LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ GIẢI QUYẾT VIỆC làm CHO LAO ĐỘNG THU hồi đất NÔNG NGHIỆP ở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở
QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KINH

3
11

NGHIỆM TRONG NƯỚC

1.1.

Thu hồi đất nông nghiệp và tác động của nó đến việc
làm của lao động diện thu hồi đất
Quan niệm, nội dung và các yếu tố tác động đến giải
quyết việc làm cho lao động diện thu hồi đất nông
nghiệp ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động diện thu
hồi đất nông nghiệp ở một số quận, huyện và bài học rút
ra cho quận Hà Đông

11

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO

33

1.2.

3.1.
3.2.

Quan điểm cơ bản định hướng giải quyết việc làm cho lao
động diện thu đất nông nghiệp quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội
Giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động diện
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

60
65
80
82
88

MỞ ĐẦU

2


1. Lý do chọn đề tài

Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính
chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại nói chung, của

trở nên bức xúc.
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn nội dung: “Giải quyết việc
làm cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp ở quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình được công bố
trên các góc độ tiếp cận khác nhau:
- Lê Du Phong làm chủ biên (2007): “Thu nhập, đời sống, việc làm

của người có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng
KT - XH, các công trình công cộng phục vụ lợi ích Quốc gia”. Tác giả đã
cung cấp những luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn và làm rõ tính tất yếu của
quá trình thu hồi đất đai để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nước cùng
những phát sinh trong quá trình này về thu nhập, đời sống và việc làm của
người có đất bị thu hồi. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp
then chốt góp phần hạn chế các vấn đề phát sinh, bảo đảm quyền lợi của
người dân cũng như phục vụ tốt cho lợi ích quốc gia.
- Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa đồng chủ biên (2009): “Vấn

đề hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” (2009).
Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khác nhau cùng đề cập
đến vấn đề bảo đảm lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân
sau khi thu hồi đất và các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh hậu giải
phóng mặt bằng ở Hà Nội và một số địa phương khác trong cả nước.
- Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng đồng chủ biên (2010) : “Giải

quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ”. Các
tác giả bàn về những vấn đề nảy sinh do quá trình CNH, HĐH, đô thị hoá,
phát triển các KCN, cụm công nghiệp như: đất sản xuất nông nghiệp bị thu
hẹp, người nông dân mất tư liệu sản xuất chủ yếu đồng nghĩa với việc mất

- Đỗ Đức Quân chủ biên (2010): “Một số giải pháp nhằm phát triển

bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ trong quá trình xây dựng, phát
triển các khu công nghiệp (Qua khảo sát các tinh Vĩnh Phúc, Hải Dương,
Ninh Bình)”. Qua khảo sát một số vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, các tác

5


giả đã chỉ ra tình trạng chung ở nông thôn trong quá trình CNH, HĐH hiện
nay đó là hiện tượng thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp làm cho một
bộ phận dân cư nông thôn mất việc làm, thiếu hụt các nguồn lực dành cho
phát triển nông thôn... Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất một số nhóm giải pháp
về KT – XH và các giải pháp khác nhằm khắc phục.
- Nguyễn Văn Sửu, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội (2011): Báo cáo "Tác động của công nghiệp hoá và đô thị
hoá đến sinh kế nông dân Việt Nam: trường hợp một làng ven đô Hà Nội".
Báo cáo tập trung phân tích về các tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp
đến sinh kế của người nông dân. Tuy chỉ nghiên cứu một trường hợp điển
hình tại một làng ven đô Hà Nội, song báo cáo cũng chỉ ra nhiều đặc trưng
cũng như những tác động phổ biến của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh
kế người dân. Thực tế đã có những đổi thay rõ rệt trong thu nhập, cơ cấu
ngành nghề của nhiều hộ gia đình. Tuy nhiên, chiều hướng của sự chuyển
dịch không đáp ứng được sự kì vọng của các cơ quan quản lý cũng như các hộ
gia đình. Những giảm sút thấy rõ của thu nhập từ ngành nông nghiệp, và
những hướng sinh kế mới chuyển đổi lại thiếu bền vững là những hệ quả được
nhận diện rõ rệt nhất. Thêm vào đó, những hệ quả xã hội khác từ việc thu hồi
đất nông nghiệp của các hộ gia đình cũng diễn ra khá phức tạp như sự bất ổn,
rủi ro và bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo... gia tăng.

