VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUANG HƯNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ
CÔI TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trung Hải
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan
Phản biện 2: TS. Nguyễn Ngọc Toản
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại Học viện Khoa học xã
hội..........giờ.........ngày..........tháng.........năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
khác.
Từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã
hội nhóm
1
đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội” với
hy vọng
áp dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng những kiến thức, kỹ năng
trong tiến trình trợ giúp nhóm trẻ em mồ côi giải quyết vấn đề của nhóm
(nâng cao tính cố kết nhóm) và nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong
nhóm (sự tự tin và kỹ năng sống) hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm
thân chủ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan
tâm của các nhà nhà nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu là trẻ em mồ
côi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội tôi lựa chọn một số công trình nghiên cứu
và báo cáo tiêu biểu.
Nhóm các công trình, tài liệu nghiên cứu về trẻ em mồ côi
Nghiên cứu “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay” năm
2008, của tác giả Dương Hải Yến đã phân tích các quy định của pháp luật
về bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để đưa ra giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ chăm sóc TETHCĐB trong
thực tiễn.
Trong tài liệu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp
luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở
Việt Nam của Vụ Pháp chế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2011), đã
tập trung đề cập đến các văn bản pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giúp các em phát
triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý, nhận thức để từng bước tái hòa nhập
cộng đồng.
Nhóm các công trình, tài liệu nghiên cứu về CTXH nhóm với trẻ em mồ
côi
Ở Việt Nam các hoạt động sinh hoạt nhóm đã bắt nguồn từ khá sớm
trong văn hóa tương thân tương ái của người Việt. Những nhóm điển hình
tiêu biểu như hoạt động của nhóm Hoa Phượng ở Hải Phòng, nhóm Hoa
Sữa ở Hà Nội, nhóm đồng đẳng hỗ trợ các thân chủ Xã hội bị bạo hành gia
đình, nhóm đồng đẳng sau cai nghiện của những người lạm dụng ma túy ở
nhiều địa phương giúp nhau sinh hoạt và phát triển kinh tế. Mặc dù đã có
các hoạt động nghiên cứu và thực hành CTXH nhóm dưới nhiều hình thức
khác nhau, song vẫn còn thiếu những nghiên cứu can thiệp vừa mang ý
nghĩa thực tiễn (trợ giúp thân chủ), vừa mang ý nghĩa lý luận (bổ
sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn).
Như vậy, có thể thấy có nhiều hoạt động nghiên cứu và thực hành
nhằm nâng cao năng lực cho một số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn,
song vẫn chưa nghiên cứu can thiệp nào đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng
3
phương pháp CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ
em SOS Hà Nội. Do đó việc nghiên cứu tập trung vào phương pháp CTXH
nhằm nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ em SOS Hà Nội là rất hữu
ích và cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng khó khăn, nhu cầu của trẻ em mồ côi và
các hoạt
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng;
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục trẻ em và các học thuyết
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài như thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết
xung đột xã hội và thuyết học tập xã hội. Việc sử dụng các thuyết trên vào
nghiên cứu giúp chúng ta có cơ sở để hiểu về tâm sinh lý cũng như quá
trình phát triển con người và những yếu tố có thể ảnh hưởng, tác động tích
cực, tiêu cực tới quá trình phát triển đó.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp công tác xã hội nhóm
Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp quan sát
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm nâng
cao năng lực cho nhóm trẻ em mồ côi, bổ sung về mặt lý luận cho việc ứng
dụng phương pháp nghiên cứu và thực hành với trẻ em nói chung và trẻ em
mồ côi nói riêng.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm đối với nhóm trẻ em
mồ côi còn thiếu tự tin, mặc cảm và nhút nhát thông qua tiến trình công tác
xã hội nhóm làm thay đổi nhận thức thái độ và hành vi để cá nhân hòa nhập
tốt hơn với cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực CTXH.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em mồ
Dựa vào thuyết xung đột xã hội, trong quá trình tổ chức hoạt động
cho nhóm trẻ mồ côi NVXH cần phải có những ứng xử phù hợp và giải
quyết các xung đột xuất hiện trong nhóm một cách hợp lý. Quan trọng hơn,
NVXH trong quá trình giúp đỡ nhóm trẻ mồ côi cần giúp tất cả thành viên
nhóm hiểu được các kỹ năng cơ bản, cách thức giải quyết mâu thuẫn để các
em tự điều chỉnh hành vi của mình. Từ đó, vấn đề có thể được giải quyết và
vẫn đảm bảo duy trì tốt các mối quan hệ vẫn ngay cả khi nhóm có mâu
thuẫn.
