ c
phu ̣c những ha ̣n chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập
quán của người Thái ở Sơn La ............................................................. 98
2.3.1. Giải pháp về kinh tế xã hội ............................................................ 98
2.3.2. Các giải pháp đối với cơ chế chính sách về văn hóa ................... 100
2.3.3. Các giải pháp đối với người dân Thái ......................................... 102
Tiểu kết chương 2.......................................................................................... 103
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 107


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã viết: “Bảo tồn và
phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn
ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch
sử, văn hóa. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm văn hóa nhân
loại”. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng
cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn

nước. Việc khai thác những giá trị truyền thống có giá trị tích cực qua góc
nhìn của triết học, sẽ mang lại hiệu quả hơn trong công tác kế thừa, bảo tồn,
phát triển và tuyên truyền, phổ biến những giá trị truyền thống đó của người
Thái ở Sơn La. Tìm lại giá trị xưa trong những hình mẫu, phong tục cũ của
dân tộc mình đã trở thành nhiệm vụ và quyền lợi đặt ra cho thế hệ sau.
Việc nghiên cứu và phát hiện ra những vấn đề triết lý nhân sinh ẩn
trong các phong tục, tập quán của người Thái sẽ góp phần nói lên vai trò và ý
nghĩa của các phong tục truyền thống này. Đồng thời góp phần vào sự nghiệp
giáo dục cho thế hệ trẻ nhất là người Thái nhận thức được và tiếp tục phát huy
các giá trị nhân sinh trong phong tục của dân tộc mình.
Từ những lý do trên, nhằm mục đích tìm hiểu và khai thác các giá trị
truyền thống của đồng bào Thái chúng tôi chọn "Triết lý nhân sinh trong
phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La" làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về phong tục, tập quán
Phong tục, tập quán là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá
trị tinh thần, bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy phong
tục, tập quán đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở những


3
góc độ, những khía cạnh khác nhau. Vấn đề về văn hóa, phong tục và tập quán
đã có rất nhiều tác giả, công trình khoa học khác nhau nghiên cứu. Trong đó,
phong tục tập quán của người Thái ở Sơn La cũng đã được nghiên cứu, nhìn
nhận ở khía cạnh triết lý nhân sinh, các công trình nghiên cứu cụ thể:
Bùi Xuân Đính (1995), “Lệ làng phép nước”, Nxb Hà Nội [21]. Cuốn
sách bước đầu đã giới thiệu một cách tương đối có hệ thống về nguồn gốc, điều
kiện xuất hiện hương ước, nội dung cơ bản của hương ước, mối quan hệ giữa
pháp luật nhà nước phong kiến với hương ước. Chỉ ra những tác động tích cực,
tiêu cực, đặt hương ước trong di sản của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể.
Các công trình trên đã đề cập đến phong tục, tập quán, luật tục của một
số dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu vai trò, tác động của luật tục lên đời sống,
mối quan hệ giữa luật tục với pháp luật, từ đó đề xuất những giải pháp thực
tiễn để vận dụng vào quản lý xã hội.

2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về người lịch sử, dân tộc học người Thái
Cầm Trọng (1978), “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội [58]. Công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội, tập
quán người Thái Tây Bắc Việt Nam;
Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (1999, 2003), “Luật tục Thái ở Việt Nam”
Nxb. Văn hóa dân tộc [55], [56]. Cuốn sách này là tập hợp những tài liệu có nội
dung về người Thái ở Tây Bắc và về luật tục của đồng bào Thái, gồm cả luật tục
thành văn và luật tục bất thành văn đã được dịch từ chữ Thái cổ ra tiếng Việt.
Cầm Trọng (2005), “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, Nxb.
Chính trị Quốc gia Hà Nội [60]. Công trình nghiên cứu về lịch sử, các lĩnh
vực văn hóa, kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo của người Thái Việt Nam.
Vì Văn Sơn, (2008) “Luật tục Thái trong tự quản của cộng đồng bản
dân tộc Thái tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội [50]. Tác giả


5
chỉ rõ mối tương quan giữa pháp luật và luật tục người Thái, làm rõ giá trị của
luật tục Thái trong việc quản lý cộng đồng bản dân cư ở Nghệ An.
Vì Văn Sơn, (2015) “Luật tục Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà
nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam”, Luận
án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội [51]. Trên cơ sở những nhận định về giá trị và
hạn chế trong luật tục Thái, tác giả đã nêu ra các giải pháp và yêu cầu về sự
cần thiết và tính có thể vận dụng vào trong quản lý nhà nước ở các tỉnh Bắc
Trung bộ Việt Nam.