phân tích các tác động khác của quá trình thu hồi đất đến điều kiện kinh tế- xã
hội của địa phương cũng như những chuyển dịch trong cơ cấu việc làm và thu
nhập của các hộ gia đình. Trong đó chiều hướng chuyển dịch chính được chỉ
ra là các công việc bấp bênh từ hoạt động làm thuê ngoài. Tỷ lệ người dân
được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp hay các dịch vụ
liền kề doanh nghiệp vì thế chỉ chiếm tỷ lệ khá thấp. Khó khăn về việc làm,
thu nhập thường trực cộng với sự gia tăng của các loại hình tệ nạn xã hội cùng
sự biến đổi, ô nhiễm môi trường làm cho nhiều người dân cảm thấy băn
khoăn với các quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiện nay.
- Luận án tiến sỹ kinh tế của NCS Nguyễn Văn Nhường (2010):

"Chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để
phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh). Tác giả đi sâu

7


phân tích những nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân bị thu hồi đất để xây dựng các KCN, đồng thời đánh giá thực trạng đời
sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN tại Bắc
Ninh. Qua việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân bằng sử dụng
mô hình SWOT, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính
sách về an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các
khu công nghiệp.
- Nguyễn Tiệp (2011): "Tạo việc làm ở nước ta - Từ chính sách đến

thực tiễn", tạp chí Tạp chí Kinh tế và phát triển (số 3, 2011). Tác giả đánh giá
các chính sách của Nhà nước trong GQVL cho người lao động; những vấn đề
còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của
chính sách GQVL cho lao động ở nước ta.

* Nhiệm vụ:
- Luận giải cơ sở lý luận về GQVL và kinh nghiệm GQVL cho lao động
diện thu hồi đất nông nghiệp ở một số quận ở Thủ đô Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng GQVL cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp ở
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội thời gian qua. Chỉ rõ những nguyên nhân của
những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu góp phần GQVL
cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp ở quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: GQVL cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung và không gian: Đề tài nghiên cứu GQVL cho lao động diện thu
hồi đất nông nghiệp dưới góc độ của chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác - Lênin ở
một địa phương cụ thể là quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Những phân tích, đánh giá tình hình thực tế, chủ yếu dựa trên
các số liệu thống kê từ năm 2005 (đặc biệt là từ năm 2009, khi Hà Đông chính thức
trở thành 1 quận của Thủ đô Hà Nội) đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu:

9


Luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, những nguyên lý của kinh tế chính trị học Mác Lênin, tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm kinh tế của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu:
Để tài được triển khai nghiên cứu bằng việc sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh,

cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và
các sinh vật khác trên trái đất. C.Mác khẳng định, đất đai là tài sản mãi mãi
với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để
sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp . Bởi vậy, nếu
không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người
không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy
trì nòi giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người
chiếm hữu đất đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của
cộng đồng, của một quốc gia. Đối với Việt Nam, đất đai là tài nguyên quốc
gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ
nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất
đai như ngày nay. Do vậy, đất đai còn có ý nghĩa rất lớn về mặt chính trị. Tài
sản quý giá ấy phải được bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai mà một
quốc gia có được luôn là một yếu tố thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh

11


giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Đất đai còn là nguồn của
cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản
đảm bảo sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ...
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, các quan
hệ đất đai rất phong phú, trong đó quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán,
chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai. Lúc này, đất đai được
coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt. Thị trường đất đai có
liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến động của thị trường này có
ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống dân cư. Luật Đất đai 2013 của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn

kỳ quá độ lên CNXH. Mục tiêu lâu dài của CNH, HĐH ở nước ta là xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH dựa trên một nền khoa học và công nghệ
tiên tiến, tạo ra lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất ngày càng tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống
vật chất, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
“Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được xác định là Chiến
lược tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển nhanh, bền vững” hướng tới
mục tiêu tổng quát là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại…” [12, tr. 30-31]. Để tiến hành thành công
CNH, HĐH, tất yếu phải thu hồi đất (chủ yếu là đất nông nghiệp) nhằm cung
cấp mặt bằng cho các khu KCN, khu chế xuất, khu kinh tế; mặt bằng SX - KD
của các DN và mặt bằng cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ
CNH, HĐH.
Hai là: xuất phát từ nhu cầu đô thị hóa
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị , tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu
vực. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian... Đô
thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các
nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô
thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát

13


triển KT - XH, nâng cao đời sống nhân dân. Quá trình đô thị hóa có nhu cầu rất
cao về đất cho xây dựng các khu đô thị, khu chung cư, các loại biệt thự, căn
hộ…; đất xây dựng các công trình phúc lợi; đất cho phát triển thương mại, dịch
vụ đô thị: trung tâm thương mại, siêu thị, các thiết chế văn hóa đô thị…Vì vậy,
cùng với quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải được chuyển đổi một phần không nhỏ
diện đất canh tác nông nghiệp cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã

doanh trại, trụ sở làm việc, khu nhà ở công vụ, chung cư phục vụ cho các cơ
quan quân sự, công an…; xây dựng thao trường, bãi tập, trường bắn; xây dựng
các công trình phòng thủ dân sự, các căn cứ (sở chỉ huy, căn cứ hậu phương,
căn cứ hậu cần - kỹ thuật trong khu vực phòng tỉnh, huyện…Do vậy, việc thu
hồi đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là vấn đề cần thiết ở các địa
phương trên cả nước nói chung, trong đó có Hà Nội.
1.1.2. Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm của lao
động bị thu hồi đất
* Việc làm và việc làm cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp
Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 đã xác định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không
bị pháp luật cấm”.
Như vậy, từ khái niệm trên có thể thấy, việc làm: Trước hết được hiểu
là hoạt động lao động của con người; đồng thời đó cũng là hoạt động lao động
nhằm mục đích tạo ra thu nhập; và vì vậy, đó là hoạt động không bị pháp luật
ngăn cấm. Bất cứ ai, có khả năng lao động và có nhu cầu được lao động đều
được làm việc ở những lĩnh vực mà luật pháp không ngăn cấm. Việc làm là
một khái niệm rộng, nhu cầu về việc làm phát triển cùng với sự phát triển của
phân công lao động xã hội. Vì vậy việc phân loại về việc làm cũng là vấn đề
phức tạp. Dựa vào tính pháp lý của vấn đề, việc làm có thể phân thành 2 loại:
Việc làm chính thức và việc làm không chính thức.
Việc làm chính thức: là công việc chính mang lại thu nhập chính (đối

15


với những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật chất cho
bản thân và gia đình (đối với việc làm không được trả công: nội trợ gia đình,
tự trồng trọt, chăn nuôi phục vụ nhu cầu bản thân... ).
Việc làm không chính thức: là những công việc làm thêm ngoài việc

liệu, "cầu" về nông sản phẩm (lương thực thực phẩm) tăng. Để đáp ứng yêu cầu
này đòi hỏi quanh các đô thị và các DN, KCN... phải xây dựng, phát triển các
vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá, tạo
điều kiện mở rộng, phát triển chính bản thân ngành nông nghiệp, tạo nhiều việc
làm cho lao động nông nghiệp. Đô thị phát triển, công nghiệp phát triển cung cấp
tư liệu sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ, hỗ trợ vốn,... cho nông nghiệp, cho
người lao động, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất
hàng hoá, tập trung trên quy mô lớn, thu hút nhiều lao động.
Việc thu hồi đất phục vụ quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá làm
kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanh chóng nhờ sự tập trung lực
lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao, cách tổ chức lao động hiện
đại. Do đó, quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị cũng tạo cơ hội để tăng việc
làm. Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa làm chuyển đổi cơ cấu
kinh tế. Ngược lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế làm tăng
trưởng kinh tế theo chiều sâu, tăng năng suất lao động xã hội, tăng GRDP
và GDP bình quân đầu người.
Sự phát triển của các DN, KCN và các đô thị một mặt sẽ tạo ra một
lượng lớn việc làm cho lao động tại đây, đồng thời thu hút và làm giảm đáng
kể lượng lao động nông nhàn góp phần làm tăng năng suất lao động tại các
vùng này. Ngoài số lao động làm việc chính thức tại các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, còn phải kể đến một lực lượng lớn lao động làm việc trong các ngành
dịch vụ, thương mại, xây dựng cơ bản... và các khu vực phi chính thức khác
phục vụ cho phát triển các đô thị và khu công nghiệp.
Hai là, thúc đẩy nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động
Các DN, KCN và các cơ sở SX - KD phát triển sẽ trực tiếp tác động
đến kỹ năng của người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm bớt

