DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo dục và Đào tạo
Giáo dục đạo đức
Nhà xuất bản
Phương pháp dạy học
Quản lý giáo dục
Trung học cơ sở
Chữ viết tắt
CBQL
CNH, HĐH
GVCN
GD&ĐT
GDĐĐ
Nxb
PPDH
QLGD
THCS
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
cơ sở
13
25
29
35
35
43
48
61
68
68
71
87
94
98
100
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của khoa
học, kỹ thuật và nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã làm
biến đổi các giá trị xã hội, đặc biệt là các giá trị nhân văn. Giải quyết hài hoà
mối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học công nghệ và tác động tiêu cực
của xã hội với những biểu hiện sa sút các giá trị nhân văn đã và đang là những
thách thức, khó khăn đối với giáo dục xã hội nói chung, giáo dục học sinh ở
các trường THCS nói riêng. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
và cần thiết, là yêu cầu đòi hỏi khách quan, thường xuyên trong tổ chức các
hoạt động giáo dục cho học sinh.
Mỹ Hào là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, có tốc độ đô thị
hoá cao nhất của tỉnh, nơi đang chịu tác động rất lớn từ mặt trái của cơ chế thị
trường với những biểu hiện và những diễn biến phức tạp về tệ nạn xã hội và
những rạn nứt trong đạo đức và lối sống. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ
đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và đặc biệt là học sinh các trường
THCS của huyện. Những biểu hiện như bỏ học, đánh nhau, dối trá, lười lao
động, sống hưởng thụ, ích kỉ…trong lối sống của học sinh ngày càng gia tăng
đang ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà
trường. Đứng trước tình trạng xuống cấp trong đạo đức, lối sống của một bộ
phận học sinh THCS đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, các nhà giáo dục,
quản lý giáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này, đặc biệt là việc nghiên
cứu quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện Mỹ Hào.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng
Yên hiện nay” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên trong giai
đoạn hiện nay.
4
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con
người; đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm
bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “Đạo đức đã trở thành
mục tiêu, đồng thời là động lực để phát triển xã hội” [24, tr.47]. Vì vậy đạo
đức luôn luôn được mọi giai cấp, mọi xã hội, mọi thời đại quan tâm.
Khổng Tử (551-479-TCN ), không chỉ là nhà triết học, nhà giáo dục nổi
toàn bộ tư tưởng đạo đức đã có từ xưa đến nay, tổng kết và đưa ra những luận
điểm khoa học của mình về đạo đức. Hai ông đã chỉ ra sự tất yếu xuất hiện
của một kiểu đạo đức mới trong lịch sử - đạo đức cách mạng của giai cấp
công nhân. Theo Ph. Ăngghen, đây là nền đạo đức đang tiêu biểu cho sự lật
đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai tức là đạo đức vô sản. Luận
điểm này đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quản lý quá
trình giáo dục phẩm chất nhân cách bảo đảm cho con người phát triển một
cách toàn diện.
V.I. Lênin (1870 - 1924) khẳng định sự tất yếu ra đời của luân lý cộng
sản và đạo đức cộng sản. Trong đó V.I. Lênin đã chỉ ra thực chất cách mạng
của nội dung đạo đức mới đó là : những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của
bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh
giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản. Đây là
cơ sở khoa học để xây dựng, phát triển và quản lý nền giáo dục mới – nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu
những quan điểm đạo đức Mác - Lênin và thật sự làm một cuộc cách mạng
trên lĩnh vực đạo đức. Người gọi đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng:
“Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ
đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng,
của dân tộc, của loài người” [20, tr.337]. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức
là nền tảng của người cách mạng. Nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức
cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô
6
tư; yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng. Quan điểm của Người
về đạo đức là những quan điểm thật sự khoa học, biện chứng, Mác xít, phù
hợp với sự tiến hoá xã hội loài người. Để có được đạo đức cách mạng mỗi
Tác giả Huỳnh Khải Vinh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lối
sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với
phát triển văn hoá và con người, sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế,
xã hội tới lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng;
những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội của một số nước; thực trạng, phương hướng, quan điểm và giải pháp xây
dựng lối sống đạo đức, chuẩn giá trị trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Tác giả Nguyễn Kim Bôi nghiên cứu về “Một số giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức học sinh THCS ở trường THCS Trần Đăng Ninh
- Hà Tây”. Từ thực trạng đạo đức của học sinh ở một trường mà tác giả coi là
tiêu biểu cho đặc điểm của nhiều trường ở nông thôn Việt Nam, tác giả đã đưa ra
một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS.
