LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý bồi DƯỠNG CHUYÊN môn NGHIỆP vụ CHO đội NGŨ GIÁO VIÊN mầm NON QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG
CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2 Nội dung quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ giáo viên mầm non
1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG
CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON QUẬN HOÀN KIẾM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát chung về giáo dục mầm non quận Hoàn
Kiếm, thành phố Hà Nội
2.2 Thực trạng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ
giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
2.3 Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
cho đội ngũ giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm, thành
phố Hà Nội
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP VÀ KHẢO NGHIỆM CÁC BIỆN
PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN
NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM
NON QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1 Các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
cho đội ngũ giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm, thành
phố Hà Nội
3.2 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất

có kiến thức văn hóa cơ bản, phải được trang bị một hệ thống các kiến thức
khoa học về chăm sóc giáo dục trẻ, phải có kĩ năng lập kế hoạch, tổ chức các
hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, kĩ năng giao tiếp với trẻ, phụ
huynh, đồng nghiệp, cộng đồng,… Đồng thời thường xuyên tự trau dồi bồi
dưỡng cho bản thân về những kiến thức mới, công nghệ thông tin. Để có được
những năng lực sư phạm trên, người GVMN cần không ngừng học tập, rèn
luyện tại trường, tự học tập một cách nghiêm túc và thường xuyên.
Muốn có ngôi trường mạnh thì phải có ĐNGV giỏi, nhưng điều hành
như thế nào để họ tận tâm với nghề lại có trách nhiệm cao trong tập thể, phối
hợp nhịp nhàng, đồng thuận, vì mục tiêu chung của trường, trách nhiệm này
lại là của các nhà quản lý.
Vì vậy vai trò của ĐNGV là cực kỳ quan trọng. Muốn chỉ đạo và điều
hành ĐNGV để họ tận tâm với nghề, có trách nhiệm cao với tinh thần tập thể,
phối hợp tốt trong công việc và đồng thuận vì mục tiêu lớn của trường đòi hỏi
người quản lý phải có những giải pháp hợp lý để bồi dưỡng xây dựng ĐNGV
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
Theo báo cáo tại Hội thảo: “Phát triển chăm sóc và giáo dục mầm non
Việt Nam”, hiện nay có trên 90% GVMN có trình độ đạt chuẩn là từ Trung
cấp sư phạm mầm non trở lên, trong đó 28% trên chuẩn và khoảng 60% đạt
chuẩn nghề nghiệp theo quy định. Tuy tỉ lệ GVMN đạt chuẩn đào tạo khá
cao, nhưng phần lớn được đào tạo chắp vá qua nhiều thế hệ, nhiều loại hình
đào tạo nên năng lực thực tế chưa tương xứng với trình độ đào tạo.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm,
thành phố Hà Nội” để nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng ĐNGVMN
của quận Hoàn Kiếm trong giai đoạn tiếp theo.


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, nước ta đã xây dựng được

và phát huy vai trò tự bồi dưỡng của giáo viên mầm non Hà Nội.
Tác giả Nguyễn Thị Thảnh với đề tài luận văn thạc sĩ QLGD: “Tổ chức
hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Ban Quản lý đầu tư xây dựng khu đô thị
mới Thủ Thiêm” (2013), đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn bồi
dưỡng nguồn nhân lực ở Ban quản lý đầu tư xây dựng khu đô thị mới Thủ
Thiêm, thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và bồi dưỡng nguồn nhân lực để
đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực của Ban.
Tác giả Lê Thị Kim Trinh, với đề tài luận văn thạc sĩ QLGD: “Tổ chức
bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” (2013), đã luận giải những vấn đề cơ bản về
tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên dạy nghề trang điểm. Trên
cơ sở đó đề xuất 4 biện pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên dạy
nghề trang điểm thẩm mỹ: xây dựng kế hoạch; tổ chức hoạt động bồi dưỡng;
kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tự bồi dưỡng.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của tác Phan Thị Hán
Huệ (2014) “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên
mầm non huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” đã luận giải những vấn đề
lý luận về năng lực sư phạm của giáo viên mầm non; hoạt động bồi dưỡng
năng lực sư phạm và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo
viên mầm non. Để nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non, tác giả
đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho
giáo viên mầm non huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bao gồm những
biện pháp từ việc phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan chuyên môn;
xây dựng và thực hiện tổ chức kế hoạch bồi dưỡng cho đến thường xuyên
kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động bồi dưỡng.
Tóm lại, các công trình và các luận văn nêu trên đã luận giải ở nhiều
khía cạnh khác nhau, về bồi dưỡng ĐNGV và quản lý bồi dưỡng ĐNGV với




Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý BDCMNV cho
ĐNGVMN, đề xuất những biện pháp quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN, góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các trường MN ở quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về bồi dưỡng và quản lý
BDCMNV cho ĐNGVMN.
Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng bồi dưỡng và quản lý
BDCMNV cho ĐNGVMN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
Đề xuất biện pháp quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN quận Hoàn
Kiếm, thành phố Hà Nội.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý ĐNGVMN quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN trong
các trường mầm non công lập ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Các số liệu điều tra, khảo sát sử dụng để nghiên cứu trong phạm vi 3
năm, từ năm 2011 đến năm 2014.
5. Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng CMNV cho ĐNGVMN là một vấn đề tuy không mới
nhưng rộng và phức tạp, lại bị chi phối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do
vậy nếu trong quản lý BDCMNV cho ĐNGV, các chủ thể quản lý thực hiện
đồng bộ và có hiệu quả những vấn đề như: Tổ chức giáo dục nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của CBQL và giáo viên; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng




+ Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện trao đổi, tọa đàm với 4 cán bộ ở
các cơ quan như Sở GD&ĐT Thành phố, Phòng GD&ĐT Quận và 23 giáo
viên ở một số trường mầm non.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để rút ra những nguyên
nhân, hạn chế và kinh nghiệm quản lý bồi dưỡng ĐNGVMN.
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra,
khảo sát.
7. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc BDCMNV cho
ĐNGVMN.
- Đánh giá đúng thực trạng của việc BDCMNV cho ĐNGVMN và quản
lý BDCMNV cho ĐNGVMN, xác định rõ những nguyên nhân, hạn chế giúp
các chủ thể quản lý nâng cao chất lượng, hiệu quả trong BDCMNV cho
ĐNGVMN góp phần phát triển GDMN quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Luận văn được nghiên cứu thành công có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho cán bộ lãnh đạo, các cơ quan hữu quan trong hoạch định chính sách
để BDCMNV cho ĐNGVMN, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc BDCMNV
cho ĐNGVMN quận Hoàn Kiếm.
8. Kết cấu của đề tài
Luận văn được kết cấu gồm: Phần Mở đầu, 3 chương 8 tiết , Kết luận,
Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN
NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Khái niệm đội ngũ giáo viên mầm non
* Giáo viên mầm non
Giáo viên là những người lao động trí óc, thực hiện nhiệm vụ dạy học

nhau, thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau để đạt được mục
tiêu và kế hoạch của tổ chức đặt ra.


Các khái niệm về đội ngũ tuy khác nhau, nhưng đều thống nhất cho
rằng: Đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực
lượng để thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ, có chung một mục đích nhất
định. Đội ngũ là tập hợp gồm nhiều cá thể, hoạt động qua sự phân công, hợp
tác lao động, có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng trách
nhiệm pháp lý.
Trong giáo dục, thuật ngữ đội ngũ được sử dụng rộng rãi như: ĐNGV,
đội ngũ CBQL, đội ngũ học sinh, đội ngũ sinh viên…
Từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam định nghĩa: “ĐNGV là tập thể
những người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo
đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định. Là lực lượng quyết định hoạt động
giáo dục của nhà trường” [30].
Như vậy, có thể hiểu: ĐNGV là tập hợp những người làm công tác
giáo dục và dạy học ở một cơ sở trường học hay một cấp học, một ngành học
nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Từ những phân tích nêu trên, có thể xác định khái niệm ĐNGVMN như
sau: ĐNGVMN là tập hợp những người thực hiện các hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ ở các trường mầm non, có đầy đủ tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức,
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Nhà nước .
Đội ngũ GVMN có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là những
người trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non, góp phần phát triển
và hoàn thiện nhân cách cho trẻ.
Đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt của chương trình cải cách và
đổi mới giáo dục, là những người trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục và là
nhân tố quan trọng quyết định sự nghiệp GD&ĐT.
1.1.2 .Khái niệm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo

thức, năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách nhất định được hình
thành trong quá trình đào tạo của nhà trường.