1.1.3.Thuyết học tập xã hội (Social learning theory)
6
Thuyết học tập được bắt đầu từ quan điểm học tập của Tarde (1843 1904). Trong quan điểm của mình, Tarde nhấn mạnh về ý tưởng học tập xã
hội thông qua ba quy luật bắt chước: đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước
người khác và sự kết hợp cả hai. Cá nhân học cách hành động vừ ứng xử
của người khác qua quan sát hoặc bắt chước.
Đối với trẻ mồ côi khi tham gia hoạt động nhóm sẽ có những em rụt
rè, thiếu tự tin nhưng bên cạnh đó có những em tự tin, bạo dạn. Trong quá
trình hoạt động những em thiếu tự tin quan sát thấy các bạn khác tích cực
dần dần các em sẽ học tập các hành vi đó. Như vậy thuyết học tập trong
sinh hoạt nhóm sẽ giúp cho các nhóm viên thay đổi hành vi không tương
hợp (hành vi lệch chuẩn) và củng cố hành vi tương hợp.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Công tác xã hội nhóm
* Khái niệm công tác xã hội (Có nhiều khái niệm của các tổ chức, cá nhân
khác nhau)
Theo các nhân viên xã hội Mỹ - NASW đưa ra năm 1970
Theo hiệp hội nhân viên xã hội quốc tế - IFSW năm 2000
Theo nhóm tác giả Việt Nam (2010): “Công tác xã hội là một nghề,
“CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp
của CTXH.
Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được
tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhâu, chia sẻ
những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động
nhóm và hướng đến giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động
CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới
sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội cũng có thể
là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên
xã hội”.
“CTXH với nhóm (còn gọi là làm việc với nhóm) là quá trình mà
nhân viên CTXH sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm để giúp đỡ nhóm và
từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu
cầu”
* Nhân viên xã hội
- Khái niệm Nhân viên xã hội (Social worker)
Theo Zastrow (1996) Nhân viên xã hội là người được đào tạo về
công tác xã hội. Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ
xã hội cho các cá nhân và gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội.
- Nhiệm vụ của nhân viên xã hội
- Vai trò của nhân viên xã hội.
1.2.2. Trẻ em mồ côi
* Khái niệm trẻ em
8
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm
1989 xác
định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ
là trẻ em,
9
nhằm phát hiện và can thiệp để ngăn ngừa các em tránh rơi vào hoàn cảnh
đặc biệt hoặc trợ giúp các em đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt vượt qua hoàn
cảnh của mình để
có thể hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
* Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi
Từ khái niệm về CTXH nhóm cũng như cách hiểu về nhóm trẻ em
mồ côi có thể hiểu: CTXH nhóm với trẻ em mồ côi là quá trình nhân viên
CTXH sử dụng phương pháp CTXH nhóm tác động đến nhóm đối tượng là
trẻ em mồ côi. Thông qua tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên
nhóm là trẻ em mồ côi được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động
tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung
tham gia vào các hoạt động nhóm và hướng đến giúp đỡ nhóm và từng cá
nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu.
