LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG - Pdf 42

LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
12
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
12
1.2. Nội dung quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung
học phổ thông
22
1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục pháp luật cho
học sinh trung học phổ thông
31
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
36
2.1. Khái quát đặc điểm giáo dục pháp luật cho học sinh trung
học phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
36
2.2. Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung
học phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
41
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
57
3.1. Yêu cầu có tính nguyên tắc trong xây dựng biện pháp quản lý

rèn luyện đạo đức, lối sống thể hiện trong các văn kiện của Đảng ta như: Văn

kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI ( năm 2011) đã ghi
nhận: "Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo
dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng
lập nghiệp”.
Trên tinh thần đó, chính phủ chỉ đạo các bộ, các cấp, các ngành phối
hợp thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên. Bộ giáo dục và đào
tạo đã đưa giáo dục pháp luật vào chương trình học tập chính khoá trong các
cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao, sự hiểu biết pháp luật của học
sinh, sinh viên còn nhiều hạn chế. Tình trạng vi phạm pháp luật ở độ tuổi này
còn xảy ra rất nhiều. Đặc biệt là tình trạng vi phạm pháp luật ở độ tuổi 15-18
ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ. Ở lứa tuổi này nhân cách các em

2


đang trong giai đoạn hình thành và chưa ổn định. Các em rất dễ sa ngã, dễ bị
rủ rê, lôi kéo vào các hành vi phạm tội do đặc tính hiếu động, tò mò, thích thể
hiện mình của tuổi trẻ nhưng cũng dễ uốn nắn khi được định hướng, được
giáo dục và được trang bị một số kiến thức pháp luật ngay từ đầu.
Công tác giáo dục pháp luật cho học sinh THPT nói chung, học sinh
THPT huyện Tứ Kỳ nói riêng thời gian qua luôn được các cấp, các ngành, ban
giám hiệu quan tâm thực hiện và về cơ bản đã đạt được những mục tiêu,
nhiệm vụ đề ra. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định như: chương
trình, nội dung chưa có tính hệ thống cao; việc phân bổ thời gian học tập chưa
thật phù hợp; một số bộ phận giáo viên chưa thật sự nhiệt tình tâm huyết;
chưa thực sự đổi mới về phương pháp giảng dạy nhất là những phương pháp
giảng dạy tích cực áp dụng trong các tình huống pháp luật; hình thức giáo dục
pháp luật chủ yếu là học tập trên lớp... Để khắc phục được những hạn chế trên

Tác giả, Bạch Đức Thịnh (2014), với luận án thạc sỹ: “Quản lý quá trình
giáo dục pháp luật cho học viên ở trường sĩ quan không quân hiện nay”. Tác giả
đã đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho
học viên ở các trường sĩ quan không quân hiện nay, trên cơ sở đó tác giả đề ra hệ
thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục pháp luật cho
học viên ở trường sĩ quan không quân hiện nay. Mặc dù, khác nhau về phạm vi
và khách thể nghiên cứu nhưng công trình nghiên cứu đã giúp tác giả tiếp thu, kế
thừa một số cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của tác giả.
Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, có công trình: “Một số vấn
đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay’ (Nxb Thanh niên, 1997).
Tác giả Nguyễn Trọng Bích, với công trình nghiên cứu ”Giáo dục ý
thức pháp luật, đăng trên Tạp chí Xây Dựng Đảng, số 4/1989. Trong đó tác
giả phân tích, làm rõ tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật cho
mọi người hiện nay, coi đó là cơ sở, tiền đề của việc chấp hành nghiêm pháp
5


luật. Đó chính là xây dựng ý thức tự giác của mọi người làm nền tảng cho sự
thống nhất giữa ý chí và hành động chấp hành, tuân thủ theo pháp luật.
Tác giả Hồ Hữu Hiệp (2000), với công trình: “Xã hội hoá công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới” (đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 9). Tác giả chỉ ra trong tình hình mới, công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật cần có sự tham gia của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người;
điều đó sẽ mang lại chất lượng và hiệu quả cao trong việc xây dựng ý thức và
hành vi chấp hành pháp luật.
Tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục, với công trình: Giáo dục pháp luật và
quá trình hình thành nhân cách (Nxb pháp lý, Hà Nội). Tác giả đã nêu lên
những vấn đề cơ bản về giáo dục pháp luật và mối liên hệ giữa giáo dục pháp
luật với sự hình thành và phát triển nhân cách.
Tác giả Nguyễn Hữu Phúc (2012), với công trình: Giáo dục ý thức pháp

triển trong đề tài luận văn đã xác định.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục pháp luật, đề
xuất các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT huyện
Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương, nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
của nhà trường.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh
THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
*Khách thể nghiên cứu
7