3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm tòi phát hiện những giá trị của phong tục tập
quán đặc sắc của người Thái ở Sơn La. Từ đó làm rõ khía cạnh nhân sinh
trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La cũng như giá trị của nó
trong sự phát triển văn hóa hiện nay. Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản
nhằm bảo tồn phát huy những giá trị nhân sinh trong phong tục, tập quán của
người Thái ở Sơn La nói riêng và văn hóa Thái nói chung.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Thái ở Sơn La
hiện nay.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán đặc sắc của người Thái ở
Sơn La.
5. Giả thuyết khoa học
Triết lý nhân sinh của người Thái đó là các quan điểm, quan niệm về
con người, về cuộc đời con người, về mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, giữa con người với con người và với đời sống tâm linh của con người.
Triết lý nhân sinh của người Thái được hình thành từ chính hoạt động sản


7
xuất và trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của họ. Chúng được thể hiện một
cách sinh động trong các phong tục, tập quán, đã đi cùng với cộng đồng người
Thái qua bao thế hệ, trở thành những chân giá trị mang đậm bản sắc văn hóa
của người Thái. Giá trị tích cực triết lý nhân sinh phong tục, tập quán trong
của người Thái ở Sơn La đã góp phần làm phong phú, đa dạng đời sống tinh
thần của người Thái ở Sơn La nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Triết lý nhân sinh phong tục, tập quán trong của người Thái ở Sơn La là
yếu tố tạo nên bản sắc riêng biệt trong sự đa dạng phong phú của văn hóa Việt

Phương pháp lịch sử: Để nghiên cứu về trang phục người Thái tỉnh Sơn La
dưới góc độ lịch sử.
Phương pháp điền dã: phương pháp này được xem là công cụ cơ bản
trong thu thập khai thác các thông tin văn hóa, kỹ thuật, mỹ thuật, vật chất
tinh thần….
Phương pháp tổng hợp, hệ thống, phân tích. Các phương pháp này
được áp dụng trong việc xử lý các thông tin được khai thác từ các mẹ, bác,
chú để trình bày trong luận văn.
Phương pháp khái quát trừu tươ ̣ng hóa, phương pháp so sánh, đối
chiếu, đo đạc, khảo tả. Những phương pháp này được áp dụng để xử lý các
thông tin nhằm tìm ra khác biệt trong phong tục, tập quán của dân tộc Thái và
các dân tộc khác ở Sơn La.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 2 chương và 7 tiết.
10. Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1. Luận điểm cơ bản
- Triết lý nhân sinh của người Thái gắn liền với phong tục, tập quán là
một sự thể hiện khát vọng của con người đang hướng đến những cái tốt đẹp,
cái thiện.


9
- Triết lý nhân sinh của người Thái là sự phản ánh hiện thực cuộc sống,
phản ánh mối quan hệ không tách rời giữa con người với con người, giữa con
người với thế giới.
- Những giá trị tích cực trong phong tục tập quán Thái có ý nghĩa quan
trọng trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói riêng và toàn thể xã hội
nói chung của người Sơn La hiện nay.
10.2. Đóng góp mới của luận văn

Hồ Chí Minh tác giả có viết: “Triết lí có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm
súc nhưng ý nghĩa về nhân sinh thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể
là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết… Triết lí đúng
vào khoa học thì nó sẽ trở thành cơ sở lí luận khoa học cho một hệ thống
quan điểm, học thuyết, nó làm công cụ lí thuyết cho hành động hiệu quả của
con người” [35, tr.9].
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, so với triết học, triết lý có thể được
hiểu ở trình độ thấp hơn, chỉ là cơ sở cho một hệ thống quan điểm, một học


11

thuyết. Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, triết lý là kết quả những kinh
nghiệm và lẽ sống của nhiều thế hệ đi trước đúc kết lại, vừa có tính giai cấp
vừa có tính lịch sử.
Triết lí là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành các
quan điểm, luận điểm, thành những phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về
cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã
hội. Chúng có vai trò định hướng cho cuộc sống và những hoạt động thực tiễn
rất đa dạng ấy. Triết lí có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý
nghĩa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể là một hệ
mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết... Triết lí đúng sẽ trở thành
cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết, định hướng
cho hành động của con người.
Trên cơ sở đó, theo chúng tôi: Triết lý có thể là những kết luận được
rút ra, suy ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nhất
định. Đồng thời triết lý còn là những tư tưởng, những quan niệm (thường
được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích) phản
ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh động mọi
mặt của mỗi cá nhân và của cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm

phương hướng mục tiêu cho hoạt động (lý tưởng sống). Nếu như phản ánh
đúng khuynh hướng khách quan cuả lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải
tạo xã hội một cách hợp lí, nhưng nếu phản ánh không đúng thì nó có tác
dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên.
Nghiên cứu Triết lý nhân sinh tức là việc trả lời những câu hỏi:
Người ta sinh ra ở đời để làm gì? Muốn cái gì? Sống như thế nào? Bản thân
mình có vị trí, vai trò gì trong xã hội? Nói một cách khác, nghiên cứu vấn
đề nhân sinh tức là nghiên cứu về bản chất, mục đích, thái độ và hành vi
của đời sống con người.