Bồi dưỡng là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu
hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng
một chứng chỉ. Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung tri thức và kỹ
năng còn thiếu hụt, hoặc đã lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng
lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn, dưới một hình thức phù hợp.
Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những
kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên
môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất, đạo đức cần thiết và chuẩn bị
tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng
và bảo vệ đất nước; hoặc là cách tiến hành hỗ trợ bồi dưỡng nhằm nâng cao
năng lực, phẩm chất phù hợp với các cơ quan tổ chức.
Đào tạo và bồi dưỡng GVMN là hai giai đoạn học tập có liên quan mật
thiết với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nghề dạy học ở cấp
mầm non. Đào tạo là giai đoạn đầu hình thành năng lực và phẩm chất cần
thiết của GVMN để hành nghề. Còn BDCMNV cho GVMN là giai đoạn nối
tiếp tất yếu đối với hoạt động đào tạo nghề nghiệp. Cả đào tạo và BDCMNV
cho GVMN đều có chung một mục tiêu là giúp người học đạt được mức hoàn
thiện về tiêu chuẩn của nghề dạy học đã chọn.
* Chuyên môn nghiệp vụ
Theo Từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam: “Chuyên môn là tổ hợp các
tri thức và kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có
khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất
định, theo phân công lao động xã hội [30].
Chuyên môn sư phạm là một ngành khoa học về lĩnh vực giáo dục, đào
tạo có nội dung và phương pháp sư phạm riêng biệt, chuyên môn sư phạm đòi
hỏi các nhà giáo dục của mình còn phải biết truyền thụ tri thức nghề nghiệp

đội ngũ nhà giáo theo chuẩn nghề nghiệp.
Chủ thể bồi dưỡng: ban giám hiệu các nhà trường; cán bộ lãnh đạo,
CBQLGD cơ quan cấp trên và giáo viên được phân công làm nhiệm vụ
bồi dưỡng.


Đối tượng bồi dưỡng: ĐNGV của nhà trường, họ vừa là đối tượng bồi
dưỡng, vừa là chủ thể của quá trình bồi dưỡng. Quá trình bồi dưỡng chỉ thực sự
đạt hiệu quả khi người giáo viên biến quá trình bồi dưỡng thành tự bồi dưỡng.
Nội dung bồi dưỡng:
Bồi dưỡng CMNV là một việc không thể thiếu của người giáo viên
trong suốt quá trình công tác. Mỗi giáo viên cần phải có một trình độ chuyên
môn vững chắc, sâu rộng. Vì vậy, giáo viên cần được bồi dưỡng những kiến
thức cập nhật. Đối với những giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn thì được bồi
dưỡng để đạt chuẩn theo quy định. Trên cơ sở những kiến thức chuyên môn
chắc chắn mới thể hiện kỹ năng sư phạm nhuần nhuyễn. Có nghĩa là người
giáo viên có một trình độ chuyên môn vững vàng, kiến thức sâu sắc, toàn diện
là cơ sở cho việc cải tiến phương pháp dạy học và hoàn thiện nghiệp vụ sư
phạm. Việc bồi dưỡng để hoàn thiện kỹ năng sư phạm là cần thiết và phù hợp
với khả năng của các trường, là hình thức phổ biến thường làm ở các trường.
Nội dung BDCMNV cho ĐNGVMN hết sức phong phú và đa dạng, có
tính toàn diện, từ những tri thức cơ bản, tri thức CMNV; kỹ năng, kỹ xảo sư
phạm đến các hệ giá trị nghề nghiệp… Cụ thể như sau:
Bồi dưỡng kiến thức
Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về GDMN, về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi
mầm non; các kiến thức cơ sở chuyên ngành; các kiến thức phổ thông về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến GDMN.
Bồi dưỡng những kỹ năng về chăm sóc, giáo dục trẻ
Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo năm
học, tháng, tuần; lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục

theo tổ. Giáo viên giỏi giúp giáo viên còn yếu về chuyên môn, giáo viên có
kinh nghiệm giảng dạy giúp giáo viên mới ra trường; Tổ chức cho giáo viên
giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong trường hoặc với các trường bạn; Tạo
điều kiện cho giáo viên tham dự các hội thảo, semina.
Bồi dưỡng thường xuyên: Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để họ
được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ


trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục
trẻ. Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức tự
bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt
chương trình mới.
Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu, với các yêu cầu như: Phát
huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp nghe giảng, trao đổi, thảo luận; tăng
cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; chú trọng sử
dụng các thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học. Bồi dưỡng là loại hình của
hoạt động dạy và học. Yếu tố nội lực trong dạy học là tự học; yếu tố nội lực
trong bồi dưỡng là tự bồi dưỡng. Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ
phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự định hướng của người hướng dẫn của tổ
chức và có sự tác động đúng hướng của quản lý. Bồi dưỡng tập trung chỉ có
hiệu quả khi được quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự
bồi dưỡng của người học.
Phương pháp bồi dưỡng:
Phương pháp bồi dưỡng giáo viên là khâu đột phá có tính chất quyết
định đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng. Do vậy cần chú trọng vận dụng
những phương pháp học tập của GVMN trong các chương trình bồi dưỡng
theo phương châm lấy tự học, tự bồi dưỡng là chính. Lôi cuốn, hướng dẫn cho
GVMN tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập với sự trợ giúp của tài liệu
và phương tiện nghe nhìn, luôn phát hiện, tìm tòi, không cứng nhắc, gò bó,
rập khuôn theo những gì đã có trong tài liệu.

minh lúa nước, nền văn minh công nghiệp và hiện nay xã hội loài người đang bước
vào nền văn minh tri thức thì hoạt động quản lý càng trở nên phổ biến và tiếp tục
khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sống xã hội.
Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của
C.Mác (1818-1883): : “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành
trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa


những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình,
nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [9]
Vậy quản lý là gì? Đã có rất nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm
này. Theo một số quan niệm của tác giả nước ngoài: F.W.Taylor (1856-1915),
được coi là cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học đã định nghĩa: “Quản lý là biết
chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành
công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [24].
H.Fayol (1841-1925), tác giả của Thuyết quản lý tổng quát, định nghĩa như
sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các
hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy (lãnh đạo) và kiểm tra” [24].
M.P.Follett (1868-1333), đại diện của Thuyết quan hệ con người cho
rằng: “Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh
tại. Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong quá trình giải quyết nó, người
quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [24].
Theo quan niệm của các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
“Quản lý” được hiểu là: “quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức,
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10].
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song khái niệm quản lý được cụ
thể bởi nội dung sau đây:
Quản lý là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người
hay một tổ chức xã hội. Bản chất của hoạt động quản lý, là sự tác động có mục

Sở GD&ĐT. Chủ thể gián tiếp quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN là các cấp
ủy đảng, chính quyền địa phương có chức năng và quyền hạn QLGD ở bậc
học mầm non.
Đối tượng quản lý là toàn bộ hoạt động BDCMNV cho ĐNGVMN.
Trong đó quan trọng nhất là quản lý các hoạt động của chủ thể bồi dưỡng và
hoạt động của các đối tượng được bồi dưỡng.
Nội dung quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN: Để quản lý BDCMNV cho
ĐNGVMN có hiệu quả, cần tập trung vào những nội dung quản lý cơ bản sau:


quản lý xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch; quản lý việc thực hiện
mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng; quản lý chủ thể và đối
tượng bồi dưỡng; quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bồi dưỡng; quản lý tự bồi
dưỡng của giáo viên; quản lý kiểm tra và đánh giá kết quả bồi dưỡng.
1.2. Nội dung quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non
Quản lý BDCMNV cho ĐNGVMN bao gồm những nội dung cơ bản
sau đây:
1.2.1. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện
kế hoạch bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch là một khâu quan trọng trong quy trình quản lý
BDCMNV cho ĐNGVMN. Khi xây dựng kế hoạch, chủ thể quản lý cần phải
khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng ĐNGV, các nguồn lực,
điều kiện hiện có của nhà trường, bộ máy quản lý và lực lượng bồi dưỡng để
xây dựng và ban hành kế hoạch bồi dưỡng. Kế hoạch cần phải xác định rõ
mục tiêu, nội dung bồi dưỡng, hình thức, phương pháp bồi dưỡng, các lực
lượng bồi dưỡng và tiến độ thực hiện.
Trong tổ chức thực hiện kế hoạch, trước hết cần phải xây dựng quy chế
hoạt động của bộ máy bồi dưỡng, tổ chức điều phối các lực lượng, đảm bảo
điều kiện cơ sở vật chất cho các hoạt động bồi dưỡng, sử dụng và phát huy

