LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUẢN lý HOẠT ĐỘNG GIÁO dục HƯỚNG NGHIỆP CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN mỹ XUYÊN, TỈNH sóc TRĂNG - Pdf 42

1
CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Cán bộ quản lý

CBQL

Cha mẹ học sinh

CMHS

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CNH - HĐH

Giáo dục công dân

GDCD

Giáo dục - đào tạo

GD - ĐT

Giáo dục hướng nghiệp

GDHN


MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2

2.1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
Các khái niệm công cụ
Các yếu tố tác động hướng nghiệp cho học sinh Trung học
phổ thông
Quản lý hoạt động GDHN cho học sinh Trung học phổ thông
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH
SÓC TRĂNG
Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trung học phổ thông tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng

2.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh Trung học phổ thông tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc
Trăng
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh Trung học phổ thông tại Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc
Trăng
Chương 3

MỤC LỤC
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

93
97
101


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định rằng
“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu chuẩn hóa, hiện đại
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập và tạo điều kiện cho mọi công dân được
học tập suốt đời”. GDHN là một bộ phận của sự nghiệp GD - ĐT con người, đương
nhiên GDHN cũng phải đổi mới căn bản và toàn diện. Theo logic đó, có thể hiểu đổi
mới căn bản GDHN là đổi mới về các phương diện nội dung, chương trình, sách giáo
khoa, sách tham khảo, phương pháp HN và cả quản lý HN khi hệ thống GDHN không
còn nguyên dạng trước đây nữa. Hơn nữa, HN là hệ thống những biện pháp dựa trên
cơ sở tâm lý học sinh học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học
sinh chọn nghề phù hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá
nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ có
sẵn của đất nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế, CNH - HĐH hiện nay, để
chọn được cho mình một công việc ổn định và phù hợp để sinh sống và phát triển là
một việc không dễ. Trên thực tế, hiện tượng có rất nhiều người phải thất nghiệp hay
phải làm việc không đúng với chuyên môn là khá phổ biến, họ thấy khó khăn trong

vọng…, chưa đủ cơ sở để giúp các em học sinh có những quyết định đúng đắn trong
việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
Tỉnh Sóc Trăng nói chung, Huyện Mỹ Xuyên nói riêng cũng nằm trong thực
trạng chung đó; là một tỉnh vùng sâu ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, cũng
là huyện có đông đồng bào dân tộc Khmer, chính vì vậy việc tiếp cận thông tin nghề
nghiệp cũng như các hoạt động tư vấn HN dành cho học sinh rất khó khăn. Trong khi
đó, nhu cầu cần được tư vấn của học sinh là rất cao, các em luôn tìm đến thầy cô, các
đoàn thể cũng như các tổ chức khác có liên quan để được giải đáp mọi thắc mắc về
nghề nghiệp mà các em sẽ chọn. Tuy nhiên, hiện tượng học sinh gặp nhiều khó khăn
trong việc chọn trường, chọn nghề luôn xảy ra; đa số các em đều có mong muốn được
vào các trường Đại học, Cao đẳng hoặc TCCN để có một nghề nghiệp nhất định. Thế
nhưng sự hiểu biết của các em về nghề nghiệp mà học sinh chọn thì rất mơ hồ và hạn
chế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập và nghề nghiệp của các em
sau này. Có những học sinh theo đuổi ngành học của mình cho đến khi đi thực tập thì
mới phát hiện mình không thích hợp với nghề nghiệp đã chọn; sinh viên ra trường làm
việc trái với ngành nghề chuyên môn hoặc không thể xin được việc ngày càng nhiều.
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Do học sinh thiếu các


5
thông tin cần thiết nên chọn nghề chưa phù hợp với thị trường lao động, chưa đáp ứng
được nhu cầu của xã hội. Về mặt chủ quan, nhìn chung, đa số học sinh có nhu cầu tư
vấn HN, nhưng nhu cầu này còn phiến diện, học sinh chỉ mới quan tâm chủ yếu đến
các nghề có thu nhập cao, chưa quan tâm tìm hiểu các khía cạnh khác như năng lực,
hứng thú cá nhân, những yêu cầu của nghề đối với người lao động, triển vọng phát
triển của nghề ở địa phương và nhu cầu nhân lực... Đây là những nội dung thật sự cần
thiết nhưng học sinh chưa ý thức được để có nhu cầu tư vấn HN. Mặt khác, trong thực
tế hiện nay, các nhà trường phổ thông chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp thông tin tối
thiểu về các ngành nghề tuyển sinh của các trường Đại học, Cao đẳng và TCCN mà
không hề quan tâm đến những yếu tố có liên quan khác. Một số trường có tổ chức cho