17





hồi đất phải hứng chịu những tác động không mong muốn, thậm chí một bộ
phận dân cư không còn nguồn mưu sinh, cuộc sống bất ổn. Đất đai nông nghiệp
bị thu hẹp tạo ra sức ép không nhỏ về việc làm đối với lao động diện thu hồi đất.
Diện tích đất bị thu hồi phục vụ nhiệm vụ phát triển KT - XH, QP - AN thường
có diện tích lớn và chủ yếu tập trung vào đất nông nghiệp, thường chiếm khoảng
70 - 80% tổng số đất nông nghiệp, có địa phương thậm chí phải thu hồi 100%
diện tích đất nông nghiệp. Vì vậy, đã và đang tạo ra sức ép rất lớn về việc làm và
GQVL cho người lao động tại khu vực này.
Như vậy, quá trình thu hồi đất làm cho một bộ phận lớn dân cư sống
dựa vào nông nghiệp bị mất tư liệu sản xuất chủ yếu, do đó gây nhiều khó
khăn về việc làm đối với người lao động - những người nông dân trước đây
gắn bó với ruộng vườn, sau khi bị thu hồi đất, trở thành dân cư đô thị.
Đặc biệt, thu hồi đất nông nghiệp làm nguy cơ thất nghiệp của nhóm
người lao động ở độ tuổi trên 35 là rất lớn. Đây là lực lượng có kinh nghiệm sản
xuất nông nghiệp, song khi bị thu hồi đất thì đây lại là bộ phận có nguy cơ thất
nghiệp lớn nhất vì ở độ tuổi này, số lao động chưa qua đào tạo rất nhiều và việc
tham gia các khoá đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp đối với họ cũng không dễ
dàng như đối với lao động trẻ. Số lao động này thực tế rất khó để tìm được việc
làm mới. Hơn nữa, nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào chính
sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền bù mà không cố gắng vượt qua khó khăn
tìm kiếm việc làm. Tâm lý chờ nhận sự ưu đãi của Nhà nước và các DN mà
không có sự chuẩn bị nghề nghiệp mới đang tồn tại một cách phổ biến ở người
lao động thuộc các vùng bị thu hồi đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, việc thu hồi đất nông nghiệp còn làm tăng nguy cơ xuất hiện
các việc làm phi pháp tại địa phương. Do không có việc làm, nên thu nhập cũng
không có. Nhưng nhu cầu chi tiêu cho bản thân người lao động và gia đình
không thể không có. Điều đó dẫn đến việc một bộ phân lao động không có khả
năng kiếm việc làm chân chính buộc phải tìm cách làm các nghề mà pháp luật

tại Huế, tác giả Hà Thị Hằng đưa ra quan niệm về GQVL thông qua đề tài
"Việc làm cho người lao động sau thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá ở

20


thành phố Huế hiện nay". Theo tác giả, nội dung của GQVL bao gồm toàn bộ
những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực. Quá trình đó diễn ra từ giáo dục, đào tạo, phổ cập nghề nghiệp,
chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động, cho đến tự do lao
động, tái sản xuất sức lao động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị lao động
mà mình làm ra [13].
Tác giả Nguyễn Văn Nhường thì lại cho rằng: Chính sách đào tạo nghề
và GQVL là những quy định cụ thể của Nhà nước, nhằm giúp cho người nông
dân mất đất sản xuất có thể được học một nghề mới và tìm được việc làm,
duy trì được mức thu nhập ổn định..." [22].
Ngoài ra, theo "GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hoá" - cuốn sách do tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng làm chủ biên cho
rằng: GQVL chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu
nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội [38].
Tựu chung lại, các quan niệm khác nhau về GQVL của các tác giả đều
bao hàm nội dung chủ yếu: tạo việc làm cho người lao động chính là việc sử
dụng một cách hợp lý nhất nguồn lực con người, nguồn lực về tài nguyên
thiên nhiên để tạo ra của cải cho đất nước nói chung và tạo ra nguồn thu nhập
một cách chính đáng, tương xứng với đóng góp của người lao động cũng như
người sử dụng lao động. Tạo việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra
số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng chất lượng sức lao động và các
điều kiện KT - XH khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Với các
quan niệm khác nhau như trên đã tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau về
GQVL. Đặc biệt là chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra quan điểm về

biệt là Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Kinh tế, Ban Xóa đói
giảm nghèo và Giải quyết việc làm...) thực hiện chức năng tham mưu và tổ
chức thực hiện các chương trình, kế hoạch GQVL; cộng đồng doanh nghiệp
và các tổ chức đoàn thể quần chúng (Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên,
Hội Phụ nữ, Hội Nông dân...) là những chủ thể tích cực tham gia GQVL cho
người lao động. Đặc biệt, người lao động diện thu hồi đất nông nghiệp vừa là