dưỡng và tự bồi dưỡng của ĐNGV.
1.2.4. Quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bồi dưỡng
Bồi dưỡng chỉ đạt hiệu quả cao khi chủ thể quản lý tạo những điều kiện
tốt nhất cho bồi dưỡng như tạo ra những cơ hội cho ĐNGV tham gia vào các
chương trình bồi dưỡng bằng cách cử ĐNGV tham gia các hội thảo chuyên
môn, dự các lớp tập huấn, tham gia các hội nghị sơ kết, tổng kết, rút kinh
nghiệm về GD&ĐT. Tạo những điều kiện thuận lợi như kinh phí, phương tiện
và thời gian để ĐNGV có thể tham gia các hình thức bồi dưỡng, không chỉ ở
trong trường mình mà còn ở bên ngoài trường, ngoài Thành phố...
Chủ thể quản lý một mặt khuyến khích động viên các lực lượng bồi
dưỡng sử dụng hiệu quả trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học hiện có,
mặt khác quan tâm đầu tư mua sắm thêm những trang thiết bị, phương tiện kỹ
thuật dạy học hiện đại đảm bảo cho bồi dưỡng đạt chất lượng, hiệu quả cao.


1.2.5.Quản lý tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên mầm non
Bồi dưỡng chỉ đạt hiệu quả cao khi ĐNGV nhận thức được tầm quan
trọng của bồi dưỡng, nỗ lực, tự giác biến quá trình bồi dưỡng thành quá trình
tự bồi dưỡng.
Phải tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho ĐNGV thấy được tính cấp
thiết, tầm quan trọng và ý nghĩa của bồi dưỡng đối với việc hoàn thiện phẩm
chất, tri thức và năng lực CMNV sư phạm của người giáo viên.
Từng giáo viên căn cứ vào năng lực, khả năng và điều kiện của mình
để xây dựng kế hoạch cá nhân về tự bồi dưỡng.
Kế hoạch tự bồi dưỡng của cá nhân phải bao gồm những vấn đề cơ bản
như mục tiêu, nội dung bồi dưỡng, điều kiện đảm bảo và tiến độ thực hiện.
Nhà trường cần tạo điều kiện về thời gian, vật chất, khuyến khích động viên
ĐNGV thực hiện tốt, đúng tiến độ kế hoạch đặt ra.
1.2.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh

đông viên khuyến khích ĐNGVMN yên tâm gắn bó với nghề và nỗ lực phấn
đấu vươn lên.
Sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và ở địa phương đã tạo những
điều kiện thuận lợi cho việc huy động kinh phí đóng góp cho xây dựng nhà
trường, cho chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Trong điều kiện kinh tế gia
đình của người dân được cải thiện, nhiều gia đình, cha mẹ trẻ mầm non có
nhu cầu đưa con em mình đến những trường mầm non tiện nghi, đồng thời
đòi hỏi sự chăm sóc, nuôi dạy của ĐNGVMN được đào tạo cơ bản, có kiến
thức và kinh nghiệm nuôi dạy trẻ.
Sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu chính đáng của các bậc cha
mẹ học sinh mầm non đã đặt ra cho ĐNGVMN những yêu cầu mới, buộc họ
phải hoàn thiện năng lực CMNV để hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dạy
trẻ trong giai đoạn mới.
Bên cạnh những tác động tích cực thì nền kinh tế thị trường cũng tác
động tiêu cực tới GDMN và tới quá trình bồi dưỡng ĐNGVMV. Những biểu


hiện coi trọng lợi ích vật chất dẫn đến việc xem nhẹ các giá trị tinh thần đã
làm méo mó mối quan hệ giữa cô và trò. Cá biệt đã có sự phân biệt đối xử
giữa các trẻ trong một lớp, trong một trường khi đồng tiền xen vào mối quan
hệ ở các trường mầm non. Đã có hiện tượng việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục trẻ phụ thuộc một phần vào sự đầu tư, đóng góp và quan tâm về lợi ích
vật chất của cha mẹ trẻ đối với GVMN. Những hành động lệch chuẩn đó đã
làm mất bình đẳng trong giáo dục trẻ, dễ gây tổn thương cho trẻ. Tình trạng
này đòi hỏi người GVMN phải có một thái độ, nhân cách hoàn thiện, không bị
chi phối bởi những lợi ích vật chất tầm thường, phải yêu thương trẻ, tận tâm
với nghề. Đây là những yêu cầu khách quan, một mặt buộc các chủ thể QLGD
phải bồi dưỡng cho GVMN cả về phẩm chất nhân cách, cả về CMNV, đồng
thời người GVMN cũng phải tự hoàn thiện vươn lên.
1.3.1.2. Tác động từ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status