Vấn đề chọn nghề của thanh niên không những ảnh hưởng quyết định đến tương lai,
hạnh phúc, cuộc đời của các em mà còn gắn liền đến sự phát triển kinh tế, xã hội của
đất nước liên quan đến “quốc kế dân sinh”.
* Công tác HN ở một số nước trên thế giới
- Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ:
Bước vào Thế kỹ XXI, Hoa Kỳ đang có nhiều nỗ lực để nâng cao hơn nữa chất
lượng giáo dục, tăng cường kết quả học tập của học sinh nhằm đảm bảo cung cấp một
lực lượng lao động có trình độ, có khả năng cạnh tranh và thích ứng linh hoạt trong
điều kiện nền kinh tế toàn cầu…Người ta đã đưa ra nhiều hướng giải quyết và đưa ra
các nội dung cần tăng cường với các chiến lược quan trọng, trong đó có tăng cường
mối liên hệ giữa trường trung học với doanh nghiệp theo hướng chuyển dần thành
trường đào tạo nghề chuyên nghiệp. Một phần của chiến lược này là tạo cơ hội cho
học sinh tham gia làm việc bán thời gian tại xí nghiệp. Đây là một hình thức GDHN
trong nhà trường phổ thông là “học đi đôi với hành, học gắn liền với lao động sản
xuất”.
- Nhật Bản:
Các trường THPT được nhóm thành: chương trình phổ thông, chương trình dạy
nghề và chương trình phối hợp toàn diện. Năm thứ nhất của trường THPT được dành
cho giáo dục phổ thông cho tất cả học sinh. Năm thứ hai, chương trình được chia
thành dự bị đại học và dạy nghề. Năm thứ ba, chương trình dành cho học sinh sẽ lên
học đại học lại được chia thành khoa học nhân văn và xã hội, khoa học và công nghệ.
Vì vậy, ngay cả các trường THPT chung cũng có ba chuyên ngành sau khi tốt nghiệp.
Các chương trình dạy nghề dành ít thời gian hơn cho các môn văn hoá và tất nhiên
nhấn mạnh các môn hướng vào các nghề đặc thù. Khi đủ 15 tuổi các em nhập học
THPT và sẽ quyết định sẽ theo chương trình phổ thông, dạy nghề hay chương trình
phối hợp toàn diện… Ngay ở lớp học đầu tiên bậc THPT, nền giáo dục Nhật Bản đã


7
quan tâm đến công tác HN cho các em học sinh, tuỳ theo chương trình mà có môn học

và các em học sinh thực sự quan tâm. Hiện nay, từ cấp độ quản lý, các nhà giáo dục


8
vẫn chưa giải quyết tốt vấn đề này. Vì thế, đây là một vấn đề thực sự nóng bỏng mà
các nhà khoa học giáo dục trong thời gian qua thực sự quan tâm; có nhiều đề tài
nghiên cứu, tài liệu, báo cáo khoa học bàn về hoạt động hướng nghiệp, như:
- Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông trung học
tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm HN và chọn nghề”.
Quang Dương (chủ nhiệm đề tài), Viện nghiên cứu GD - ĐT phía Nam, thaønh phoá Hoà
Chí Minh 1998.
Đề tài đã đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại thaønh phoá Hoà Chí Minh ở vào
thời điểm cuối những năm 1990 của thế kỷ XX mất căn đối rất nghiêm trọng về trình
độ kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ giữa bậc Đại học, Cao đẳng với công nhân kỹ
thuật. Bên cạnh đó, các tác giả cũng khảo sát thực trạng tâm lý chọn nghề của HS lúc
bấy giờ chủ yếu là thi vào các trường Đại học. Trong việc chọn nghề, các em còn lúng
túng và chọn theo cảm tính. Chỉ có số ít các en có phân tích, căn nhắc, tìm hiểu thông
tin trước khi chọn trường, chọn nghề. Qua đó cho thấy công tác HN trong nhà trường
phổ thông cần xem xét lại một cách đầy đủ hơn.
- Đề tài: “Quản lý công tác HN cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các
trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn thaønh phoá Đà Nẵng. Thực trạng và giải
pháp”. Luận văn thạc sĩ của học viên Huỳnh Thị Tam Thanh.
Đề tài nêu ra thực trạng quản lý công tác GDHN học sinh tại các trung tâm giáo
dục thường xuyên trên địa bàn thaønh phoá Đà Nẵng và đưa ra những giải pháp nhằm
tăng cường quản lý công tác này. Ưu điểm của đề tài là xác định được các đầu việc
quản lý của lãnh đạo nhà trường trong quản lý GDHN và đưa ra những biện pháp tăng
cường hiệu quả của công tác này. Bên cạnh đó, đề tài chưa xây dựng được một cơ sở
lý luận hoàn chỉnh để làm nền tảng cho việc giải quyết phần nội dung, đề tài cần phải
nghiên cứu thêm về tâm lý lứa tuổi của học sinh thanh niên. Trong quá trình thực hiện
các nhiệm vụ công tác GDHN cần quán triệt vấn đề: Mức độ nội dung hình thức và

