MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1.
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2.
2.1.
2.2.
Chương 3.
Trang
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
14
MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Một số khái niệm cơ bản
14
Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
24
trường trung học cơ sở
Những nhân tố tác động đến hoạt động giảng dạy môn Ngữ
26
văn ở các trường trung học cơ sở
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG
DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC 34
CƠ SỞ HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường
34
trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
trong quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS. Để nâng cao chất lượng
giảng dạy, bên cạnh việc xây dựng mục tiêu, nội dung, đổi mới phương pháp
và hình thức dạy học thì việc quản lý hoạt động giảng dạy là cần thiết và có ý
nghĩa hết sức quan trọng.
Môn Ngữ văn là môn học có vai trò, vị trí đặc biệt trong nhà trường vì
nó tác động trực tiếp vào tư tưởng, nhận thức, tình cảm của con người. Khác tất
cả các môn học khác, kiến thức môn Ngữ văn là sự phản ánh trực tiếp và sáng
tạo cuộc sống: Giá trị giáo dục cơ bản của môn học là mô tả đời sống bằng
nhận thức, không chỉ lĩnh vực đời sống gần gũi và quen thuộc đối với người đọc,
mà còn mô tả những điều người đó có thể chưa bao giờ thấy trực tiếp như đời
sống của các nước khác, của các tầng lớp khác, thậm chí còn mô tả cuộc sống
không còn tồn tại nữa...Vì vậy mà mỗi người có khả năng mở rộng, đào sâu và
xác minh quan niệm của mình về cuộc sống một cách chân thực nhất.
Do đó, dạy và học văn trong nhà trường được coi như một công cụ đắc
lực của việc hình thành và phát triển nhân cách người học - một trong những
mục tiêu lớn của giáo dục. Tuy nhiên, gần đây có sự suy giảm chất lượng đến
mức đáng báo động về dạy và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông.
Trong các kỳ thi ở phổ thông, có nhiều bài phân tích, bình giảng văn, thơ đã
khiến giáo viên chấm thi phải lên tiếng trước công luận rằng: Học sinh ngày
nay cảm thụ các tác phẩm văn học bằng những kiểu suy nghĩ bất thường; học
3
sinh không biết rung cảm, đồng điệu trước những áng văn hay giàu giá trị
nhân văn, thậm chí nhiều em không biết cách biểu thị suy nghĩ, quan điểm
của bản thân bằng ngôn ngữ mà viết một cách mạch lạc... Điều đó cho thấy
chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và
thời đại.
Vấn đề giảng dạy, quản lý hoạt động giảng dạy là một trong những vấn
đề luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý,
nhà giáo trong nước và nước ngoài ở nhiều góc độ khác nhau.
Ở một số nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước
đây thì khẳng định: Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ
thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của
đội ngũ giảng viên.
Các tác giả P.V. Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên
cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là
khâu then chốt trong hoạt động quản lý của hiệu trưởng.
Trong công tác quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giảng dạy luôn có
nhiều khó khăn thách thức. Nâng cao chất lượng giảng dạy luôn là mục
tiêu hướng tới của quản lý giảng dạy. Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục nói chung và vấn đề quản lý
hoạt động giảng dạy nói riêng. Trong đó, có thể kể đến như: “Một số hình
thức tổ chức dạy học ở đại học” của tác giả Đặng Bá Lãm (1987); “Công
tác quản lý giáo dục trong các trường đại học trên quan điểm tiếp cận hiện
đại” của tác giả Phạm Văn Kha (1998); “Một số khái niệm về quản lý giáo
dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo (1997); “Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy
học” của tác giả Đỗ Ngọc Đạt (1997); “Quản lý giáo dục, một số khái
niệm và luận đề” của tác giả Đặng Quốc Bảo (1995); “Quản lý quá trình
giáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Đức Trí (1999); “Tổ chức quản lý
quá trình giáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Minh Đường (1996)…
Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý
hoạt động giảng dạy nói riêng đã xây dựng những cơ sở lý luận cơ bản về
5
quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, tạo nền móng cho những
các cơ quan tàu hải quân hiện nay” (2011) của tác giả Nguyễn Duy Tư, tiếp cận
dưới góc độ khoa học giáo dục, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề
nghiên cứu, đồng thời phân tích thực trạng, nguyên nhân và những đặc điểm
chi phối chất lượng bài giảng, đồng thời đề xuất các giải pháp liên quan đến
hoạt động giảng dạy ở cơ quan của cán bộ giảng dạy, nhấn mạnh “Chất lượng
bài giảng phụ thuộc lớn vào chất lượng hoạt động của người giảng viên”.
