LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ GIẢI QUYẾT lợi ÍCH KINH tế TRONG bồi THƯỜNG GIẢI PHÓNG mặt BẰNG CHO NGƯỜI dân HUYỆN THƯỜNG tín, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Cụm công nghiệp
Dịch vụ
Điểm công nghiệp
Đô thị hóa
Giải phóng mặt bằng
Hội đồng nhân dân
Khu công nghiệp
Khu đô thị
Kinh doanh dịch vụ
Nghị định - Chính phủ
Tái định cư
Thương mại
Trung tâm thương mại
Ủy ban nhân dân

CNH -HĐH
CCN
DV
ĐCN
ĐTH
GPMB
HĐND
KCN
KĐT
KDDV

GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ CHO NGƯỜI DÂN
TRONG BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI
HUYỆN THƯỜNG TÍN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Những vấn đề lý luận chung về giải quyết lợi ích kinh tế
cho người dân trong giải phóng mặt bằng
Nội dung phương thức và các điều kiện giải quyết lợi ích
kinh tế của người dân khi thu hồi đất để giải phóng mặt bằng
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ
CHO NGƯỜI DÂN TRONG BỒI THƯỜNG GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Những thành tựu và hạn chế trong việc giải quyết lợi ích
kinh tế cho người dân bị thu hồi đất giải phóng mặt bằng
tại huyện Thường Tín thời gian qua
Nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra cần
giải quyết
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
GIẢI QUYẾT TỐT HƠN LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG
BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở
HUYỆN THƯỜNG TÍN THỜI GIAN TỚI
Những quan điểm cơ bản chỉ đạo việc giải quyết lợi ích
kinh tế trong bồi thường giải phóng mặt bằng ở huyện
Thường Tín
Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết tốt hơn lợi ích kinh tế của
người dân trong giải phóng mặt bằng ở huyện Thường Tín
thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

đó có huyện Thường Tín. Vấn đề thu hồi đất để xây dựng các KCN và KĐT
đang làm nảy sinh nhiều vấn mà xã hội quan tâm như: Chưa đồng bộ, thiếu
nhất quán trong quy hoạch đô thị; Các chính sách thu hồi đất nhiều mặt còn
bất cập; Chưa giải quyết hợp lý các vấn đề lợi ích kinh tế của người dân có
đất bị thu hồi; Xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong quá trình sử dụng đất
cho phát triển các KCN và KĐT...Trong đó, nổi lên tình trạng bất bình trong
người dân về việc chưa được giải quyết hợp lý các lợi ích kinh tế trong quá
trình thu hồi đất. Do tích tụ các mâu thuẫn trong giải quyết lợi ích kinh tế đối
với việc thu hồi đất cho xây dựng các KCN, KĐT mới nên xuất hiện những
xung đột xã hội, gây ra những tác động xấu về an ninh, chính trị. Đây không
chỉ là vấn đề bức xúc trước mắt mà còn là vấn đề cần được giải quyết cơ bản
lâu dài để đảm bảo ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của kinh tế xã hội thủ đô.
Trong những năm qua công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB ở huyện
Thường Tín đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội chung
của huyện, các KCN, KĐT - DV với quy mô lớn đang hình thành ngày càng
phát triển, số lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm và đã giải quyết được
nhiều việc làm cho người lao động ở các KCN, TM, DV...
3


Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực, chính sách và thực tiễn thực hiện
các chính sách, pháp luật liên quan tới thu hồi đất của người dân để GPMB
trong những năm vừa qua còn nhiều hạn chế, bất cập đã ảnh hưởng trực tiếp tới
quyền và lợi ích của họ. Một trong những tác động và ảnh hưởng tiêu cực đó là
đã đẩy một bộ phận người nông dân không còn kế sinh nhai; các chính sách bồi
thường, hỗ trợ GPMB của Nhà nước chưa thỏa đáng, chưa bảo đảm tính bền
vững trong việc duy trì ổn định cuộc sống người dân. Chính vì vậy, trên địa bàn
thành phố Hà Nội nói chung và huyện Thường Tín nói riêng đã xẩy ra không ít
cuộc khiếu nại, tố cáo đông người, khiếu kiện kéo dài, có lúc, có nơi gây ảnh
hưởng xấu tới an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; suy giảm niềm tin của