HS phổ thông trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Trung tâm Kỹ thuật - Hướng
nghiệp Thủ Đức. 1998. Hội thảo khoa học về “Tổ chức giáo dục lao động. HN theo
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”. Sở GD - ĐT thành phố Hồ Chí Minh, tháng
11/2001.
Hội thảo khoa học về “Nhu cầu tư vấn học đường tại các trường THPT trong
thành phố Hồ Chí Minh”. Viện nghiên cứu giáo dục - Trường Đại học Sư Phạm thành
phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2003.
Hiện tại tỉnh Sóc Trăng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề
“Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông


10
huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng”. Do đó, đề tài tác giả lựa chọn không trùng lập với
các công trình đã được công bố, đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động GDHN của các trường THPT tại
huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng và
hiệu quả quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc
Trăng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động GDHN.
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT tại huyện Mỹ
Xuyên, tỉnh Sóc Trăng trong thời gian vừa qua.
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN ở trường THPT, nhằm
hướng cho học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, đáp ứng được yêu cầu
phát triển KT - XH của địa phương.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT tại huyện Mỹ Xuyên,

- Quan điểm thực tiễn
Qua điều tra, nghiên cứu thực tế, phân tích để phát hiện những tồn tại trong quản
lý hoạt động GDHN cho HS ở các trường THPT huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, trên
cơ sở đó, đề ra những giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN ở các
trường THPT.
- Quan điểm lịch sử, logic
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của hoạt động GDHN trên thế giới và ở Việt
Nam. Đồng thời, xem xét xu thế phát triển KT-XH và nhu cầu nguồn nhân lực của đất
nước và trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng trong những năm vừa qua cùng
với những thành tựu cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích - tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý
luận trong các văn bản, tài liệu, sách báo, thông tin trên mạng Internet có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát


12
Người nghiên cứu tiến hành quan sát có chủ định cách tổ chức, tiến hành quản
lý hoạt động GDHN ở các trường THPT, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương
tiện dạy học phục vụ cho công tác GDHN ở các trường THPT… nhằm thu thập thông
tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT huyện Mỹ
Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hoặc trao đổi với cán bộ quản lý, giáo
viên về công tác quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Sóc Trăng.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CỦA BA TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Quản lý
Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất”.
Theo Harold Koolz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của
mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có
thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất
mãn cá nhân ít nhất.
Theo các nhà Tâm lý học thì: “Quản lý là hoạt động đặc biệt của con
người trong xã hội, mọi hoạt động rất phức tạp và đa dạng. Đó là sự tác động
toàn diện vào một nhóm người, một tập thể người, điều khiển họ hoạt động
nhằm đạt tới mục đích nhất định đã được đề ra từ trước”.
Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội: quản lý
gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện
công việc và đạt được mục đích của nhóm. Nói một cách đơn giản, dễ hiểu thì
quản lý là sự tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể
quản lý đến tập thể những người lao đông (nói chung là khách thể quản lý có
liên quan) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến.
1.1.2 Quản lý trường học
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
với quy luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo
đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào
tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao



hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can


16
thiệp) của chủ thể quản lý tới tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ, công nhân
viên khác trong nhà trường, nhằm tận dụng các nguồn lực do Nhà nước đầu tư,
do xã hội đóng góp và do nhà trường tạo ra để hướng vào việc đẩy mạnh mọi
hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là hoạt động dạy học - giáo dục.
1.1.4. Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần
của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao
động xã hội mà có). Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình
để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển.
1.1.4. Lựa chọn
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính
toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số
những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong các điều kiện
khan hiếm nguồn lực.
Các em học sinh lớp 12 trước khi chuẩn bị tốt nghiệp thường được nhà
trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp
với mục tiêu nghề nghiệp và học lực. Sau khi chọn ngành, nghề mình thích, căn
cứ vào các tiêu chí: năng lực bản thân, điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển, nhu cầu xã
hội, việc làm sau khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý... Học sinh xác định cấp
học phù hợp với năng lực rồi chọn trường và làm các thủ tục đăng ký dự thi.
Trong nghiên cứu này, khái niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn
trường Đại học, Cao đẳng (Học viện) để đăng ký dự thi và theo học sau khi tốt
nghiệp THPT.
1.1.4. Hướng nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi
xem xét hoạt động HN có thể có những quan điểm khác nhau về khái niệm này.