Bên cạnh đó, những năm gần đây, vấn đề quản lý hoạt động giảng
dạy ở các trường đại học, cao đẳng, đã có nhiều tác giả chọn nghiên cứu,
nhiều Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục như:
“Các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ngành cơ
khí chế tạo ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng, Thành phố Hồ Chí
Minh” của tác giả Nguyễn Văn Tấn (2008);
“Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại Khoa
Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động - Xã hội” của tác giả Đặng Thị
Phương Lan (2007);
“Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại Trường đại học mở
Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyện Thị Nhận (2008);
“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường
trung cấp Cảnh sát nhân dân 1” của tác giả Nguyễn Đức Thạch (2012);
“Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thỉnh giảng tại
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hữu Luyến (2012)…
Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý
hoạt động giảng dạy nói riêng đã xây dựng những cơ sở lý luận cơ bản về quản
lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, tạo nền móng cho những nghiên cứu
tiếp theo về quản lý giáo dục nhằm đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục.
Môn Ngữ văn trong trường phổ thông có vai trò quan trọng, được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như:
7
chưa chỉ ra được sự phối hợp giữa các biện pháp để tăng cường hiệu quả
quản lý.
8
Luận văn của tác giả Đỗ Văn Tuấn về Những biện pháp quản lý dạy
học môn văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn, thành phố Hải
Phòng đã đưa ra những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trường phổ
thông trung học Trần Nguyên Hãn gồm: Biện pháp xây dựng kế hoạch
giảng dạy và học tập; Biện pháp bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ
chuyên môn; Biện pháp xây dựng nề nếp, nâng cao chất lượng giảng dạy
và học tập; Biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp; Biện pháp tăng
cường hoạt động tham quan ngoại khoá; Biện pháp kiểm tra đánh giá,...
Các biện pháp đưa ra khá toàn diện, phong phú. Tuy nhiên chưa có
giải pháp triệt để hoặc biện pháp mới mà chủ yếu là tăng cường các biện
pháp đang sử dụng.
Các tác giả nói trên đã chỉ ra được một số biện pháp quản lý hoạt động
giảng dạy môn Ngữ văn đối với một trường học cụ thể, đã bám sát vào quá
trình dạy học, tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học... mà chưa đưa ra
được những giải pháp đồng bộ và chuyên sâu để nâng cao chất lượng dạy học
môn Ngữ văn trong bối cảnh hiện nay.
Các công trình đề tài nghiên cứu trên đây ít nhiều đã bàn đến quản lý
hoạt động giảng dạy nói chung và quản lý hoạt động giảng dạy một môn học
nhất định. Nhưng đến nay chưa có công trình khoa học, đề tài của tác giả nào
bàn đến vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung
học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Nghiên cứu các hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở
các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yê, đề tài giới hạn ở
phạm vi:
+Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy môn Ngữ Văn.
+ Chỉ nghiên cứu trong môn Ngữ văn.
+ Chỉ nghiên cứu ở bậc trung học cơ sở.
+ Chỉ nghiên cứu ở địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Các số liệu điều tra, khảo sát từ năm học 2010 - 2011 đến năm học
2014 - 2015.
10
5.
Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và với sự tham
gia của nhiều lực lượng. Nếu các chủ thể quản lý thực hiện đồng bộ các biện
pháp như: Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các chủ
thể quản lý; quản lý tốt việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch giảng
dạy môn Ngữ văn; xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quản lý hoạt
động giảng dạy; tổ chức chặt chẽ hoạt động giảng dạy và chỉ đạo đổi mới
phương pháp giảng dạy môn ngữ văn; tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả
hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của đội ngũ giáo viên,... thì sẽ quản lý được
hoạt động giảng dạy môn học này, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục của các trường trung học cơ sở huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nói chung.
ra nhận định trong việc đánh giá các sự kiện và luận giải các quan điểm, tư
tưởng có liên quan đến luận văn.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp trưng cầu ý kiến
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra, khảo sát nhằm đánh
giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường
trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với
một số giáo viên, cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ
Hào, tỉnh Hưng Yên về vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn
cho học sinh.