1.3. Các vấn đề chung của công tác xã hội nhóm
1.3.1. Mục đích, ý nghĩa
CTXH nhóm ra đời và phát triển với mục đích thông qua hoạt động
của nhóm giúp các cá nhân giải quyết vấn đề và thoả mãn các nhu cầu được
an toàn, chia sẻ, cảm thông, được công nhận, được yêu thương gắn bó, được
khẳng định mình và nâng cao năng lực phát huy tiềm năng.
CTXH nhóm là môi trường tốt tạo cơ hội cho các cá nhân phát triển,
học hỏi và hàn gắn tổn thương, vì vậy, Klein (1972) đã đưa ra các mục đích
của CTXH nhóm như sau:
- Phòng ngừa
- Phục hồi
- Chỉnh sửa
* Giai đoạn kết thúc
- Lượng giá
- Kết thúc
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội nhóm với trẻ
em mồ côi
1.4.1. Hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam đối với trẻ em mồ côi
1.4.2. Hệ thống năng lực quản lý của cán bộ, nhân viên công tác xã hội
1.4.3. Đặc điểm Tâm lý xã hội của trẻ em mồ côi
- Mất niềm tin vào cuộc sống
- Sự ứng phó với trầm cảm
- Mặc cảm có tội lỗi tự trách mình:
- Giận dữ và có ác cảm:
- Hoài nghi, thiếu tin tưởng:
- Khó diễn tả cảm xúc bằng lời:
- Không nói thật:
11
Tiểu kết chương 1
Hoạt động CTXH đối với trẻ em mồ côi là một lĩnh vực còn khá mới
mẻ và có nhiều nét đặc thù riêng. Từ đó NVXH muốn tổ chức các hoạt
động CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng đạt được hiệu quả cao
nhất cần phải có sự hiểu biết về pháp luật, chính sách và các nhu cầu cơ bản
của các em.
Bằng việc áp dụng tiến trình CTXH nhóm lên đối tượng là trẻ em mồ
côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội sẽ giúp các em nâng cao năng lực hòa nhập
cộng đồng - đó không chỉ là mong muốn của tổ chức Làng trẻ em SOS Hà
Nội mà của toàn xã hội.
Chương 2
- Nhiệm vụ
Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; quản lí đối tượng; hướng nghiệp,
tìm việc làm; tái hòa nhập cộng đồng.
Ngoài chức năng trên thì mỗi bộ phận lại có chức năng, nhiệm vụ
riêng của mình nhằm đem đến những điều tốt đẹp nhất cho trẻ.
2.1.4. Cơ sở hạ tầng Làng trẻ em SOS Hà Nội
Làng được xây dựng trên diện tích khoảng 02 ha tại phường Mai
dịch, quận Cầu giấy, thành phố Hà Nội bao gồm: Khối văn phòng làm việc
của cán bộ, nhân viên ; khu nhà các gia đình; khu nhà về hưu; khu nhà
khách; khu nhà nhân viên và khu Lưu xá thanh niên.
2.1.5. Hệ thống tổ chức Làng trẻ em SOS Hà Nội
- Sơ đồ tổ chức bộ máy:
2.2. Hoạt động công tác xã hội tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
2.2.1. Tình hình hoạt động công tác xã hội tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
* Hoạt động tiếp nhận đối tượng
* Hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng:
* Hoạt động quản lý đối tượng:
2.2.2.Hoạt động công tác xã hội của cán bộ, nhân viên tại Làng trẻ SOS
Hà Nội
* Hoạt động chăm sóc y tế
* Hoạt động chăm sóc đời sống tinh thần
* Hoạt động giáo dục đối tượng.
* Hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề cho đối tượng.
* Hoạt động tái hoà nhập cộng đồng
2.2.3 Đánh giá hoạt động công tác xã hội tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
* Kết quả đạt được của các hoạt động CTXH
Làng trẻ em SOS Hà Nội chính thức đi vào hoạt động được 27 năm (tháng
1 năm 1990) đến nay Làng đã nuôi dưỡng và chăm sóc được nhiều trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trong đó có 235 trẻ đã hoàn toàn tự lập và 235
chưa có đội ngũ NVXH chuyên nghiệp mà tất cả các hoạt động, tổ chức của
Làng đều do các nhân viên chuyên ngành sư phạm đảm nhận, do đó các em
chưa được tổ chức hoạt động theo nhóm chuyên nghiệp như ngành CTXH.