xây dựng đất nước, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 1991- Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất cho các dự án
phát triển công nghiệp, TS Dương Đình Giám, Tạp chí Công nghiệp.
- Cơ chế bồi thường, GPMB, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của
GS. TS Đặng Hùng Võ
- Nhiều tác giả : Giải phóng mặt bằng ở Hà Nội hệ lụy và hướng giải
quyết. NXB chính trị quốc gia- sự thật Hà Nội 2012.
- Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để
xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” đề tài khoa học độc lập cấp
Nhà nước, năm 2005.
- Nghiên cứu đề xuất phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa gắn với công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội (Đề tài khoa học công nghệ
cấp thành phố, 2005).
- Viện Nghiên cứu địa chính thuộc Bộ Tài nguyên - Môi trường có
công trình “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
5


định cư và đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất đối với các dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng chỉnh trang đô thị” thực hiện vào năm 2004-2005.
- Tạp chí lý luận chính trị số 10-2012 cơ quan nghiên cứu và ngôn luận
khoa học của học viện chính trị- hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Trần Lê (2007) Lợi ích của người nông dân bị thu hồi đất, Webside
Thời báo kinh tế Việt nam.
- Nhiều tác giả (1992) về lợi ích kinh tế, NXB thông tin lý luận, Hà Nội.
- Công trình xây dựng mô hình tham gia góp vốn cổ phần đầu tư thực
hiện dự án của người dân trong khu vực qui hoạch, đề xuất các biện pháp hỗ
trợ do thạc sỹ Nguyễn Thiềng Đức làm chủ biên thực hiện năm 1998.
- Công trình các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra đối với vùng ven trong

* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ bản chất và nội dung của giải quyết lợi ích kinh tế của
người dân trong bồi thường GPMB gắn với quá trình CNH, ĐTH ở huyện
Thường Tín
- Đánh giá thực trạng tình hình giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế của
người dân trong quá trình bồi thường GPMB tại huyện Thường Tín thời gian
qua và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Đề ra những quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu để giải quyết
tốt hơn quan hệ lợi ích của người dân trong bồi thường GPMB ở huyện
Thường Tín trong thời gian tới
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trực tiếp là
của người dân bị thu hồi đất trong quan hệ không thể tách rời với lợi ích của Nhà
nước ( xã hội ) và của doanh nghiệp ( chủ đầu tư ) trong quá trình GPMB
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề lợi ích kinh tế của
người dân trong thu hồi đất nông nghiệp GPMB để phát triển xây dựng công
7


nghiệp, thương mại, dịch vụ, kết cấu hạ tầng… thời gian từ năm 2005 đến
nay. Địa điểm nghiên cứu tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn sử dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - LêNin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về
giải quyết lợi ích kinh tế trong xã hội.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học của