- Phương pháp quan sát sư phạm
Bằng phương pháp này, học viên tiến hành dự giờ một số buổi lên
lớp của giáo viên, một số buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, hoạt động
ngoại khoá để thu thập thông tin phục vụ cho việc đánh giá thực trạng quản
lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
12
Tiến hành nghiên cứu các bản đề án đổi mới giáo dục, tổng kết công tác
giáo dục - đào tạo và quản lý giáo dục của ngành giáo dục và của các trường
trung học cơ sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng
Yên từ năm học 2010 - 2011 đến nay.
Toạ đàm với giáo viên, cán bộ quản lý, về kinh nghiệm quản lý hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên.
- Phương pháp chuyên gia
* Giáo viên
Giáo viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảng
dạy ở các nhà trường. Theo quy định tại khoản 3 Điều 70 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 nêu rõ: “Nhà giáo giảng dạy ở
cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, trung
cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên.
Giáo viên là lực lượng chủ yếu tham gia vào hoạt động giảng dạy, giáo
dục học sinh, là người có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, chất lượng,
hiệu quả đào tạo của các trường trung học cơ sở. Thông qua hoạt động giảng
dạy, đội ngũ giáo viên sẽ là người thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ tương lai,
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước
ta hiện nay. Trung học cơ sở kéo dài 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9 với độ tuổi học
sinh phổ biến từ 11 tuổi đến 15 tuổi. Trường trung học cơ sở được bố trí tại từng
xã, thị trấn. Trường trung học cơ sở chịu sự quản lý trực tiếp của Phòng Giáo
dục và Đào tạo và quản lý hành chính của chính quyền cấp huyện.
Giáo viên ở các trường trung học cơ sở là bộ phận quan trọng của đội
ngũ cán bộ, viên chức. Đó là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá
trình dạy học - giáo dục. Chất lượng giảng dạy của giáo viên là một trong
những nhân tố quyết định đến chất lượng của học sinh - việc tiếp thu kiến thức,
hình thành hệ thống phẩm chất năng lực của chủ nhân tương lai của đất nước.
14
Trong quá trình hội nhập với nền văn hoá các nước trong khu vực và
thế giới, vai trò của giáo viên là xây dựng, bảo tồn và phát triển văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hoá của nhân loại. Là một bộ phận của trí thức dân tộc - những trí thức có
trình độ học vấn và vốn hiểu biết xã hội sâu rộng, có óc phân tích, phê bình
vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại.
Môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình
của cấp trung học cơ sở. Ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn học
khác, môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình
cảm cho các em học sinh, nhằm trau dồi kiến thức văn học cũng như rèn
luyện kỹ năng nói và viết cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách,
đạo đức và nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cho các em. Từ đó, hình
thành và phát triển con người toàn diện ở học sinh, đồng thời giáo dục lý
tưởng và đạo đức, từng bước giúp học sinh cập nhật những vấn đề toàn cầu
mà không quay lưng lại với truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vừa
hoà nhập xu thế phát triển chung của thế giới.
Học xong chương trình Ngữ văn ở trung học cơ sở sẽ giúp cho học sinh
nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của Tiếng Việt và tình yêu văn học đối
với các tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại. Từ đó, học sinh sẽ có hứng
thú và cách thức ứng xử, giao tiếp có văn hóa đối với môi trường sinh sống. Ý
thức tôn trọng, yêu quý cái đẹp và cố gắng sáng tạo nên cái đẹp sẽ được bồi
đắp và dần hình thành lên thẩm mỹ ở học sinh. Tuy nhiên học văn là cả một
quá trình tích luỹ lâu dài, không thể học xổi, học dồn mà phải cập nhật từng
ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm.
Ở các trường trung học cơ sở hiện nay, chương trình môn Ngữ văn (bao
gồm 03 phân môn: tiếng việt, văn học, tập làm văn) được tích hợp biên soạn
trên cùng một cuốn sách gọi chung là môn Ngữ văn (trước kia phân thành 03
quyển sách giáo khoa: tiếng việt, văn học, tập làm văn). Phân môn tiếng Việt
16
và tập làm văn, có tác dụng giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng
việt thành thạo, mỗi bài học được thiết kế khác nhau bao gồm: từ đơn, từ
ghép, các loại kiểu câu, hội thoại.... Cấu trúc phân môn Tập làm văn gồm 06
văn học.
Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trung học cơ sở được định
hướng theo hướng dạy học tích hợp và tích cực. Phương pháp dạy học tích
cực hay còn gọi là phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
nhằm giáo dục, dạy học khởi động và phát huy tính năng động, sáng tạo, kiên
trì của học sinh. Tích hợp bao gồm việc học đồng thời với giảng dạy nội dung
môn học. Trong sự phát triển của giáo dục hiện đại, tích hợp là một nguyên
tắc và có thể xem là phương pháp luận chỉ đạo việc hòa nhập tối ưu các quá
trình sư phạm, quá trình nhận thức và quá trình tiếp nhận để đạt hiệu quả
dạy học. Chương trình Ngữ văn THCS lấy Tập làm văn làm trục tích hợp, có
nghĩa là lấy năng lực tạo lập văn bản làm trọng tâm lâu dài.
Hoạt động giảng dạy của giáo viên nói chung, giảng dạy môn ngữ
văn của giáo viên ở các trường trung học cơ sở nói riêng là hoạt động trọng
tâm; trong đó giáo viên giữ vai trò chủ thể, điều khiển mọi hoạt động giáo
dục và hoạt động nhận thức của người học, được tạo nên bởi các thành tố
cấu trúc như mục đích, nội dung, đối tượng, phương pháp, phương tiện
giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạy môn Ngữ văn, rút kinh
nghiệm, cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng đối
tượng. Đó là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời gian
ngắn nhất có thể nắm vững một khối lượng kiến thức Ngữ văn với chất
lượng cần thiết. Bên cạnh đó, giảng dạy còn là con đường quan trọng bậc
nhất giúp cho mỗi giáo viên không ngừng tự hoàn thiện phẩm chất nghề
giáo của mình; đồng thời giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống
năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực tư duy sáng
tạo, rèn luyện, hình thành kỹ xảo, kỹ năng và các phẩm chất cần thiết, đáp
18
lý, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của lý luận
chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác
giả nước ngoài như:
Tác giả Henri Fayol đại diện cho thuyết quản lý hiện đại người đặt nền
móng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra”.
Theo tác giả Taylor F.W, nhà quản lý người Mỹ đại diện cho thuyết
“Quản lý theo khoa học” coi: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt và rẻ nhất.
Khi xem xét quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu
trong các tổ chức của con người thì “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý về các mặt
chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính
sách, các nguyên tắc, các phương pháp, biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi
trường và điều kiện cho sự phát triển đối tượng”.
Trong các diễn đạt trên đều cho thấy những điểm chung như sau:
Quản lý là cách thức tổ chức - điều khiển (cách thức tác động) của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ
chức đã đề ra.
Từ đó, có thể thấy được bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động
có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách
thể quản lý) nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo khái niệm về quản lý, quá
trình quản lý chỉ diễn ra khi có hai yếu tố: chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý. Chủ thể quản lý là người quản lý, còn đối tượng quản lý bao gồm các
nguồn lực, nội dung quản lý, mục tiêu, kế hoạch, điều kiện và phương tiện
quản lý. Các nguồn lực quản lý trong trường học, bao gồm: nguồn nhân lực
21
Ngữ văn nói riêng là nội dung vô cùng quan trọng trong quản lý ở trường
trung học cơ sở hiện nay, vì giáo dục thực hiện cả chức năng giáo dục và chức
năng phát triển. Giáo viên Ngữ văn cùng với giáo viên các bộ môn khác
không chỉ là chủ thể của mọi hoạt động giảng dạy mà còn là người điều khiển
quá trình học tập của học sinh. Nhiệm vụ chính của giáo viên là hoạt động
giảng dạy, đó là việc truyền đạt kiến thức về ngôn ngữ, văn học và những giá
trị về tư tưởng, văn hoá, đạo đức, phẩm chất cần trang bị cho học sinh. Đồng
thời, giáo viên có nhiệm vụ phải thường xuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng,
tu dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động giảng dạy của mình.