Tác giả Nguyễn Thị Yến Phương đề xuất một số biện pháp giáo dục
đạo đức cho học sinh thông qua việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội.
Tác giả Nguyễn Thị Vinh đi sâu nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức
cho học sinh trường THCS Tân Mai - quận Hoàng Mai - Hà Nội, sau đó đề ra một
số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh của trường.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu vào nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh và đưa ra một số định
hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nột dung, cải tiến phương
pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông [15, tr.19]. Phạm Khắc
Chương nghiên cứu: “Một số vấn đề đạo đức - giảng dạy và giáo dục đạo đức ở
trường THCS” [6]. Đặng Quốc Bảo: “Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ,
thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục” [1]; Phan Ngọc Liên: “Đổi mới
việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh”…
8
9
huyện Mỹ Hào nói riêng đang có những diễn biến phức tạp, công tác quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS trên địa bàn của huyện đang
đứng trước những thách thức mới cần phải được giải quyết, trong khi đó ở
huyện Mỹ Hào đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn hoạt động giáo dục đạo
đức học sinh THCS, đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh THCS.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục nhân cách cho học sinh THCS.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ
Hào, tỉnh Hưng Yên.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Phạm vi khảo sát: Tiến hành điều tra, khảo sát đối với cán bộ, giáo
sung cho nhau trong nghiên cứu nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở nghiên cứu các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, các
tài liệu, văn bản, tạp chí, sách báo, công trình khoa học có liên quan đến đề tài
11
nghiên cứu, đề tài xác định cơ sở lý luận của GDĐĐ và quản lý hoạt động
GDĐĐ đối với học sinh.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát tìm hiểu các
vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân đề xuất biện
pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh.
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý GDĐĐ cho học
sinh thông qua việc tổ chức học tập, rèn luyện học sinh tại các trường THCS.
Phương pháp toạ đàm: Trực tiếp trao đổi với cán bộ, giáo viên và học
sinh về thực trạng đạo đức của học sinh và thực trạng quản lý hoạt động
GDĐĐ hiện nay.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến một số nhà sư phạm, nhà quản lý,
nhà khoa học đầu ngành, có kinh nghiệm và tâm huyết về các biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ hiện nay.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các thuật toán thống kê để
tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu thu được phục vụ cho các vấn đề cần giải
quyết trong luận văn.
7. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý giáo dục đạo đức và
xác định được hệ thống biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
tính dân tộc gắn với tiến trình phát triển của nhân loại và dân tộc. Đạo đức
cũng chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội đồng thời cũng
chịu sự qua lại và chế ước lẫn nhau của các hình thái ý thức khác nhau như
pháp luật, văn hoá, giáo dục, tập quán...
Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng những tiêu
chuẩn đạo đức mà có. Đạo đức của con người biến đổi cùng với sự biến đổi
13
và phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội. Theo thời gian phạm trù đạo
đức ngày càng hoàn thiện và đầy đủ hơn. Trong xã hội hiện nay, các giá trị
đạo đức là sự kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc với
đạo đức cách mạng và xu thế tiến bộ của thời đại nhân loại.
Từ cách tiếp cận trên, chúng tôi quan niệm: Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm
điều chỉnh điều chỉnh quan hệ về ý thức và hành vi của con người trong quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, con người với tự
nhiên và với bản thân.
Khái niệm đạo đức bao gồm 3 nội dung chính: Quan hệ đạo đức, ý thức
đạo đức và hành vi đạo đức. Chúng có quan hệ hữu cơ với nhau:
Quan hệ đạo đức là hệ thống những mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa cá nhân với xã hội về mặt đạo đức.
Ý thức đạo đức là sự phản ánh những quan hệ đạo đức dưới dạng
những quy tắc, chuẩn mực phù hợp với những quan hệ đạo đức. Ý thức đạo
đức là tiêu chuẩn giá trị cao nhất tạo nên bản chất đạo đức của con người. Nó
bao gồm tri thức đạo đức và tình cảm đạo đức.
Hành vi đạo đức là sự hiện thực hoá ý thức đạo đức. Nó làm cho ý thức
được cụ thể hoá và trở nên có ý nghĩa.
Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu là giáo dục xã hội, được coi là
lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội,
dục lao động hướng nghiệp. Giáo dục đạo đức vừa có mối quan hệ mật thiết
với các bộ phận khác trong quá trình giáo dục tổng thể, lại vừa có vai trò định
hướng cho các hoạt động giáo dục khác và có ảnh hưởng quan trọng đến kết
quả giáo dục. Trong quá trình giáo dục đạo đức, để đạt được kết quả cao cần
có sự tác động và phối hợp của rất nhiều yếu tố từ mục đích, kế hoạch, nội
dung, phương pháp, phương tiện giáo dục đạo đức đến tác động của các lực
lượng giáo dục và sự phối hợp của các lực lượng giáo dục. Giáo dục đạo đức
15
không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nó đòi hỏi nhà giáo dục vừa phải
tuân theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách vừa phải tìm và vận
dụng khéo léo các biện pháp sư phạm tác động vào ý thức học sinh để tổ chức
và quản lý được các hoạt động giáo dục đạo đức một cách có hiệu quả. Đây là
quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi
lặp lại nhiều lần.
GDĐĐ cho học sinh là tổng thể những tác động có mục đích, có kế
hoạch của nhà giáo dục được chọn lọc về nội dung, phương pháp, hình thức
phù hợp với học sinh nhằm hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm
tin, hành vi và thói quen đạo đức, giúp cho học sinh biết cách ứng xử đúng
mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân với tự nhiên với
mọi người xung quanh và với chính mình, góp phần hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh theo mục tiêu đã xác định.
1.1.2. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Học sinh trường trung học cơ sở có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi (từ lớp 6 - 9),
giai đoạn phát triển này của trẻ được gọi là tuổi thiếu niên . Lứa tuổi này có
một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó
là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh
bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo”, “tuổi
có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có
một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp
nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng
thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ, trong thời kỳ này những
cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức
của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi
thanh niên. Chúng ta, những nhà giáo dục, cần hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của
giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên để có cách giáo dục và đối xử đúng đắn
với các em nhằm xây dựng cho các em một nhân cách toàn diện.
17
GDĐĐ cho học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà
trường, nhằm thực hiện mục tiêu dạy học hoàn thiện nhân cách học sinh đáp
ứng mục tiêu, yêu cầu dạy học của nhà trường phổ thông trong giai đoạn mới.
Hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, được chọn lọc về nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp đến
học sinh nhằm hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và
thói quen đạo đức giúp cho học sinh biết ứng xử đúng mực trong các mối
quan hệ giữa cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, cá nhân với mọi người
xung quanh và với chính mình, góp phần quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của học sinh. Hoạt động GDĐĐ hình thành cho con
người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức
cơ bản của xã hội. Nhờ đó con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng
đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ vê hành vi
của bản thân mình. Vì thế, hoạt động GDĐĐ góp phần vào việc hình thành,
phát triển nhân cách phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Hoạt động GDĐĐ đạo đức cho học sinh THCS là quá trình tác động tới
trọng pháp luật. Là cách thức, con đường tác động có định hướng của chủ thể
quản lý tới các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
nhằm làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của công tác giáo dục đạo đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục đạo
đức để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THCS: Giúp cho học sinh
nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức. Trong đó mục đích quan trọng nhất
của GDĐĐ là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức, biết hành động theo lẽ
phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ
xã hội.
Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở:
- Giáo dục ý thức đạo đức. Cung cấp cho người học sinh những tri thức
cơ bản về các phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó
giúp họ hình thành niềm tin đạo đức.
19
- Giáo dục tình cảm đạo đức. Khơi dậy cho học sinh những rung động,
những xúc cảm với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng và có thái độ
đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể.
- Giáo dục thói quen đạo đức. Giáo dục hành vi thói quen, tổ chức cho
học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức trong học tập, trong
sinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức bên trong và từ
đó có thói quen đạo đức bền vững.
Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở:
- Trang bị cho học sinh những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực
và quy tắc đạo đức khi giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống bản thân, giáo
dục ý thức về lối sống cá nhân, giáo dục ý thúc về các mối quan hệ trong gia
đình, trong tập thể và ngoài xã hội, giáo dục ý thức về cuộc sống lao động
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
định hướng của chủ thể về các mặt:chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội; giáo dục
bằng một hệ thống các luật định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện
pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng” [10,
tr.8]. Quản lý một đơn vị với tư cách là hệ thống xã hội là khoa học và nghệ
thuật tác động vào hệ thống và từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp
thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra” [10, tr.60].