văn hoá, chính trị... từ đó cũng có nhiều loại động lực: động lực tinh thần,
động lực vật chất, kinh tế… C.Mác cho rằng, lợi ích kinh tế là yếu tố liên
kết, móc nối, làm cho các lợi ích có quan hệ với nhau, là cái kích thích hành
vi của con người, là động lực để phát triển sản xuất, tăng cường những hoạt
động của các giai cấp, thúc đẩy cuộc đấu tranh giai cấp, là động lực để phát
triển toàn xã hội.
Trong bất cứ nền sản xuất xã hội nào, lợi ích kinh tế là mối quan tâm
hàng đầu của tất cả các chủ thể kinh tế và mọi thành viên trong xã hội, là vấn
đề cơ bản, xuyên suốt của mọi nền sản xuất xã hội, là động lực thúc đẩy sự
phát triển của xã hội loài người. Song dưới những chế độ kinh tế xã hội khác
nhau, do sự khác nhau về chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, chủ thể lợi ích vật
chất và hình thức biểu hiện của nó cũng khác nhau. Trong xã hội tư bản chủ
nghĩa, quan hệ lợi ích kinh tế chủ yếu biểu hiện thành quan hệ giữa nhà tư bản
với công nhân. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, với cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần thì có các lợi ích kinh tế khác nhau, do đó có nhiều chủ thể lợi ích
kinh tế khác nhau, như: Nhà nước, tập thể người lao động, cá nhân người lao
động, các nhà doanh nghiệp, các ngành, địa phương…
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất. Trước hết
là quan hệ sở hữu, quyền sử dụng về tư liệu sản xuất. V.I.LêNin cho rằng, lợi
ích của giai cấp này hay giai cấp khác xác định một cách khách quan theo vai
trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều
kiện sống của họ.

9


Khi lợi ích kinh tế được thực hiện thì nó là cơ sở để thực hiện các lợi
ích khác. Lợi ích kinh tế có vai trò là động lực kinh tế, thể hiện qua các phạm
trù tiền lương, giá cả, thuế, lợi tức, lợi nhuận…, có sự tồn tại của lợi ích
chung (thường là gắn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, xã hội) lợi ích của tập

về phương diện phương pháp luận và cả về mặt thực tiễn trong quá trình
nghiên cứu lợi ích kinh tế.
Trong nền sản xuất xã hội, tùy thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể mà chủ thể trong nền sản xuất xã hội ấy có thể là cá nhân, tập thể hay xã
hội và có bao nhiêu chủ thể thì có bấy nhiêu lợi ích kinh tế tương ứng.
Chủ thể của thực tiễn sản xuất xã hội - đó là con người nhận thức và
cải tạo thực tiễn sản xuất, đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Tính tích cực
và sáng tạo là đặc trưng chủ yếu, vốn có của con người - với tư cách là chủ
thể. Nói một cách khác, chỉ có những tác động vào tự nhiên và xã hội thì con
người mới bộc lộ mình như là một chủ thể của lịch sử. Như vậy, nói đến chủ
thể là nói đến con người với những phẩm chất nhất định đang hành động nhận
thức và cải tạo thế giới.
Phân biệt chủ thể và cá thể: Mọi chủ thể đều có tư cách như một cá thể,
nhưng chỉ có những cá thể nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh …
mới trở thành chủ thể. Như vậy, tùy thuộc vào chủ thể là cá nhân thì có lợi ích
kinh tế của cá nhân, nếu chủ thể là tập thể thì có lợi ích kinh tế của tập thể,
nếu chủ thể là toàn xã hội thì có lợi ích kinh tế của xã hội. Dĩ nhiên các lợi ích
này luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau.
Lợi ích kinh tế luôn luôn gắn với các chủ thể nhất định. Các chủ thể đó
lại được phân bổ, điều động vào các quá trình, các khâu, các lĩnh vực của sản
xuất xã hội - sự phân bổ, điều động các chủ thể ấy không chỉ là sự phân bổ,
điều động cho hiện tại mà cho cả tương lai. Cho nên, mỗi chế độ kinh tế xã
hội luôn hình thành một hệ thống lợi ích đa dạng, phong phú và phức tạp. Hệ
11


thống lợi ích này không ngừng biến đổi, mở rộng theo thời gian và theo không
gian. Tính phong phú, đa dạng và phức tạp của hệ thống lợi ích càng trở nên
phong phú, đa dạng và phức tạp hơn trong hoàn cảnh và điều kiện của nền
kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay.