Cụ thể, khi gặp những vấn đề tâm lý thì các em chỉ có thể chia sẻ với mẹ,
nhân viên giáo dục, các anh chị trong gia đình chứ chưa có cơ hội tìm đến
những chuyên gia tâm lý thực sự bởi vì Làng không có phòng tham vấn tâm
14
lý với cán bộ phụ trách chuyên nghiệp để giúp các em giải toả cũng như
tiến hành trị liệu tâm lý khi cần thiết.
Các em sống trong các gia đình thay thế với một bà mẹ - người có đủ
những phẩm chất đạo đức làm mẹ nhưng còn những hạn chế trong việc điều
phối các hoạt động gia đình do đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng các em chưa
được sát sao và đồng đều. Người mẹ ở đây có thể tổ chức các hoạt động
trong gia đình, cho các em vui chơi, ăn ngủ, đi học nhưng không thể trở
thành một người điều phối hoạt động nhóm chuyên nghiệp.
Các em chưa được tham gia nhiều các hoạt động xã hội tự nguyện mà
phần lớn đều là những hoạt động mang tính chất thường niên do Làng và
các đơn vị tình nguyện tổ chức nên chưa lôi kéo được sự tham gia nhiệt tình
của các em vì thế chưa phát huy được tác dụng thực sự của các hoạt động.
Do vậy cần phải có đội ngũ NVXH chuyên nghiệp làm nhiệm vụ tìm hiểu,
khảo sát nhu cầu của các em để đứng ra tổ chức các hoạt động đáp ứng nhu
cầu của các em mới có thể phát huy được tác dụng của các hoạt động này.
Mặt hạn chế khác là sau khi hết thời gian sống tại Làng, việc theo dõi
cũng như giám sát hoạt động của trẻ còn gặp nhiều khó khăn nên việc đánh
giá quá trình hòa nhập cộng đồng của các em có thật sự thành công hay
không cũng khó chính xác.
2.3. Đánh giá thực trạng và nhu cầu của nhóm trẻ mồ côi tại Làng trẻ em
khăn trên địa bàn Thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận trở thành những
công dân có ích cho xã hội. Đặc điểm đặc trưng của trẻ mồ côi tại Làng là
tính chủ động chưa cao, các em còn thiếu tự tin vào chính bản thân mình,
chính sự thụ động đó đã ảnh hưởng đến quá trình nhận thức và khả năng
tiếp cận các dịch vụ của các em. Vì vậy việc vận dụng các phương pháp
CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng là nhu cầu cần thiết để cho các
em nâng cao sự tự tin cũng như dễ dàng hơn trong việc hòa nhập cộng
đồng.
Chương 3
VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀO VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LỰC HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI TẠI
LÀNG TRẺ EM SOS, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Hồ sơ nhóm thân chủ
3.1.1. Thông tin chung về nhóm thân chủ
Gồm 10 trẻ (05 nam, 05 nữ) độ tuổi từ 13 đến 15, các em đến từ
những địa phương khác nhau nhưng đều chung một đặc điểm là trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt.
3.1.2. Cơ cấu nhóm thân chủ
Cơ cấu độ tuổi: Từ 13 đến 15
Cơ cấu giới tính: 05 nam, 05 nữ
Cơ cấu trình độ: lớp 7 đến lớp 9
16
Cơ cấu về hồ sơ pháp lý cá nhân: các em có đầy đủ giấy khai sinh, hộ
khẩu gia đình trước khi các em đến với Làng.