Theo Trần Kiểm: ‘‘Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh các nguồn lực
trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích với hiệu quả
cao nhất”.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể
người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Bản chất của quản lý được biểu hiện
qua chức năng quản lý với bốn chức năng cơ bản mà lý luận quản lý hiện đại
đã chỉ ra , đó là ; lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra đánh giá. Bốn chức
năng này có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một chu trình quản lý.
Nói tóm lại: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu đặt ra
trong điều kiện biến động của môi trường.
21
Theo điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học: Trường THCS là cơ sở giáo dục phổ
thông của hệ thống giáo dục quốc dân, THCS là một bậc trong hệ thống giáo
dục quốc dân ở nước ta hiện nay, nó sau tiểu học và trước trung học phổ
thông. Nó kéo dài 4 năm, từ lớp 6 đến lớp 9. Thông thường độ tuổi của học
sinh ở trường THCS là từ 11 đến 15, trường THCS được bố trí tại từng xã,
phường, thị trấn.
với quy luật khách quan.
Quản lý hoạt động GDĐĐ trong trường THCS không chỉ bó hẹp ở việc
quản lý hoạt động GDĐĐ theo những chuẩn mực xã hội mà phải coi trọng
đến hoạt động GDĐĐ, hành vi, phẩm chất, nhân cách học sinh, tôn trọng
người già, dần dần nâng lên GDĐĐ nghề nghiệp cho học sinh. Đây là hoạt
động quan trọng giúp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
cũng đã có nhận thức đúng đắn về những giá trị đạo đức, phẩm chất nhân
cách, cách giao tiếp, cách ứng xử và giải quyết mối quan hệ thường ngày.
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phải kết hợp một cách sáng tạo
quản lý hoạt động giáo dục của chủ thể quản lý và hoạt động tự giáo dục rèn
luyện của học sinh. Trong hoạt động tự giáo dục học sinh được coi là chủ thể
tự quản lý quá trình giáo dục của mình thông qua các hoạt động xây dựng kế
hoạch tự học tập, rèn luyện, tự kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục.
Quản lý hoạt động GDĐĐ phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng
giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ. Quản
lý hoạt động GDĐĐ bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức,
phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ GDĐĐ, biến quá trình giáo dục
thành quá trình tự giáo dục.
Từ cơ sở lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh chúng tôi
quan niệm: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung học cơ sở là việc
làm có kế hoạch, có tổ chức, có điều khiển của chủ thể quản lý đối với toàn
bộ hoạt động GDĐĐ cho học sinh, nhằm bảo đảm cho hoạt động GDĐĐ diễn
23
ra đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu yêu cầu
giáo dục của nhà trường.
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh thực chất là hoạt động có tổ
hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức;
nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương của Đảng và nhà nước về vấn đề phát triển con người toàn diện.
Về thái độ tình cảm: Giáo dục cho học sinh biết ủng hộ những việc làm
đúng, đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực đi ngược lại truyền thống
đạo đức của dân tộc và giá trị nhân văn của đời sống, có ý thức đúng đắn về
hành vi của mình và luôn có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, hoàn thiện phẩm chất
đạo đức cho bản thân. Làm cho mọi thành viên trong nhà trường và các
lực lượng xã hội có tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, tạo
nên bầu không khí sư phạm và môi trường thuận lợi cho sự phát triển
nhân cách học sinh.
Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh, trong và ngoài nhà trường. Tự rèn luyện tu dưỡng theo
chuẩn mực đạo đức chung của xã hội. Lập kế hoạch, triển khai, giám sát,
ra quyết định quản lý trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh khoa
học, hợp lý để hoạt động và chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
phù hợp với đặc điểm, tình hình của nhà trường, địa phương và yêu cầu
của xã hội.
Vấn đề quan trọng nhất của việc quản lý hoạt động GDĐĐ là làm sao
cho quá trình GDĐĐ đạt được mục đích hình thành cho học sinh ý thức, tình
cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được những hành vi, thói quen đạo đức.
1.2. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
1.2.1. Kế hoạch hóa chương trình, nội dung giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Hoạt động GDĐĐ cho học sinh THCS là những hoạt động được tổ
chức trong mối quan hệ chặt chẽ với chương trình giáo dục và các hoạt động
chung của nhà trường. Việc xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung
25