muốn chọn, phải có kĩ năng tự đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm
- sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao
động... Như vậy, thông qua việc tổ chức hoạt động GDHN, nhà trường sẽ giúp
cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách phù hợp về nhu cầu, hứng thú, sở
trường, đặc điểm tâm - sinh lý của mỗi học sinh, đồng thời phù hợp với điều kiện
của mỗi học sinh cũng như nhu cầu về nhân lực của xã hội đối với nghề. Từ đó
giúp điều tiết hợp lý việc chuẩn bị nguồn lực lao động cho xã hội, đáp ứng tốt


18
nhu cầu về nguồn nhân lực của đất nước trong quá trình CNH - HĐH. Từ đó có
thể khẳng định, GDHN và tư vấn HN học đường là không thể thiếu trong các
hoạt động giáo dục ở trường phổ thông. Là một trong các mặt giáo dục phát
triển toàn diện cho học sinh, hơn nữa nó còn mang ý nghĩa KT - XH rất lớn.
1.2.2. Yếu tố bạn bè
Mở rộng các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ bạn bè là một đặc
điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi học sinh THPT. Quan hệ bạn bè là một nhu
cầu không thể thiếu và được các em rất coi trọng, bởi vì thông qua mối quan hệ
này các em có thể giải bày tâm sự, nguyện vọng, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, kể
cả những điều thầm kín, riêng tư những dự định về nghề nghiệp, về tương lai.
Trong mối quan hệ này các em có thể tự khẳng định được khả năng, vị trí của
mình, được giúp đỡ bạn bè. So với tình bạn của lứa tuổi học sinh THCS thì tình
bạn của học sinh THPT có nhiều sự khác biệt, các em chọn bạn trên cơ sở của sự
phù hợp về nhiều mặt và sự cân nhắc, vì vậy, mối quan hệ này thường khá bền
chặt và tồn tại suốt cuộc đời các em. Chính vì vậy bạn bè cùng lớp, cùng trường
cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của học
sinh THPT.

1.2.3. Yếu tố các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội
Trong thời đại bùng nổ của thông tin và các phương tiện thông tin đại

1.3. Quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1. Định nghĩa
GDHN là một bộ phận của giáo dục toàn diện. Thông qua GDHN, mỗi
học sinh có sự hiểu biết về tính chất và đòi hỏi của ngành nghề mà mình hướng
tới, biết phân tích thị trường hoạt động và sự đào tạo nghề tương ứng, tự sàng
lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân.
Từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không
phù hợp với mình.
1.3.2. Quản lý hoạt động GDHN
GDPT là một tiểu hệ thống trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.
Hệ thống này có một vai trò và vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục hình
thành nhân cách con người Việt Nam mới. Cơ sở GDPT gồm trường tiểu học,
trường THCS, trường THPT, trường phổ thông có nhiều cấp học, trung tâm kỹ
thuật tổng hợp - HN. Mục tiêu giáo dục ở trường THPT đã được Luật giáo dục


20
2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu lên ở điều 27: “Giúp
HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn
phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và HN, có điều kiện
phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
HN ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát
triển nguồn nhân lực. Vì vậy quản lý GDHN ở trường THPT trong giai đoạn
hiện nay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của
quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN. Các thành tố và mối quan hệ này
được biểu diễn bằng sơ đồ 1.1 sau đây:

Mục tiêu GDHN


THPT của huyện Mỹ Xuyên thì chỉ có

12.6% cho rằng có cán bộ chuyên trách, 82.1% là bán chuyên trách, 5.3% cán
Hình thức GDHN

bộ, giáo viên chưa có kiến thức đầy đủ về hoạt động GDHN.
1.3.3. Nội dung quản lý HN

Kết quả GDHN

Bao gồm 3 nội dung:
- Định hướng nghề nghiệp.
- Tư vấn nghề nghiệp.
- Tuyển chọn nghề là xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển
nghề phù hợp vào học hay làm việc.