3.1.3. Đặc điểm tâm lí của nhóm thân chủ
Nhóm thân chủ đều là trẻ em mồ côi ( mất cha, mất mẹ hoặc mất cả
cha lẫn mẹ) vì vậy đặc điểm tâm lý nổi bật của các em là luôn luôn khao
17
4) Nâng cao khả năng hòa nhập xã hội, tạo môi trường thuận lợi để trẻ có
thể có cơ hội phát triển đầy đủ.
* Đánh giá khả năng tham gia của các thành viên
1) Nguồn lực khách quan
- Thời gian, địa điểm tổ chức sinh hoạt nhóm
- Được sự hỗ trợ, tạo điều kiện nhiệt tình của cán bộ, nhân viên trong
Làng giúp cho việc tổ chức sinh hoạt của nhóm diễn ra thuận lợi.
2) Nguồn lực chủ quan:
- Nhu cầu của các thành viên
- Đặc điểm nhóm thân chủ
- Thái độ của cán bộ trực tiếp quản lý, chăm sóc trẻ
* Thành lập nhóm
- Tuyển chọn nhóm
+ Tất cả các thành viên trong nhóm cùng được nuôi dưỡng và chăm sóc tại
Làng trẻ
em SOS Hà Nội.
+ Về cơ cấu độ tuổi: có độ tuổi từ 13 đến 15
+ Về cơ cấu giới tính: 5 nam và 5 nữ
+ Đều là trẻ có hoàn cảnh mồ côi, đặc điểm tâm sinh lý tương đồng nhau
+ Đều có nhu cầu tham gia sinh hoạt nhóm để nâng cao năng lực hòa nhập
cộng đồng.
- Thành phần nhóm
- Định hướng cho các thành viên trong nhóm
- Thỏa thuận nhóm
3.2.2 Giai đoạn nhóm hoạt động
* Giới thiệu các thành viên trong nhóm
* Thảo luận các nguyên tắc bảo mật thông tin của nhóm
+ Nội dung hoạt động:
Hoạt động 1: Giúp trẻ nhận diện một số khó khăn trong cuộc sống mà bản
thân các em phải có ý chí, nghị lực để vượt qua.
Hoạt động 2: Đóng kịch “mảnh đời của Đ”
Lượng giá buổi can thiệp thứ sáu:
Qua sơ đồ chúng ta nhận thấy các thành viên đã có sự gắn kết hơn rất nhiều
so với buổi sinh hoạt nhóm đầu tiên. Các em trở nên thân thiện, hòa đồng
và sẵn sàng giúp đỡ nhau khi cần thiết.
Lượng giá tổng thể
3.2.4.Giai đoạn kết thúc
* Lượng giá về phía nhóm thân chủ
1) Về cố kết nhóm
19
Các thành viên ( 10 thành viên) trong nhóm đã có sự đoàn kết, hợp tác với
nhau
trong các hoạt động, những mâu thuẫn, xung đột đã giảm. Theo quan sát
nhận thấy 10 nhóm viên bắt đầu có nhu cầu được gắn bó và được thừa nhận
là thành viên của nhóm. 10 nhóm viên đã có sự tự tin, học hỏi được nhiều
kinh nghiệm, tri thức, hành vi từ những nhóm viên khác.
2) Về sự tự tin của mỗi thành viên trong nhóm
Thông qua các trò chơi theo hướng tăng dần cấp độ, các em đã tỏ ra tự tin
hơn, các em dám chơi, dám bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình trong cá
hoạt động, kể cả tập sắm vai, đóng kịch làm viễn viên và tự tin đứng trước
đám đông.
3) Về kỹ năng chia sẻ
Nhờ việc sắp xếp khéo léo các hoạt động trong nhóm như chia sẻ những
điều tuyệt vời nhất về tình bạn, về ước mơ dẫn đến các em đã sẵn sàng chia
chung của cả nhóm. Từ đó ứng dụng phương pháp CTXH nhóm linh hoạt,
phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhóm thân chủ để không vi phạm
nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định của nhóm thân chủ.