Như vậy, quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn ở các trường trung
học cơ sở là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý
đến quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động giảng dạy môn học của giáo
viên, nhằm bảo đảm cho hoạt động giảng dạy đạt được mục đích đã xác định.
Quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của giáo viên là một bộ
phận hữu cơ trong hệ thống quản lý giáo dục - đào tạo của các trường trung
học cơ sở, có sự tham gia của các nhân tố:
Một là: Chủ thể quản lý trực tiếp hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của
giáo viên ở các trường trung học cơ sở là: ban giám hiệu nhà trường, tổ ngữ
văn,... và chính bản thân đội ngũ giáo viên. Trong các lực lượng quản lý hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở thì Hiệu trưởng là chủ
thể quản lý chính. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp
ủy, chính quyền địa phương, ngành giáo dục, trước nhân dân,... về chất lượng
giáo dục nói chung, giảng dạy môn học này nói riêng.
Hai là: Đối tượng quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở là giáo viên Ngữ văn và các tổ Ngữ văn chịu sự tác động,
hành chính, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích là
những phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổ biến. Hoạt động giảng dạy
là hoạt động trí tuệ, hết sức căng thẳng, do đó cần lựa chọn và sử dụng các
23
phương pháp quản lý phù hợp với đối tượng quản lý là con người mới
mang lại tác dụng, hiệu quả cao.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ
sở thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên
và của từng giáo viên bộ môn Ngữ văn. Trong quản lý hoạt động giảng dạy
môn Ngữ văn, giáo viên Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở vừa là
khách thể quản lý nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý của quá trình đó, gồm
các nội dung:
1.2.1. Quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch
giảng dạy môn Ngữ văn
Kế hoạch giảng dạy là việc làm rất quan trọng của nhà quản lý giáo dục
ở các trường trung học cơ sở nhằm đạt tới các mục tiêu của hoạt động quản lý
giáo dục nói chung và quản lý hoạt động giảng dạy môn học nói riêng. Đồng
thời, còn là cơ sở cho các cấp, tổ bộ môn kịp thời điều chỉnh thời lượng sau
giảng dạy môn học, bài giảng Ngữ văn cho học sinh, chống tình trạng quá tải,
dồn ép chương trình dẫn đến hiệu quả giảng dạy không cao.
Việc quản lý giáo viên Ngữ văn dựa theo kế hoạch giảng dạy là thể
hiện sự đề cao, tôn trọng tính chủ động của giáo viên, thể hiện sự quản lý
nghiêm túc của cán bộ quản lý. Tuy nhiên, trong bản kế hoạch cũng cần có
sự điều chỉnh linh hoạt khi hoàn cảnh thực tế thay đổi ảnh hưởng đến việc
hoàn thành kế hoạch.
việc thực hiện các hoạt động giảng dạy; quản lý
việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo
viên đối với học sinh...); cùng với việc quản lý,
bồi dưỡng phát triển tốt đội ngũ giáo viên, quản lý
hoạt động giảng dạy của giáo viên là điều kiện tiên
quyết có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy môn
Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở.
1.2.4. Giáo viên Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở tự quản lý
hoạt động giảng dạy của bản thân
25
Theo phân công của ban giám hiệu nhà trường, mỗi giáo viên môn
Ngữ văn có trách nhiệm quản lý hoạt động giảng dạy tại lớp học mà mình
đảm nhận. Nội dung tự quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên Ngữ văn
ở các trường trung học cơ sở bao gồm:
- Thực hiện chương trình dạy học được phân công.
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh.
1.2.5. Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm tốt cho hoạt động
giảng dạy môn Ngữ văn
Cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện trực tiếp để nâng cao hiệu quả
giảng dạy. Do đó, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giảng dạy là sự tác động
phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý trường học đến đối tượng quản lý
có liên quan tới lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật giảng dạy, bao gồm:
phương tiện vật chất, kỹ thuật và sản phẩm khoa học - công nghệ... được
huy động vào hoạt động giảng dạy trong nhà trường, nhằm hỗ trợ các hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở vận hành đạt tới
mục tiêu đào tạo.
1.2.6. Quản lý hoạt động của giáo viên Ngữ văn