VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG QUỐC BAN
PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan. Các nội
dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên
công trình, thời gian và địa điểm công bố. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm
quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2016
NGƯỜI THỰC HIỆN
Phùng Quốc Ban
LĐ-TB&XH
Lao động - Thương binh và Xã hội
LĐTE
Lao động trẻ em
LHQ
Liên hợp quốc
UBND
Uỷ ban nhân dân
UNICEF
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations’ Children Fund)
CTXH
Công tác xã hội
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................... ................ .1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM. .................................................................................... 7
tâm đặc biệt và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm can thiệp và hỗ trợ có hiệu
quả đối với nhóm trẻ em thiệt thòi này. Sự quan tâm này được thể hiện: Việt Nam là
một trong những Quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em (1990). Việc phê chuẩn Công ước này đã đặt ra trách nhiệm pháp lý
của nước ta trước cộng đồng quốc tế và tạo ra sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ
về thực hiện quyền cơ bản, đặc biệt là quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo
lực về thể xác hoặc tinh thần, bị bỏ mặc xao nhãng, bị tổn thương hay lạm dụng.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình
trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục, trẻ em phải lao động nặng
nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số
19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004). Nhằm hướng tới trợ giúp cho tất cả mọi trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 267/QĐTTg phê duyệt Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015, trong đó
có việc tiếp tục duy trì và phát triển mô hình trợ giúp trẻ em lang thang, trẻ em phải
làm việc nặng nhọc, tiếp xúc với chất độc hại
Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã giúp nền kinh tế Việt Nam vươn
lên mạnh mẽ, GDP liên tục tăng trưởng ở mức cao và tương đối ổn định. Việt Nam
đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải
thiện, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc, phụ nữ và trẻ em. Bên cạnh những
thành tựu về phát triển kinh tế, Việt Nam cũng đạt những kết quả đáng ghi nhận về
xã hội, trong đó có mục tiêu vì trẻ em giai đoạn 2001- 2010 về cơ bản đã đạt và
vượt kế hoạch. Song cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, sự phân hoá giàu
1
nghèo ngày càng tăng. Nhiều trẻ em đã phải bỏ học để tự kiếm sống và giúp đỡ gia
đình. Một số trẻ em may mắn hơn khi không phải bỏ học thì phải chọn cho mình
một công việc nào đó để tự lo liệu tiền trang trải việc học tập của mình.
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội. Trong những
năm qua, thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước, Vĩnh Phúc đã đạt được
Từ những nhận thức trên, với mong muốn đề xuất những biện pháp công tác
xã hội nhằm hoàn thiện việc phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Công tác xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em cho
thấy các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động trẻ em và
phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em đã được tiến hành nghiên cứu. Các nghiên cứu
cụ thể về vấn đề này được nêu dẫn cụ thể dưới đây:
Các nghiên cứu cụ thể về lao động trẻ em và sử dụng lao động trẻ em đã
được tiến hành nghiên cứu rất bài bản bởi các nhà nghiên cứu thuộc Bộ Lao động –
TTB & XH. Các nghiên cứu cụ thể như:
Bộ Lao Động- Thương binh và Xã hội Việt Nam được sự giúp đỡ của
UNICEF tổ chức biên soạn tài liệu: Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam:
“Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt ở Việt Nam” vào năm 2009. Bản đánh giá đã phân tích các cơ chế chính
sách, văn bản pháp luật của Việt Nam về trẻ em, nhóm trẻ em đã bị thiệt thòi ở Việt
Nam để sử dụng sự giúp đỡ của UNICEF [2].
Báo cáo kết quả điều tra về lao động trẻ em tại 8 tỉnh, thành phố năm 2010
của Bộ Lao động- TB&XH và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Báo cáo đã đề cập
đến thực trạng về lao động trẻ em tại các tỉnh thành phố đặc trưng, đây là cơ sở để
nhà nước có các giải pháp về lao động trẻ em [11].
Tác giả Nguyễn Hải Hữu đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Tình
hình lao động trẻ em- Thực trạng và giải pháp”. Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề
lý luận và phân tích thực trạng lao động trẻ em trong những năm 2010 và đưa ra các
giải pháp căn bản về bảo vệ lao động trẻ em [18].