lương hay tiền công, theo Mác lại chính là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức
lao động mà sức lao động lại là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực tồn tại
trong cơ thể sống. Khả năng thể lực, trí lực đó chính là sức khỏe và kiến thức.
Vì vậy mà sự thực hiện lợi ích cá nhân thể hiện trước hết trong lĩnh vực tiêu
dùng - tiêu dùng để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Trong lĩnh vực
tiêu dùng nói chung, thì sự tiêu dùng mà người lao động quan tâm trước nhất
để làm tăng số lượng và chất lượng lao động của mình là tự đào tạo và đào tạo
lại để nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hóa.
Lợi ích cá nhân còn được thực hiện về mặt pháp luật. Nghĩa là, luật
pháp luôn tạo điều kiện và khuyến khích việc thực hiện lợi ích cá nhân trên cơ
sở lao động và tính sáng tạo lao động của cá nhân. Sự khuyến khích và tạo
mọi điều kiện về mặt luật pháp để thực hiện lợi ích cá nhân là nhằm mục đích
phát triển sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động xã hội…
điều đó cũng có nghĩa là luật pháp khuyến khích và tạo điều kiện để mọi
người có thể làm giàu hợp pháp.
Lợi ích cá nhân còn được thực hiện thông qua hình thức sở hữu về vốn
và tài sản và cuối cùng lợi ích cá nhân còn được thực hiện thông qua các quỹ
phúc lợi xã hội và những thu nhập từ kinh tế phụ gia đình. Do đó lợi ích cá
nhân có thể được kiểm soát thông qua pháp luật. Nhà nước có thể định
hướng, giúp đỡ tạo điều kiện để thực hiện lợi ích cá nhân, mặt khác mà Nhà
nước cũng có thể dùng luật pháp để hạn chế, ngăn chặn việc thực hiện
hành vi trái pháp luật.
Thông qua việc kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước mà xã hội có thể
chủ động tạo mọi điều kiện cho người lao động có thể tự do học nghề, tự do
13


chọn nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp. Tạo điều kiện để người lao
động nâng cao khả năng về thể lực bằng cách tự do luyện tập, tự do khám
chữa bệnh và được hưởng quyền chăm sóc về y tế. Tự do đầu tư vốn và tài

là giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước – chủ đầu tư dự án và người
dân bị thu hồi đất trong khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật qui định. Dưới
góc độ kinh tế chính trị dây là sự phản ánh những nội dung của quan hệ sản
xuất hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, ba mối
quan hệ trên là mối quan hệ biện chứng đó là sự thống nhất và mâu thuẫn
của các mặt mặt đối lập trong sự phát triển. Sự thống nhất ở đây thể hiện
mục tiêu chung nhằm thực hiện xã hội, dân giàu, Nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh, ở đó thể hiện sự hài hòa của các lơi ích; Nhà nước,
Nhà doanh nghiệp và người nông dân có đất bị thu hồi.
Mặt mâu thuẫn ở đây ở đây thể hiện lợi ích riêng trực tiếp cụ thể của
từng chủ thể riêng biệt, khi Nhà nước thu hồi đất của người nông dân để
thực hiện lợi ích chung của toàn thể xã hội thì xâm phạm đến lợi ích trực
tiếp của người nông dân về quyền sử dụng đất đai. Nó là tư liệu sản xuất chủ
yếu không thể thiếu được đối với họ để sản xuất, sinh sống, đến tài sản mà
họ đã đầu tư xây dựng và canh tác, đến việc làm và nghề nghiệp của họ. Bởi
vậy Nhà nước phải có chính sách bồi thường, hỗ trợ cho những thiệt hại và
những hy sinh của họ, chủ đầu tư dự án với tư cách là những người đứng
giữa Nhà nước và người người dân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án đầu
tư và xây dựng các công trình họ cũng có lợi ích riêng của họ, đó là lợi
nhuận và thu nhập. Bởi vậy việc giải quyết đúng đắn, hài hòa các mối quan
hệ lợi ích của các chủ thể có ý nghĩa cực kỳ quan trọng không chỉ vể mặt
kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội. Giải quyết đúng đắn, hài hòa lợi
ích của các chủ thể, đặc biệt là đối với người dân bị thu hồi đất sẽ tạo ra
động lực thúc đẩy quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và
15