Quản lý giáo dục phẩm chất, nhân cách cho học sinh các trường THPT
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
*Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông huyện Tứ
Kỳ, tỉnh Hải Dương.
*Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận theo quá trình giáo dục
(nghĩa hẹp), trong đó tập trung nghiên cứu quá trình giáo dục pháp luật cho
học sinh các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật
và đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT
huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương trong thời gian vừa qua và đề xuất biện pháp

thực hiện phối hợp giáo dục pháp luật cho học sinh của bộ tư pháp; các văn
kiện, nghị quyết của Đảng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật giáo dục; các giáo
trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý và quản lý giáo dục; các
công trình nghiên cứu, báo khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố
và đăng tải trên các tạp chí, báo, kỷ yếu khoa học, hội thảo.
Sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp hệ thống hoá các tài liệu
liên quan làm cơ sớ lý luận của đề tài.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học, GDPL cho học sinh
THPT huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương tại nhiều thời điểm khác nhau.
Phương pháp tọa đàm trao đổi: Tọa đàm trao đổi với cán bộ quản lý,
các thành phần lực lượng tham gia GDPL và đối tượng học.
Phương pháp tổng kết kinh nhiệm: Nghiên cứu những vấn đề đã và
đang diễn ra.
Phương pháp điều tra: Điều tra đối với 1120 học sinh, 186 giáo viên và
10 cán bộ quản lý các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

9


Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về pháp
luật, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục về nội dung nghiên cứu.
- Nhóm các phương pháp hỗ trợ
Phương pháp toán thống kê: Sử dụng toán thống kê để tổng hợp, tính
toán các số liệu điều tra.
7. Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm phong phú về lý luận quản lý GDPL và đề xuất các biện
pháp quản lý GDPL học sinh THPT.
Có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý giáo dục, cho giáo
viên và các lực lượng phối hợp hoạt động GDPL cho học sinh.

của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển
phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Pháp luật có các thuộc tính cơ bản:
Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, qui phạm
được hiểu là những qui tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực,
mực thước đối với hành vi của một phạm vi cá nhân, tổ chức. Pháp luật được
biểu hiện cụ thể là những qui phạm pháp luật. Do vậy nó cũng là qui tắc xử sự
chung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà nước
ban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể
12


mà áp dụng cho tất cả các chủ thể. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa pháp
luật với các loại qui phạm khác ở chỗ, Pháp luật là qui tắc xử sự mang tính
bắt buộc chung.
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật là phải
xác định chặt chẽ về mặt hình thức, được diễn đạt bằng lời văn, phải chính
xác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa. Nếu không đúng được yêu cầu này, chủ
thể sẽ hiểu sai, hiểu khác. Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và
thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên mỗi một cơ
quan, loại cơ quan chỉ được ban hành những loại văn bản nhất định có tên gọi
xác định và theo một trình tự, thủ tục nhất định.
Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước. Pháp luật do Nhà nước
ban hành và thừa nhận đồng thời Nhà nước sẽ đảm bảo cho Pháp luật đó được
thực hiện trong thực tiễn đời sống. Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp
đỡ để chủ thể thực hiện pháp luật. Nhà nước đảm bảo cho Pháp luật được
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Tính cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi pháp luật. Mục đích
cưỡng chế và cách thức cưỡng chế là tuỳ thuộc bản chất Nhà nước.
Giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp

sinh trung học phổ thông là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, phối
hợp thống nhất giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, nhằm nâng cao
nhận thức, hình thành niềm tin và rèn luyện thói quen hành vi ứng xử cho học
sinh theo đúng các quy định của pháp luật, đáp ứng mục tiêu giáo dục của
nhà trường.
Mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông: Nhằm
hình thành cho các em có kiến thức, hiểu biết, niềm tin vào hệ thống pháp luật
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trên cơ sở đó hình thành ý thức
tự giác chấp hành pháp luật, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật,...
14


Nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông: Là
giáo dục quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về nội dung của Hiến pháp và các văn
bản luật, các pháp lệnh, nghị định, thông tư,... cùng với các quy định, quy
tắc, chuẩn mức xã hội đã được ban hành; giáo dục những nội dung liên
quan đến đạo đức, kinh tế chính trị, xã hội, pháp luật cơ bản. Nội dung giáo
dục pháp luật cho học sinh cần tập trung vào những quy định pháp luật cơ
bản, cần thiết liên quan đến học sinh như an toàn giao thông, quyền con
người, quyền công dân, pháp luật về thanh thiếu niên, pháp luật về an toàn
giao thông, phòng chống các tội phạm các tệ nạn xã hội, luật bảo vệ môi
trường, luật biển đảo Việt Nam, pháp luật về lao động và việc làm, hôn
nhân và gia đình, các quy định về pháp luật có liên quan đến công tác đảm
bảo an ninh trật tự, nếp sống văn minh, luật giáo dục có liên quan đến học
sinh, các nội quy của nhà trường...
1.1.2. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét
trên nhiều phạm vi cá nhân, tập thể, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt động
quản lý xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để

công việc qua những nỗ lực của người khác.
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về
QL. Đó là:
Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì : “Quản lý là chức năng của những
hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội),
thực hiện những chương trình mục đích hoạt động”. [33, tr.19].
Trong sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường thì quản lý được
hiểu là đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục
của hệ thống và môi trường, là sự chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích
16


ứng với hoàn cảnh mới. “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục
đích đến tập thể người, thành viên của hệ, làm cho hệ vận hành thuận lợi và
đạt mục đích dự kiến”.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của
nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu
của xã hội”. [24 tr.32].
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người
cộng sự khác nhau cùng chung tổ chức.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “ Quản lý là một quá trình tác động có
định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành
của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”;
“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể
những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [40, tr 24]
Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý một hệ thống là nhằm làm
cho hệ thống đó vận động theo mục tiêu đã đặt ra và tiến đến các trạng thái có
tính chất lượng mới. Trong quản lý có chăm sóc, giữ gìn sự ổn định, có sửa
sang, sắp xếp, đổi mới để phát triển; Tuy nhiên hệ thống có sự ổn định mà

Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà
còn là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và công
nghệ thì giáo dục có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc
tranh đua đó. Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong
chiến lược và mọi chính sách của mỗi quốc gia.
Trong các nước phát triển người ta vận dụng lý luận quản lý giáo dục
bắt nguồn từ lý luận quản lý xã hội. Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người
trong quản lý xã hội” A.Gafanaxép (Viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành 3 lĩnh
18


vực: “Chính trị - Xã hội”, “Văn hoá - Tư tưởng” và “Kinh tế” và từ đó có 3
loại quản lý: “Quản lý chính trị - xã hội” , “Quản lý văn hoá - tư tưởng” và
“Quản lý kinh tế”. Quản lý giáo dục nằm trong quản lý văn hoá - tư tưởng
[17, tr97]. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thì
M.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta
không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư
phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa
học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường
để bảo đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá
trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [25, tr94].
Theo P.V. Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tác
động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản
lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà
trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ
trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát triển toàn diện
và hài hoà của họ.
Theo Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của
giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ
thống giáo dục theo mục tiêu đề ra.
Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ
sở vật chất kĩ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực
hiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động
của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của
chủ thể quản lý đã đề ra.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản của quản lý giáo dục,
trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất,
20


nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp thực hiện mục tiêu của quá trình
quản lý giáo dục.
Có thể nói rằng QLGD chính là một quá trình tác động có định hướng của
nhà QLGD (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung
nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêu
giáo dục đề ra. Thực chất đó là những tác động khoa học đến nhà trường, làm
cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học, giáo
dục theo mục tiêu đào tạo. Chủ thể của quản lý giáo dục là trung tâm thực hiện
các tác động có mục đích của giáo dục, ra quyết định, điều hành và kiểm tra các
hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra. Đối tượng của quản lý giáo
dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất, kỹ thuật của giáo dục
và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục. Đó
chính là những đối tượng chịu sự tác động của chủ thể quản lý giáo dục để thực
hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra.
Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất

chất lượng... Để đạt được mục tiêu quản lý GDPL cần sử dụng các phương
thức quản lý GDPL một cách linh hoạt, phù hợp với nội dung, chủ thể, đối
tượng quản lý GDPL trong từng giai đoạn nhất định.
1.2. Nội dung quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học
phổ thông
1.2.1. Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật
Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu
hình thành nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo
dục nhất định. Đó là một hệ thống các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại,
trong từng giai đoạn nhất định, đối với nhân cách một loại đối tượng
giáo dục.
Mỗi nội dung giáo dục đều có mục tiêu riêng và giáo dục pháp luật

22


cũng vậy. Mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông là
giúp học sinh nâng cao hiểu biết, có ý thức tôn trọng thực thi pháp luật, góp
phần tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật mọi lúc mọi nơi, góp phần
hình thành ý thức và phẩm chất công dân, xây dựng các mối quan hệ lành
mạnh, hoà nhập, yêu thương chia sẻ và giúp đỡ của học sinh với người thân,
bạn bè và cộng đồng.
Để hình thành cho học sinh ý thức, lối sống và học tập theo hiến pháp
và pháp luật cần trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về pháp luật,
xây dựng cho học sinh niềm tin vào pháp luật. Từ đó học sinh sẽ có biện pháp
phòng và đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh chống các
hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội. Mục tiêu giáo dục pháp luật được
xây dựng phải phù hợp với yêu cầu giáo dục và đào tạo trong mỗi thời đại,
trong từng giai đoạn với từng đối tượng giáo dục. Quản lý mục tiêu giáo dục
pháp luật là quản lý mục tiêu, kế hoạch giáo dục pháp luật của chủ thể giáo

pháp luật mới và các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết khác trong lĩnh vực
giáo dục để xây dựng mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh. Đồng thời chủ
thể giáo dục phải thường xuyên kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện, kết quả
đạt được so với mục tiêu đề ra để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
1.2.2 . Quản lý chủ thể giáo dục pháp luật
Lực lượng tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn giáo dục công dân.
Ngoài ra còn có sự tham gia của các báo cáo viên, tuyên truyền viên đến từ
công an xã, công an huyện, đoàn thanh niên, hội phụ nữ...
Chủ thể GDPL cho học sinh là một trong những nhân tố quan trọng
trực tiếp quyết định kết quả GDPL cho học sinh bởi họ là những người trực
tiếp tham gia giảng dạy, rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh.
Vì vậy ban giám hiệu cần quản lý sâu sát chủ thể giáo dục pháp luật cho
24


học sinh cả về chuyên môn nghiệp vụ và lối sống. Đảm bảo thầy luôn là
những người chuẩn mực trong lời nói và hành vi, là tấm gương sáng cho
các em học tập. Quản lý chủ thể GDPL cho học sinh là xây dựng kế hoạch,
tổ chức, điều khiển và kiểm tra các hoạt động của các chủ thể GDPL. Ban
giám hiệu cần nắm vững trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của từng
cá nhân, đoàn thể tham gia vào công tác giáo dục pháp luật cho học sinh để
phân công nhiệm vụ phù hợp và có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ kịp thời cho lực lượng tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh. Đồng
thời có chế độ chính sách phù hợp, để giáo viên chuyên tâm học hỏi bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tích cực tìm tòi đổi mới phương pháp nâng
cao chất lượng GDPL cho học sinh.
1.2.3. Quản lý đối tượng giáo dục pháp luật
Căn cứ vào quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 9/4/2012 của thủ tướng
chính phủ, đối tượng giáo dục pháp luật là các em học sinh ở các trường trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status