Tiếp theo các nghiên cứu trên, tác giả Quách Thị Quế Viện Khoa học Lao
động xã hội đã có bài viết “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang
trong chiến lược bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em” Bài viết đã cung cấp những
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác xã hội về
phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng
lao động trẻ em;
Phân tích thực trạng nhiệm vụ công tác xã hội trong phòng ngừa lao động trẻ
em tại tỉnh Vĩnh Phúc;
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với
phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng lao động
trẻ em.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Có rất nhiều khía cạnh có thể nghiên cứu phòng ngừa sử dụng lao động trẻ
em. Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu sâu lý luận và
thực tiễn về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ góc độ khoa học công tác xã
hội. Trong đó, sẽ đi sâu vào việc xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã
hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, xác định rõ các nhiệm vụ công tác
xã hội đối với phòng ngừa lao động trẻ em.
Nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Để nghiên
cứu được thực trạng công tác xã hội trong phòng ngừa lao động trẻ em tác giả sẽ
tiến hành điều tra trên các khách thể chính như: 100 trẻ em, 100 nhân viên công tác
tỉnh Vĩnh Phúc, thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa lao động trẻ em. Kết
quả nghiên cứu của luận văn là bằng chứng khoa học quan trọng cho các cơ quan
hữu quan trong việc áp dụng nhiều biện pháp trong thực hành công tác xã hội nhằm
thực hiện có hiệu quả việc phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; đồng thời khắc
phục những tồn tại, hạn chế hiện tại để đáp ứng yêu cầu về phòng ngừa từ xa cho
mọi đối tượng trẻ em.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em.
- Chương 2. Thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động
trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chương 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng
ngừa sử dụng lao động trẻ em tại tỉnh Vĩnh Phúc.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.1. Sử dụng lao động trẻ em
1.1.1. Lao động trẻ em
1.1.1.1. Khái niệm trẻ em
Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới
18 tuổi” [17].
Tại Việt Nam, căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm của con người Việt
Nam, luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
25/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSTE)
bắt buộc trong mọi trường hợp, có nghĩa là không thấp hơn 15 đối với độ tuổi tối
thiểu chung, 13 đối với công việc nhẹ nhàng, (16 tuổi với những điều kiện nhất
định) và 18 đối với công việc độc hại.
Theo quan niệm của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), trẻ em bị coi
là lao động trẻ em nếu trẻ em phải lao động trong những trường hợp sau:
- Lao động khi còn quá bé, công việc trọn thời gian;
- Làm quá nhiều giờ, cường độ cao ảnh hưởng đến việc học hành, vui chơi,
giải trí;
- Lao động và sống trên đường phố trong những hoàn cảnh tồi tệ;
- Quá căng thẳng ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần và tâm lí;
- Thù lao không tương ứng với công sức bỏ ra;
- Ảnh hưởng đến nhân phẩm như làm nô lệ, gán nợ, mại dâm, đi ăn xin;
- Làm công việc hay gánh vác trách nhiệm của người lớn [28]
Ở Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về lao động trẻ em. Tuy nhiên,
quan điểm của Việt Nam phù hợp với quan điểm của các tổ chức quốc tế về lao
động trẻ em.
Những quy định tại Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua năm 2012
về cơ bản phù hợp với những điều ước quốc tế về lao động trẻ em, quy định ở độ
tuổi lao động tối thiểu là 15, với những công việc nặng nhọc, độc hại là 18. Người
sử dụng lao động chỉ được sử dụng người đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các
công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội (LĐTBXH)
8
quy định. Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc, trừ một số
công việc cụ thể do Bộ Lao động-TB&XH quy định (Điều 163, 164) [27].
Bộ Luật lao động cũng quy định: Người lao động chưa thành niên là người lao
động dưới 18 tuổi và người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa
thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể
thức lao động trẻ em, mà chỉ xác định các hình thức lao động trẻ em nói chung gồm:
- Trẻ em trực tiếp hoặc gián tiếp làm những công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm;
- Trẻ em làm việc ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần, đao
đức và xã hội của trẻ;
- Trẻ em làm việc quá nhiều thời gian ở độ tuổi quá nhỏ, không có thời gian
cần thiết để học tập, vui chơi
Tuy nhiên ILO lại chỉ ra các hình thức lao động trẻ em tồi tệ. Theo Công ước
182 của ILO xác định rõ hình thức lao động trẻ em tồi tệ, những hình thức này đôi
khi cũng được dùng để chỉ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ vô thức, các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất có thể kể đến:
- Tất cả những hình thức nô lệ hay những tập tục giống như nô lệ, như buôn
bán trẻ em, giam cầm thiếu nợ, lao động khổ sai, lao động cưỡng ép, hay bắt buộc
để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang.