củng cố nền tảng xã hội chính trị của chế độ được bảo đảm sự ổn định.
Ngược lại nếu giải quyết không đúng đắn, không hài hòa sẽ dẫn đến những
phản ứng xã hội không tốt, dễ tích tụ lại các mâu thuẫn và gây ra sự bất ổn

sống của gia đình mình, góp phần phát triển kinh tế- xã hội ổn định chính trị
ở địa phương và đất nước.
Bồi thường, hỗ trợ GPMB là: Nhà nước thu hồi đất của các, tổ chức hộ
gia đình cá nhân..chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội,
bằng công cụ chính sách là các qui định luật và các văn bản qui phạm dưới
luật xác định đúng đối tượng sử dụng đất hợp pháp để bồi thường bằng tiền
khi Nhà nước thu hồi đất và các chính sách hỗ trợ khác theo qui định.
1.2. Nội dung phương thức và các điều kiện giải quyết lợi ích kinh
tế của người dân khi thu hồi đất để giải phóng mặt bằng
1.2.1. Nội dung giải quyết lợi ích kinh tế của người dân khi thu hồi
đất để giải phóng mặt bằng
Từ quan niệm về giải quyết lợi ích kinh tế của người dân khi thu hồi
đất trên cho thấy, giải quyết lợi ích kinh tế của người dân khi bị thu hồi đất
trong bồi thường GPMB bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Bảo đảm quyền sử dụng đất cho người dân khi bị thu hồi
theo qui định của pháp luật .
“ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
theo quy định của luật” (Điều 4 luật đất đai năm 2013) Do vậy chỉ có Nhà
nước mới có quyền sở hữu đất đai, quyền định đoạt giá đất, quyết định việc
thu hồi và trao quyền sử dụng đất. Nhà nước giao quyền sử dụng đất có thời
hạn cho người dân theo loại đất, mục đích sử dụng đất, Đồng thời người sử
dụng đất trong thời hạn sử dụng cũng có các quyền như : “Quyền chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp quyền sử
17


dụng đất” và các quyền chung. Đồng thời cũng có các nghĩa vụ như: Sử dụng
đất đúng mục đích, đúng danh giới thửa đất, đúng quy định (theo điều 166;
170 luật đất đai 2013 qui định)

dụng đất theo đúng mục đích sử dụng được giao như : tổ chức sản xuất kinh
doanh trên diện tích đất được giao, Trồng cây cối, hoa màu, nuôi trồng thuỷ
sản, và nếu là đất ở thì được quyền xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình
kiến trúc trên diện tích đất ở được giao. Vì vậy, hoa màu, cây cối, các công
trình, vật kiến trúc trên đất được giao là thành quả lao động của người sử
dụng đất, họ có toàn quyền sở hữu, định đoạt các loại tài sản đó, được pháp
luật thừa nhận. Vì vậy khi Nhà nước thu hồi đất, thì hoa màu, cây cối, vật
kiến trúc trên đất cũng không còn tồn tại nữa, cho nên nhà nước phải bồi
thường toàn bộ tài sản trên đất bị thu hồi cho các hộ gia đình, cá nhân, có như
vậy mới bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho họ.
Trên thực tế, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai còn nhiều phức tạp, có
nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất chưa hợp pháp như lấn
chiếm lâu năm đã có biên bản ngăn chặn xử lý vi phạm về đất nhưng trên đất
đã xây dựng nhà, công trình, vật kiến trúc, trồng cây cối hoa màu trên đất
hoặc đào ao nuôi trồng thủy sản trong trường hợp này, pháp luật về đất đai
quy định, khi nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường. Tuy nhiên, dù
là đất hợp pháp hay chưa hợp pháp thì tài sản trên đất vẫn thuộc quyền sở hữu
của người sử dụng đất, nếu khi nhà nước thu hồi đất mà không thực hiện việc
bồi thường tài sản cho họ thì không khách quan, đây là vấn đề phức tạp, dẫn
đến khiếu kiện trong dân.
Thứ ba, hỗ trợ đào tạo nghề để chuyển đổi nghề.
Mất tư liệu sản xuất chính nên người người dân buộc phải chuyển sang
hoạt động kiếm sống khác (chuyển sang nghề nghiệp khác). Nhưng họ chưa
có kinh nghiệm và cũng chưa được đào tạo học nghề, đủ trình độ, kỹ năng để
chuyển đổi sang một nghề khác phù hợp, vì thế họ phải học nghề. Vì vậy Nhà
nước đã tính đến lợi ích này của người dân, khi thu hồi đất để chuyển đổi mục
19