13

1.1.3. Khái niệm triết lý nhân sinh
1.1.3.1. Quan niệm về triết lý nhân sinh trong lịch sử triết học
Triết lí nhân sinh gồm những quan niệm về cuộc sống của con người:
Con người là gì? Con người từ đâu mà sinh ra? Con người chết rồi sẽ ra sao?
Vị trí của con người trong cuộc đời? Lẽ sống của con người là gì? Mục đích,
ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng
đáng? Trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan.
Khi quan niệm về nhân sinh trong lịch sử triết học đã có rất nhiều nhà tư
tưởng triết học Phương Đông đưa ra nhiều chính kiến và luận giải khác nhau,
nó được thể hiện trong các học thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Chu
Hy… Dưới lăng kính của các học giả tư sản thì quan niệm về nhân sinh cũng
có nhiều cách luận giải khác nhau... Những quan niệm trước đây gồm cả những
tư tưởng phong kiến với tư tưởng an phận, thiếu chí tiến thủ và tư tưởng hoài
nghi, độc hại của giai cấp tư sản gieo rắc xung quanh trong thời kì mới.
Nhân sinh quan trong thời đại mới được đưa ra nhằm mục đích bóc
tách và vạch ra những sai lầm của quan niệm cũ, quan niệm phản tiến bộ và
xây dựng một quan niệm mới về cuộc sống. Nhân sinh quan là cách nhìn nhận

bờ, chi bằng lo sửa mình, thoát nơi cuộc đời trần tục về nơi Tây Trúc.
Người thanh niên cũng tự đặt ra cho mình quan niệm về lẽ sống cho
riêng mình với chủ trương: “Đã mang tiếng ở trời đất, phải có danh gì với
núi sông” [32, tr.6].
Người nông dân hay người công nhân cũng hô lớn những khẩu hiệu
cách mạng nhấn mạnh được nhiệm vụ vai trò của mình: “Chúng ta như những
chiến sĩ ngoài mặt trận chỉ biết tiến không biết lùi” [32, tr.6].
1.1.3.2. Quan niệm về triết lý nhân sinh trong triết học Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ
hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, đó là


15
nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người la thúc
đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động
lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no,
hạnh phúc, trên cơ sở đó hoàn thiện năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân
mình. Nhân sinh quan cách mạng mang tính chất của giai cấp vô sản và của
con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Để làm cho nhân sinh quan
cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về
nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng.
“Thế giới quan là những quan điểm, quan niệm của con người về thế
giới xung quanh, về bản thân và về cuộc sống của con người, về vị trí của con
người trong thế giới đó. Thế giới quan bao hàm nhân sinh quan, tức là toàn
bộ những quan niệm về cuộc sống của con người” [26, tr.11].
“Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử
triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất
con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng chính là nội dung cơ bản của
nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học” [26, tr.201].

quen đã được thừa nhận, được lặp đi lặp lại trở nên bền vững” [27, tr.27].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Tập quán là phương thức ứng xử
và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong
lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở
chỗ nó mang tính tĩnh tại, lâu bền khó thay đổi. Trong tình huống nhất định,
tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hóa. Tập quán xuất
hiện và định hình một cách tự phát hoặc hình thành và ổn định thông qua sự
rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt".
Cũng giống như những cuốn sách, công trình nghiên cứu về văn hóa,
thuật ngữ phong tục đi kèm với thuật ngữ tập quán. Cho nên, ở luận văn này,


17
tác giả cũng dung khái niệm này như một thuật ngữ khép kín giống như rất
nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng chứ không tách riêng ra thành hai thuật ngữ.
Phong tục, tập quán là một trong những khía cạnh thể hiện đậm nét bản
sắc của một dân tộc. Phong tục, tập quán sinh ra do nhu cầu của cuộc sống,
phát triển và định hướng theo sự định hình của xã hội tạo nên truyền thống.
Nhiều tác giả nghiên cứu về phong tục, tập quán đều có những quan điểm
tương đồng khi đưa ra các chức năng cơ bản của phong tục, tập quán, đó là:
Thứ nhất, chức năng tạo ra sự thống nhất cho xã hội: Tập quán là
những thói quen được hình thành trong cuộc sống và được mọi người tự giác
tuân theo. Nên những tập quán (thói quen) không đúng với phong tục sẽ bị
loại ra khỏi cộng đồng. Còn phong tục là những quy định, quy ước, những lẽ
sống của một cộng đồng, lúc đầu không có văn bản, về sau dần dần hình
thành văn bản. Đúc kết lại, chọn ra như vậy để con người chấp nhận nhau,
công nhận nhau, hòa vào nhau, sống hòa thuận, vui vẻ với nhau, không hà
hiếp cướp bóc của nhau. Quan hệ được với nhau như thế mới gọi là cộng
đồng… và trong chừng mực nào đó khi giao tiếp với các cộng đồng khác gồm
mình cũng không thấy xa lạ. Phong tục đó tạo ra tính thống nhất cho lối sống

nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo
nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Phong tục không mang tính cố
định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tùy tiện,
nhất thời như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành tập quán xã hội
tương đối bề vững. Phong tục, tập quán là một bộ phận của văn hóa, có vai trò
quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương.
Nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong cộng đồng.
Phong tục, tập quán còn được tuân thủ theo quy định của luật tục hay
hương ước. Người vi phạm có thể bị phạt vạ. Phong tục, tập quán còn là cơ sở
để hình thành nên pháp luật. Nó là công cụ hữu hiệu, quan trọng trong việc
điều chỉnh, quản lý các hành vi của con người. Chính vì vậy mà phong tục,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status