22


đối tượng GQVL, vừa là chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình này.
Phương thức giải quyết việc làm là vừa dựa vào kế hoạch chương trình,
dự án về giải quyết việc làm của Nhà nước, thành phố, vừa dựa vào sự tham
gia của các doanh nghiệp, của các tổ chức chính trị - xã hội và sự nỗ lực của
cá nhân người lao động; kết hợp kế hoạch và thị trường trong giải quyết các
quan hệ cung cầu về sức lao động.
Từ quan niệm cũng cho thấy, để GQVL cho lao động trọng diện thu hồi
đất nông nghiệp đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ các biện pháp cả kinh tế, giáo
dục, chính trị, pháp lý một cách linh hoạt, trong đó cần chú ý các biện pháp
kinh tế, chính trị. Yêu cầu GQVL cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp:
* Nội dung giải quyết việc làm cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp
Một là: soạn thảo, ban hành chủ trương, chính sách, kế hoạch GQVL
cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp
Trước lãnh đạo, chính quyền Quận cần phải nghiên cứu, quán triệt
hệ thống pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luận của Nhà nước, củ
các bộ, ban ngành Trung ương và của Thành phố Hà Nội có liên quan đến
vấn đề GQVL nói chung và việc làm cho lao động diện thu hồi đất nông
nghiệp nói riêng.
Trên cơ sở quan triệt các văn bản đó, lãnh đạo, chính quyền Quận tiếp
tục chỉ đạo và tổ chức cho các cơ quan tham mưu xây dựng cụ thể các chương

nghiệp nói riêng, bởi lao động nông nghiệp không thể dịch chuyển một cách
cơ học đơn giản từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Trên
thực tế, đa số người lao động diện thu hồi đất có trình độ văn hóa thấp, chưa
qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, hoạt động sản xuất của họ chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm truyền thống được truyền lại từ đời này sang đời khác; tư duy,
nếp nghĩ, cách làm, tác phong và kỷ luật làm việc không phù hợp với yêu cầu
của thị trường SLĐ. Chính vì vậy, việc đào tạo, đào tạo lại và dạy nghề cho
lao động diện thu hồi đất nông nghiệp trở nên cấp bách và cần thiết giúp họ
có cơ hội đổi nghề, chuyển nghề sau khi bị thu hồi đất.
Khi nói đến phát triển, nâng cao chất lượng nguồn cung SLĐ từ lực lượng

24


lao động diện thu hồi đất nông nghiệp tức là nói đến vấn đề đào tạo, đào tạo lại
và dạy nghề cho lực lượng này. Đây là vấn đề lớn, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực, trong đó vai trò của gia đình, hệ thống các trường, trung tâm, cơ
sở dạy nghề và xã hội cũng như bản thân người lao động diện thu hồi đất nông
nghiệp đóng vai trò quyết định. Chất lượng nguồn cung SLĐ được thể hiện
thông qua các chỉ số cơ bản, cụ thể như: trình độ học vấn, trình độ chuyên
môn kỹ thuật; nhận thức chính trị, trạng thái tâm lý, ý thức nghề nghiệp,
kỷ luật lao động, kỹ năng và mức độ thành thục với công việc… Do vậy,
phát triển, nâng cao chất lượng nguồn cung SLĐ cũng chính là quá trình
tập trung, đầu tư để không ngừng hoàn thiện các chỉ số cơ bản đó.
Hoạt động đào tạo, dạy nghề cho lao động diện thu hồi đất nông
nghiệp góp phần tăng số lượng và chất lượng nguồn cung SLĐ được tiến hành
với nhiều hình thức, biện pháp đa dạng, phong phú: đào tạo tập trung, đào tạo
tại chức; đào tạo dài hạn (từ 1 năm trở lên) và đào tạo ngắn hạn; đào tạo tại
chỗ (vừa học, vừa làm) và tự đào tạo, mở các lớp tập huấn, dạy nghề…Lực
lượng tham gia đào tạo, dạy nghề cho lao động diện thu hồi đất nông nghiệp

làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng; GQVL với sự tham
gia của các đoàn thể quần chúng như: Hội cự Chiến Binh, Hội Nông dân, Hội
Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản… ; GQVL trên cơ sở động viên, khuyến
khích người lao động tích cực, chủ động tự tạo việc làm đồng thời với hợp tác
đưa lao động đi làm việc, lao động ở nước ngoài.
1.2.2. Những yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho lao động
diện thu hồi đất nông nghiệp
Thứ nhất, chính sách vĩ mô của Nhà nước
Chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo việc
làm, GQVL đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ
phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ.
Các chính sách chủ yếu tác động tới phát triển nguồn nhân lực và
GQVL như: chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; chính sách
khuyến khích sản xuất hàng hoá xuất khẩu; chính sách tín dụng ưu đãi để các

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status