đích sử dụng, ngoài tiền bồi thường về đất, tài sản, VKT, cây cối hoa màu

Ngoài sự phát triển về kinh tế, phúc lợi xã hội mạng lại thì việc giải
quyết lợi ích của người dân bị thu hồi đất là ưu tiên gia đình họ có người
trong độ tuổi lao động tuyển dụng họ vào làm việc trong các nhà máy, xí
nghiệp hoạt động tại các KCN xây dựng trên đất đai của họ sau khi các dự
án này đi vào hoạt động và khi họ đã được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu
lao động của doanh nghiệp ở đó. Như thế sẽ thay vì là chủ thể kinh tế, chủ
thể lợi ích ở lĩnh vực nông nghiệp họ chuyển sang là các chủ thể kinh tế, chủ
thể lợi ích ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp.
Ở nước ta, đất đai đã thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý. Người đại diện chủ sở hữu thực sự đất đai là Nhà
nước. Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quyền sử dụng đất đai. Đất đai
vừa là yếu tố đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, vừa là yếu tố cấu thành
lực lượng sản xuất. Vì vậy đối với người dân, khi được nhà nước giao đất, có
nghĩa là họ có tư liệu sản xuất để tự tạo được việc làm ổn định ngay trên phần
đất được giao. Họ có thể tự chủ sản xuất trên phần đất của mình để sản xuất ra
của cải vật chất, mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân, từ đó họ có nguồn thu
nhập ổn định hàng năm để đảm bảo cuộc sống cho gia đình ( tự cấp tự túc ).
Như vậy mặt kinh tế của sở hữu toàn dân đã được thực hiện đến mọi người
dân trong xã hội. Ở nước ta, nguồn thu nhập chính của đại bộ phận người
nông dân là từ sản xuất nông nghiệp, bao gồm thu nhập từ trồng trọt và chăn
nuôi chiếm đến trên 75%.
Để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp, nông thôn,
Đảng và nhà nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn. Trước hết là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi, giảm dần
tỷ trọng giá trị ngành trồng trọt, khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng khu vực nông thôn, xây dựng nông thôn mới, chuyển các nhà máy, xí
21



mới, tăng lợi ích kinh tế, làm cuộc sống của họ được duy trì ổn định cải thiện
tốt hơn.
1.2.2. Phương thức bảo đảm lợi ích kinh tế của người dân khi thu
hồi đất
* Phương thức bồi thường gải phóng mặt bằng
Thứ nhất; là đối với đất (nông nghiệp) Nhà nước sẽ đứng ra thu hồi,
bồi thường, giải quyết các vấn đề lợi ích của người dân sau đó sẽ cho các chủ
đầu tư (Doanh nghiệp) dự án thuê đất có thời hạn, trên cơ sở chính sách, pháp
luật của Nhà nước để bảo vệ quyền sử dụng đất theo luật.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay; Một là; Nhà nước có chủ trương thu hồi
đất để xây dựng các KCN; ĐCN và các đô thị mới… Nhà nước bỏ tiền ra đứng
ra thu hồi đất, bồi thường, giải quyết các vấn đề lợi ích chính đáng của người
dân, sau đó sẽ cho các doanh nghiệp - chủ dự án thuê đất có thời hạn theo qui
định của pháp luật, cơ chế này thì lợi ích của người người dân và lợi ích của
doanh nghiệp chỉ tương tác với nhau một cách gián tiếp theo các quy định chính
sách của Nhà nước. Chính nhà nước sẽ đứng ra trực tiếp thực hiện quan hệ lợi
ích với cả hai chủ thể là doanh nghiệp và người dân.
Cơ chế này trong thực tế người ta thường gọi là cơ chế nhà nước tạo “
quĩ đất sạch” để giao cho các chủ đầu tư, nó có ưu điểm là tạo điều kiện thuận
lợi cho các chủ đầu tư tập trung ngay vào thực hiện dự án, nhưng nó có hạn
chế là không phải lúc nào Nhà nước cũng có đủ lượng tiền ngân sách lớn để
thực hiện, trên thực tế hình thức này triển khai thực hiện rất ít, nếu có thực
hiện chủ yếu là dự án nhỏ phù hợp với điều kiện ngân sách đầu tư của địa
phương. Hai là; Nhà nước bằng các chủ chương chính sách của mình Như:
thu hút đầu tư ; xã hội hóa, kế hoạch qui hoạch sử dụng đất, qui định về thu
hồi đất bồi thường GPMB… Nhà nước lựa chọn chủ đầu, chủ đầu tư tự bỏ