- Việc sử dụng ma túy hay chào mời trẻ em cho các mục đích mại dâm, cho
việc sản xuất sách báo hay các chương trình khiêu dâm.
- Việc sử dụng ma túy hay mời chào trẻ em cho các hoạt động bất hợp pháp,
đặc biệt cho việc sản xuất và buôn lậu ma túy như đã được định nghĩa trong các
hiệp ước quốc tế liên quan.
- Những công việc có khả năng làm hại đến sức khỏe, sự an toàn hay đạo đức của
trẻ em, do bản chất của công việc hay do hoàn cảnh, điều kiện tiến hành công việc.
Bảng 1.1. Phân biệt công việc của trẻ em
TT
1
Tiêu chí Có thể chấp nhận được
Tính
chất
công
ảnh hưởng đến thời gian học tập,
nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí
Điều kiện làm việc an toàn, môi
trường làm việc không độc hại, ô
nhiễm
Môi trường xã hội ở nơi làm việc
lành mạnh, không ảnh hưởng
đến sự phát triển về tinh thần,
đạo đức, xã hội
Được bù đắp thích đáng về vật
chất và tinh thần
Làm việc trên cơ sở tự nguyện,
nhằm rèn luyện bản thân và giúp
đỡ gia đình
Bị người lớn giám sát, kìm kẹp hoặc
khống chế trong quá trình làm việc
Trong thời gian làm việc dài nên
thiếu hoặc không có thời gian học
tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí
Điều kiện làm việc nguy hiểm, môi
trường làm việc độc hại, ô nhiễm
Môi trường xã hội ở nơi làm việc
không lành mạnh, dễ bị lạm dụng
thể xác, tình cảm hoặc tha hóa về
đạo đức, tinh thần
Không được động viên và trả công
thích đáng
Làm việc do bị người khác hoặc
hoàn cảnh bắt buộc, nhằm kiếm
Bảng 1.2. Phân biệt trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ em
Trẻ tham gia lao động
Lao động trẻ em
Công việc phù hợp với tuổi, khả năng thể Công việc nặng nhọc quá sức đối với
chất và trí tuệ của trẻ em
tuổi và khả năng của trẻ em.
Được người lớn chăm sóc và chịu trách Trẻ em lao động dưới sự giám sát của
nhiệm giám sát
người sử dụng lao động
Thời gian làm việc hạn chế, không cản trở
trẻ em đến trường, vui chơi và nghỉ ngơi
Làm việc nhiều giờ, trẻ em bị hạn chế
hoặc không có thời gian đi học, vui chơi
và nghỉ ngơi
Nơi làm việc an toàn và môi trường bạn bè
thân thiện, không độc hại với sức khỏe và
cuộc sống trẻ em
Môi trường làm việc góp phần nuôi dưỡng
và phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ và
tinh thần của trẻ em
Nơi làm việc độc hại đến sức khỏe và
12
Một là, độ tuổi trẻ em trong luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa
thống nhất với quy định về của lao động chưa thành niên trong Bộ luật lao động và
độ tuổi trẻ em theo quy định của tổ chức ILO vì vậy các cơ quan chức năng gặp
nhiều khó khăn trong việc theo dõi, kiểm soát, thống kê và đánh giá, xử lý các vi
phạm về lao động trẻ em.
Hai là, hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về quyền hạn,
trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong việc phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em;
còn thiếu những quy định cụ thể về cơ chế phát hiện, tố giác, xử lý vi phạm lao
động trẻ em.
Ba là, việc xử lý những trường hợp lạm dụng lao động trẻ em còn nhẹ, chủ
yếu mới dừng lại ở mức xử phạt hành chính, rất ít vụ bị xử lý hình sự do vi phạm
pháp luật lao động trẻ em. Chính quyền địa phương chậm và bị động trong phát
hiện và xử lý những trường hợp sử dụng lao động trẻ em, chỉ những vụ việc xảy ra
hậu quả nghiêm trọng mới được bị phát hiện và xử phạt.