NVXH đã có kế hoạch làm việc cụ thể, rõ ràng, tuân thủ các kế
hoạch đề ra, đảm bảo mục tiêu nhóm được thực hiện một cách trọn vẹn và
có hiệu quả cao nhất.
NVXH đã tạo ra bầu không khí thân thiện, thoải mái ngay từ đầu, cả
trong thời gian sinh hoạt cũng như khi tiếp xúc bề ngoài khiến cho nhóm
thân chủ thoải mái thân thiện với nhau hơn.
Các trò chơi được lựa chọn dễ thực hiện, vừa đảm bảo vui chơi vừa
đảm bảo trị liệu, phù hợp với đối tượng. Lúc can thiệp đã lôi kéo sự tham
gia của tất cả các thành viên, phân xử thắng bại công bằng, tạo ra sự thuyết
phục.
Ngoài ra NVXH đã sử dụng tốt các kỹ năng như : kỹ năng điều phối
sự tham gia của các thành viên trong nhóm, kỹ năng làm việc với cá nhân tỏ
ra không hợp tác, kỹ năng khuyến khích, kỹ năng thấu cảm… Việc thực
hiện tốt các kỹ năng này giúp NVXH tác động tới tất cả các thành viên
trong nhóm, giúp nhóm tương tác với nhau nhiều hơn, mang lại hiệu quả
tích cực là đã gắn kết nhóm, tạo ra sức mạnh tập thể trong quá trình rèn
luyện và tham gia các trò chơi có tính chất tập thể như vẽ
tranh, diễn kịch…
NVXH cũng đã làm tốt vai trò là một lãnh đạo nhóm, một giám sát
viên tốt. Thể hiện qua việc NVXH giới thiệu các hoạt động nhóm và việc
hướng dẫn để nhóm xây dựng các mục tiêu, nội quy nhóm cũng như việc
lãnh đạo nhóm trong
việc tổ chức các hoạt động với trò chơi trị liệu.
3.3. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công tác xã hội
nhóm đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội hiện nay
21
vọng của các em. Từ đó, tiếp tục cần sự quan tâm hơn nữa của các cấp
chính quyền, các bộ ngành chuyên môn để các em phát triển ngày một tốt
hơn.
22
KẾT LUẬN
Trẻ em mồ côi là đối tượng luôn phải chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc
sống, vì vậy các em cần được xã hội quan tâm và tạo điều kiện để cuộc sống
của các em trở nên tốt đẹp hơn. Sau một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
“Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành
phố Hà Nội” tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kết luận sau:
Làng trẻ em SOS Hà Nội là một cơ sở bảo trợ xã hội với chức năng
chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em mồ côi trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Tại
đây các em được chăm sóc một cách toàn diện và có những điều kiện thuận
lợi nhất để hòa nhập cộng đồng. Cũng tại nơi này các em nhận được sự
thương yêu, đồng cảm, sự sẻ chia từ cán bộ, nhân viên đó chính là nền tảng
cơ bản để các em phát triển toàn diện và từng bước tái hòa nhập cộng đồng.
Đây cũng chính là ưu thế nổi trội của việc chăm sóc theo mô hình gia đình
thay thế của tổ chức Làng trẻ em SOS so với các cơ sở bảo trợ xã hội khác
trên cả nước.
Đội ngũ cán bộ, nhân viên tại Làng trẻ em SOS Hà Nội có vai trò rất
quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em mồ côi. Tuy
nhiên phương pháp và kĩ năng CTXH của một số cán bộ, nhân viên còn hạn
chế chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của trẻ.
TEMC tại Làng trẻ em SOS Hà Nội đã được chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục khá toàn diện. Nhưng thực tế khi tiếp xúc với các em chúng ta
dễ dàng nhận thấy các em còn gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp cũng như
thiếu hụt một số kĩ năng trong cuộc sống. Vì vậy việc vận dụng phương