23



người không đồng ý thì việc thu hồi đất cũng không thể thực hiện dự án. Thực
tế vấn đề GPMB tại huyện Thường Tín chưa có chủ đầu tự nào đứng ra thỏa
thuận với các hộ dân có đất thu hồi để thực hiện dự án theo cơ chế này, doanh
nghiệp đều dựa vào nhà nước để thực hiện công tác GPMB. Cơ chế GPMB
thỏa thuận này sẽ dẫn đến sự bất công bằng giữa người dân có đất thu hồi đất
theo thỏa thuận và người dân có đất thu hồi ở các dự án được bồi thường theo
khung giá Nhà nước dẫn sự so sánh về đơn giá giữa người dân với nhau giữa
2 cơ chế bồi thường, cơ chế thỏa thuận (cơ chế thị trường), giá bồi thường
thường bao giờ thường cũng cao hơn rất nhiều so với cơ chế Nhà nước dẫn đến
sự bất bình của người dân lý do là lợi ích giá cả bồi thường trên một đơn vị diện
tích đất có sự chênh lệch nhau dẫn đến gây mất an ninh trật tự nảy sinh nhiều
phức tạp, khiếu kiện đông người kéo dài không giải quyết được và khó thực
hiện GPMB cho các dự án sau theo khung giá bồi thường của Nhà nước.
Dù áp dụng cơ chế nào đi nữa thì vai trò của Nhà nước đối với việc giải
quyết là chủ đạo, thực hiện quan hệ lợi ích trong thu hồi đất, để xây dựng các
KCN, ĐCN và KĐT mới cũng rất quan trọng. Trong cơ chế thứ nhất, nhà
nước trực tiếp thực hiện quan hệ lợi ích giữa hai chủ thể giữa doanh
nghiệp(chủ dự án) và người dân. Trong cơ chế thứ hai, nhà nước giữ vai trò
điều tiết thông qua hệ thống các quy định trong các quy phạm pháp luật để
các chủ thể còn lại có cơ sở thương thuyết về việc giải quyết quan hệ lợi
ích với nhau, đồng thời giám sát quá trình thực hiện lợi ích đó, đảm bảo
bằng pháp chế để quá trình đó xảy ra đúng luật pháp.
Nếu áp dụng mô hình thứ nhất thì sử dụng phương pháp tuyên truyền,
giáo dục thuyết phục và phương pháp hành chính là chủ yếu, tuy nhiên cũng
phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người dân một cách hợp lý. Nếu áp dụng mô
hình thứ hai thì chủ yếu là dùng phương pháp và các công cụ kinh tế như thỏa
thuận về giá cả, hỗ trợ đào tạo nghề, tái định cư, hứa hẹn đảm bảo việc làm
cho người bị thu hồi đất trong các dự án... Đồng thời có sự phối hợp với các
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status