Bốn là, các cơ quan chức năng còn gặp khó khăn trong việc xử lý những cơ
sở sử dụng lao động trẻ em vì người sử dụng lao động không xuất trình được giấy tờ
tùy thân của lao động trẻ em, nên chỉ căn cứ vào lời khai của các bên liên quan để
xác định độ tuổi của các em. Tuy nhiên độ tuổi thường được khai tăng lên trên 15
tuổi vì vậy không đủ căn cứ để xử lý.
Năm là, do nhận thức và hiểu biết pháp luật về lao động trẻ em của gia đình,
cộng đồng, người sử dụng lao động còn hạn chế dẫn đến vi phạm các quy định về
sử dụng lao động trẻ em, như: Gia đình khó khăn về kinh tế nên cho con nghỉ học
để đi làm, trẻ em học kém nên bỏ học đi làm, người sử dụng lao động vì lợi nhuận
nên lạm dụng lao động trẻ em. Nhiều gia đình quan niệm rằng sự tham gia của trẻ
em trong công việc gia đình được coi là một phần của quá trình xã hội hóa, trẻ em
cần phải lao động mới có thể phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách.
Sáu là, trẻ em là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần vì
trợ xã hội.
chính trị, xã hội.
- Gia đình nghèo đói.
- Ảnh hưởng của HIV/AIDS, bệnh
- Trình độ học vấn của bố mẹ (hoặc con dịch.
cái) thấp, thiếu kỹ năng làm cha mẹ.
- Yếu tố về chính sách, pháp luật
1.1.1.6. Hậu quả của lao động trẻ em
- Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến quốc gia
Lao động trẻ em thường có ở những quốc gia có nền kinh tế kém phát triển và
khoa học kĩ thuật còn lạc hậu. Chính tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, thất học, thu
nhập thấp và tỉ lệ sinh sản cao ở nhiều quốc gia đã đẩy trẻ em vào việc tham gia lao
động trước độ tuổi cho phép. Lao động trẻ em thường là lao động của những trẻ em
không có văn hóa đầy đủ, thiếu kiến thức, còn non nớt về thể chất và tinh thần, không
qua đào tạo và thiếu những kĩ năng nghề nghiệp chuyên môn cần thiết để giúp các em
có một nghề ổn định và có thu nhập cao khi trưởng thành.
Lao động trẻ em có thể xem là một hiện tượng của sự không ổn định về kinh
tế. Từ đó sẽ tạo ra những trở ngại lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia như:
mất ổn định về an ninh kinh tế, về trật tự xã hội, ảnh hưởng tới sự hoạt động thương
mại quốc tế trong trường hợp trẻ em tham gia sản xuất hàng hóa xuất khẩu, vì cộng
đồng quốc tế không khuyến khích trẻ em lao động. Các em thiếu hiểu biết và nhận
thức xã hội sẽ hình thành những con người lao động trong tương lai thiếu sự phát
triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và xã hội. Lao động trẻ em sẽ có ảnh hưởng tiêu
Tác động về giáo dục: Lao động nặng nhọc hoặc nhiều thời gian khiến trẻ em
phải bỏ học sớm hoặc giảm khả năng tiếp thu trong quá trình học tập. Tuy nhiên,
phổ biến là lao động tước đi của trẻ em thời gian cần thiết cho việc học tập, và vì
15
vậy thành tích học tập của các em sút giảm, kỹ năng học tập yếu, bị thụt lùi so với
bạn bè, bị bỏ mặc hoặc gặp khó khăn khi hòa nhập với bạn học.
Tác động về kinh tế - xã hội: Lao động trẻ em ảnh hưởng tiêu cực đến việc
nắm bắt các cơ hội kinh tế- xã hội của trẻ về sau. Nói cách khác, lao động trẻ em
tước đoạt cơ hội của trẻ thoát khỏi vòng đói nghèo do trước đó nó đã tước đoạt cơ
hội của trẻ học tập.
Ngoài ra, trẻ em còn có thể gặp phải những rủi ro khi tham gia lao động:
- Thể lực, sức khỏe kém, mắc bệnh nghề nghiệp.
- Bỏ học và nguy cơ bỏ học cao, học vấn thấp, tay nghề thấp, vậy là lại luẩn
quẩn trong vòng nghèo đói.
- Bị kỳ thị, coi thường.
- Nguy cơ cao bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại tình dục, bóc lột sức lao động.
- Nguy cơ cao mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.