21
Ba nội dung này có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau, trong đó Tư vấn
nghề nghiệp là cầu nối giữa Định hướng nghề nghiệp và Tuyển chọn nghề, được
biểu diễn theo sơ đồ 1.2 sau:

Định hướng nghề nghiệp

Tư vấn nghề nghiệp

Tuyển chọn nghề nghiệp
1.2 Mối quan hệ của nội dung GDHN

Từ ba nội dung trên bổ sung thêm ba nội dung khác tạo thành sáu thành tố

1

Lựa chọn nghề nghiệp tương lai

2

Năng lực bản thân và truyền thống gia đình

3

Tìm hiểu nghề dạy học

4

Giới tính ghề nghiệp

5

Tìm hiểu một số nghề thuộc Nông - Lâm - Ngư nghiệp

6

Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Y - Dược

7

Tham quan một số đươn vị sản xuất công hoặc nông nghiệp

8


Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động

7

Thảo luận: Tác giả muốn đạt được ước mơ của mình

8
12

Nội dung

Tham quan một số trường Đại học, Cao đẳng, TCCN, dạy
nghề

1

Định hướng phát triển kinh tế của đát nước, của địa phương

2

Thảo luận: những điều kiện để thành đạt trong nghề

3

Tìm hiểu hệ thống trường TCCN và đào tạo nghề của trung
ương và địa phương


23
4

nghiệm khả năng giao tiếp; trắc nghiệm khả năng kinh doanh... để tìm hiểu hứng
thú, thiên hướng, năng lực và những phẩm chất nghề chuyên biệt của con người.
Mục đích của tư vấn chẩn đoán là xác định trong những lĩnh vực hoạt động nào
con người có thể lao động thành công nhất, tức là đem lại lợi ích tối đa cho xã
hội, đồng thời cũng đem lại niềm vui và sự hài lòng cho bản thân người lao
động.
3) Tư vấn y học: người làm tư vấn đo đạc các chỉ số tâm sinh lý như thị
giác, thính giác, xúc giác, sự phối hợp cảm giác vận động, sự phối hợp hành
động. Nếu như người được tư vấn mắc một trong những bệnh thuộc loại chống
chỉ định của nghề thì người cán bộ tư vấn sẽ khuyên nên chọn một nghề khác
gần gũi với thiên hướng và hứng thú, đồng thời phù hợp với trạng thái sức khoẻ
của người đó. Chẳng hạn, những người rối loạn sắc giác sẽ không được chọn


24
những ngành nghề giao thông vận tải, thông tin tín hiệu...
4) Tư vấn hiệu chỉnh: được tiến hành trong trường hợp ý định nghề
nghiệp của con người không phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của họ.
Trong trường hợp này, kế hoạch nghề nghiệp của cá nhân cần được xem xét và
uốn nắn lại cho phù hợp với tình hình. Ví dụ: trên cơ sở những cứ liệu thu được
khi nghiên cứu nhân cách con người, cán bộ tư vấn sẽ khuyên thanh thiếu niên
nên chọn một nghề khác, phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của mình
hơn.
Ngoài ra, người ta có thể chia tư vấn HN thành 2 loại: tư vấn sơ bộ và tư
vấn chuyên sâu:
1) Tư vấn sơ bộ: loại này đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vì
không đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kỹ thuật. Chẩn đoán những phẩm
chất nhân cách của học sinh không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn
HN có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâm sinh lý, giáo dục học, y
học, kinh tế học. Ở đây, giáo viên (chủ nhiệm hoặc bộ môn) đóng vai trò “nhà

tìm thông tin. Một số thông tin cụ thể như: thông tin về ngành, nhóm nghề và
nghề cụ thể; thông tin về cơ sở đào tạo; thông tin về nghề nghiệp và cơ sở đào
tạo mà bản thân học sinh thích.
2) Giúp học sinh tìm hiểu thông tin về định hướng phát triển KT - XH, về
thị trường lao động ở địa phương, cả nước và xa hơn nữa là trong khu vực và thế
giới; giúp học sinh tiếp cận dần về hệ thống thông tin về đào tạo nhân lực và việc
làm, giúp các em quen dần với những tính chất, quy luật của thị trường lao
động; giúp các em thấy được đòi hỏi mới về nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá để các em có trình độ tự chủ cao hơn, có kỹ năng giao
tiếp, tinh thần trách nhiệm và sáng kiến trong lao động. Do tính biến động của
thị trường lao động, người lao động cũng cần thể hiện tính năng động, thích ứng
qua việc không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn hoá. Và
những nội dung này cũng có tính đến đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi.
Các nội dung cụ thể: thông tin về phương hướng phát triển KT - XH; thông tin
về thị trường lao động.
3) Giúp học sinh tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề nghiệp của bản
thân: Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó với
nghề; hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status