- Nguy cơ lệch chuẩn, xa rời các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Chính vì những tác động tiêu cực của lao động trẻ em đối với quốc gia, gia
đình và bản thân trẻ nên cần thiết phải có những biện pháp can thiệp sớm nhằm
ngăn ngừa và giải quyết lao động trẻ em, đó chính vai trò quản lý nhà nước về
phòng, chống sử dụng lao động trẻ em.
1.1.2. Sử dụng lao động trẻ em
1.1.2.1. Khái niệm sử dụng lao động trẻ em
“Sử dụng lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người
dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc,
độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh
tháng 6 năm 1999 Ban hành Công ước 182).
1.2. Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
1.2.1. Khái niệm phòng ngừa
Phòng ngừa chính là để không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm
cho xã hội.
( Nguồn: Trịnh Tiến Việt, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân
Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật
24 (2008) 185-199).
Thuật ngữ “Phòng” hay “phòng ngừa” được hiểu là ngăn ngừa hoặc ngăn
chặn sớm không để cho vấn đề xảy ra. Trong nội dung nghiên cứu “Phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em” thì phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là hoạt động mang
17
tính dự báo nhằm ngăn chặn sớm việc sử dụng lao động trẻ em. Không để xảy ra
các vụ việc liên quan đến bóc lột, lạm dụng lao động trẻ em, gây ra những hậu quả
ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tâm hồn, đạo đức của trẻ em.
1.2.2. Khái niệm phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là nội dung của chính sách bảo vệ chăm
sóc trẻ em, trong cả lý luận và thực tiễn vận dụng có mối quan hệ tương hỗ nhằm ngăn
ngừa và giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em [4] .
Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là một trong những hoạt động bảo vệ
trẻ em, được hiểu là những hoạt động ngăn ngừa, can thiệp, trợ giúp hướng đến đảm
bảo cho trẻ em được hưởng quyền và lợi ích của mình về cả yếu tố vật chất và tinh
thần, giúp cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện. Các yếu tố liên quan đến
bảo vệ trẻ em trong hoạt động phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em,
như: bảo vệ quyền, lợi ích trẻ em, bảo vệ thể chất, tâm sinh lý, chế độ chính sách
dành cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh
để phát triển toàn diện. Bên cạnh đó phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lạm
Dân số trẻ em từ 5 - 17 tuổi
18.349.629
Trẻ em không
hoạt động kinh tế
15.517.512
Trẻ em
hoạt động kinh
tế 2.823.117
Trẻ em HĐKT, không phải
LĐTE 1.077.335
LĐTE không có
nguy cơ làm
trong các nghề
thuộc nhóm
nghề bị cấm
Lao động trẻ em
1.754.782
LĐTE có nguy
cơ làm trong các
nghề thuộc nhóm
nghề bị cấm
LĐTE có thời
7- Nguyên tắc công khai, minh bạch;
Trên cơ sở 7 nguyên tắc cơ bản quản lý hành chính nhà nước áp dụng trong
lĩnh vực Bảo vệ chăm sóc trẻ em nói chung và công tác phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em nói riêng không nằm ngoài những nguyên tắc quản lý nhà nước về bảo
vệ chăm sóc trẻ em nói chung được quy định trong Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 2004. Các nguyên tắc quản lý nhà nước về phòng chống sử dụng
lao động trẻ em có thể hiểu như sau:
- Không phân biệt đối xử với trẻ em. Mọi người đều được hưởng các quyền
công dân, bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách
bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Mọi trẻ em đều có quyền được
sống, quyền được bảo vệ, quyền được học tập, phát triển và quyền được tham gia..
- Tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em. Trẻ em là công dân
và trẻ em có các quyền con người, nhưng khả năng thực hiện lại phụ thuộc vào từng
lứa tuổi trẻ em và được đảm bảo từ phía gia đình và xã hội. "Mọi hành vi vi phạm
quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị
nghiêm trị theo quy định của pháp luật" [25].
- Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội.
Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của trẻ em, những người chưa phát triển đầy
đủ về thể chất và trí tuệ, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa đủ điều kiện
để tự quyết định quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà nước và xã hội phải có sự
20
bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, phải tạo cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện quyền trẻ
em, trong đó có công tác phòng chống sử dụng lao động trẻ em. Do đó, quyền của
trẻ em làm phát sinh nghĩa vụ của người lớn, đó là đặc thù của Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em.
- Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Nguyên tắc này xuất phát từ ý tưởng chiến
lược phát triển con người, với "Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất