Tìm hiểu về Khổng Tử - Pdf 42

Khổng Tử - Nhà giáo dục kiệt xuất của nhân loại thời cổ đại
Trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là trong lĩnh vữc văn hóa - giáo dục xưa nay, có lẽ chưa có một người nào lại
chiếm được một vị trí độc tôn, phi phàm như Đức Khổng Tử (551-479 TCN). Mặc dù ông sống cách chúng ta
tới 25 thế kỷ, song lớp hậu thế ngàn năm sau ông, nhất là khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 (mở đầu bằng việc
ra đời của triều đại nhà Đường ở Trung Quốc (618-907) trở về sau, Khổng Tử đã được các tầng lớp đế vương
và Nho gia phương Đông (như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên...) tôn là "vạn thế sư biểu" (tấm gương
sáng về người thầy của muôn đời), địa vị của ông sánh ngang với Đức Thích ca Mầu ni của Đạo Phật và Đức
Giáo tổ Lý Đam (của Đạo Lão). Ngay cả khi thế chân kiềng của tam giáo Nho - Phật - Lão đã bị lung lay thì
Nho giáo vẫn còn khá ổn định và vững chắc. Cho tới tận cuối thế kỷ 19.
Tương truyền Khổng Tử sinh ra ở đất Khúc Phụ, Sơn Đông thuộc nước Lỗ thời Xuân Thu Chiến Quốc (722-
480 TCN). Khi ông sinh ra, thân phụ là Thúc Lương Ngột đã quá lục tuần và đã trải qua hai đời vợ, sinh hạ
được thảy 10 người con (9 gái, 1 trai tàn tật). Mẹ Đức Khổng là Nhan Thị. Bởi lẽ ông lúc sinh có một cái
bướu nhỏ trên đầu, nên cha mẹ đặt tên là Khâu (Khâu trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là gò đống), tên chữ là
Trọng Ni.
Khổng Tử được ba tuổi thì bố mất. Là người thông tuệ, lại lớn lên trong thời loạn lạc, các chư hầu luôn gây
họa binh đao, tranh giành quyền bính, chiến tranh liên miên hàng thế kỷ khiến trăm họ lầm than, điêu đứng,
Khổng Tử ôm mộng kinh bang, tế thế, lập chí giúp nước cứu đời, thực thi những hoài bão của mình. Song tới
năm 35 tuổi, Đức Khổng vẫn không được vua các nước chư hầu tin dùng, ông bèn về quê hương mở trường
dạy học theo đúng lẽ xuất xử của bậc đại quân tử "Tiến vi quan, đạt vi sư". Tài năng xuất chúng và đức độ
sáng trong của ông đã có ảnh hưởng rất lớn đến các kẻ sĩ đương thời. Học trò từ khắp nơi đến theo học. Họ
kính cẩn gọi ông là tôn sư, các môn sinh đã có lúc lên tới 3000 ngàn người, thật là một con số hiếm thấy trong
lịch sử giáo dục thời cổ đại. Khổng Tử có bốn năm làm quan tại nước Lỗ với các chức vụ: Đại tư khấu, Nhiếp
tướng sự (như chức Thủ tướng). Nhưng vua Lỗ hoang dâm, mê đắm tửu sắc, không màng tới chính sự vì vậy
Khổng Tử đã nhìn thấy cái kết cục chẳng có gì tốt đẹp ở nhà vua, ông xin từ quan, dốc sức vào sự nghiệp dạy
học và toàn tâm nghiên cứu, xác định lại các bộ sách đời trước và viết bộ Xuân Thu nổi tiếng.
Hạt nhân tư tưởng của học thuyết do Khổng Tử đề xướng và suốt đời truyền bá trong các lớp môn sinh là
NHÂN. Chữ nhân theo quan niệm của ông mang một ý nghĩa hết sức rộng lớn, gắn bó chặt chẽ với đạo - đạo
đức - lòng yêu thương con người, yêu thương vạn vật. Theo Khổng Tử, gốc của NHÂN là hiếu đễ (Hiếu là sự
kính trọng của con cái đối với cha mẹ, đễ là lòng thương yêu, tôn kính của em đối với anh). NHÂN bao hàm
cả hai mặt yêu và ghét phân minh, là lòng quan tâm, vị tha, xả thân vì người như chính Khổng Tử đã nói
"Theo ta, người có đức nhân là như thế này: Bản thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống thì cũng nên

lại năm kinh (ngũ kinh). Khổng Tử còn một bộ sách vĩ đại nữa là Luận ngữ là cuốn sách ghi chép những lời
nói, những câu chuyện hàm nghĩa giáo huấn sâu xa của ông đối với các đệ tử, cùng với nhiều ý kiến có liên
quan tới nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, đạo đức, văn học, triết học...
Các tư tưởng và học thuyết về giáo dục của Khổng Tử về sau được các môn đệ tiếp tục kế thừa và phát triển
và người có công đầu chính là Mạnh Tử (372-289 TCN) với học thuyết Nhân - Nghĩa đã trở thành "Khuôn
vàng thước ngọc" của các triều đại phong kiến phương Đông trong việc trị quốc an dân. Vì thế đạo Nho do
Đức Khổng sáng lập và Mạnh Tử kế tục còn gọi là đạo Khổng - Mạnh vậy.
Henri> Khổng Tử tác Xuân Thu:
Đức Nguyên Nguyễn Văn Hồng
< Henri>

• 孔子作春秋
Khổng Tử tác Xuân Thu là Đức Khổng Tử làm ra sách
Xuân Thu để bày tỏ cái đạo của Ngài.
"Kinh Xuân Thu là bộ sách của Khổng Tử làm ra. Ngài theo lối văn làm sử mà chép truyện nước Lỗ, kể từ Lỗ
Ẩn Công đến Lỗ Ai Công. Trong sách ấy chép cả việc nhà Chu (Châu) và việc các nước chư Hầu.
Xem hình thể bề ngoài thì là một bộ sử biên niên, lời lẽ vắt tắt, lắm chỗ hình như không có ý nghĩa gì cả,
nhưng xét rõ đến tinh thần thì thật là bộ sách triết lý về việc chánh trị.
Mạnh Tử là người đã hiểu rõ nghĩa Kinh Xuân Thu, nói: "Kinh Thi hết, nhiên hậu Kinh Xuân Thu mới làm ra.
Việc ở trong sách Xuân Thu là việc Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, văn trong sách là văn sử.
Nghĩa thì Khổng Tử nói rằng: Khâu nầy trộm lấy đó vậy. Nghĩa là Ngài lấy truyện ở trong các sách nước Tấn,
nước Sở, nước Lỗ mà biểu thị cái ý nghĩa của Ngài muốn bày tỏ ra. Thời Xuân Thu bấy giờ xã hội Tàu loạn
lạc, vua các nước chư Hầu làm nhiều điều bạo ngược và ai cũng muốn lấn quyền Thiên tử nhà Châu. Ngài
không muốn để sự phê bình phán đoán của Ngài đụng chạm đến quyền thế của những người đương thời, vả
lại cái học sâu xa của Ngài là cái học Tâm truyền, cho nên Ngài mượn lối văn làm sử, nói việc đã qua để ngụ
cái vi ý của Ngài."
Sách Trang Tử (Nam Hoa Kinh) ở thiên Thiên Hạ viết rằng: Xuân Thu dĩ đạo danh phận (Sách Xuân Thu là
để nói cái đạo danh và phận).
Vậy cứ theo ý kiến của những nhà đại hiền triết đời Chiến quốc thì sách Xuân Thu thật là cuốn sách để tâm
truyền cái đại nghĩa Danh và Phận về đường luân lý và chánh trị, chớ không phải là sách chép sử như người ta

nghĩa. Đó là cái vi ý trong sách Xuân Thu.
Khổng Tử còn sợ người ta không hiểu rõ cái ý ấy, cho nên Ngài nói: Tri ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ, tội
ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ! (Người biết ta cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu, người trách tội ta cũng chỉ ở Kinh
Xuân Thu).
Biết Ngài là biết cái bụng của Ngài sợ những tà thuyết, những bạo hành càng ngày càng nhiều ra, cho nên
Ngài bày tỏ cái phương pháp chánh trị để đổi loạn ra trị, và để trừng trị những kẻ tàn bạo gian ác.
Trách tội Ngài là vì không hiểu cái ý của Ngài mà cho Ngài là tiếm làm cái việc của Thiên tử, hoặc là ngờ
Ngài dùng những điều tai dị để làm mê hoặc người đời.
Học giả nên chú ý và hiểu cái thâm ý và cái khổ tâm của Ngài trong sách Xuân Thu. Về sau Hán Nho thường
không hiểu rõ cái phần uyên thâm ấy, chú trọng ở cái thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, gây thành mối mê tín,
thật là sai cái ý nghĩa trong sách Xuân Thu vậy.
Người thường không biết, lấy con mắt xem sử mà xem thì không hiểu bộ sách ấy ích lợi về điều gì. Song
người nào biết, lấy cái tinh thần mà lãnh hội cái thâm ý trong sách ấy, thì thấy có nhiều ý nghĩa rất sâu xa."
(Trích Nho Giáo Trần Trọng Kim)
Mặc dầu Kinh Xuân Thu là một cuốn sách lịch sử, nhưng khi ghi chép, Đức Khổng Tử đã vận dụng bút pháp
để khen chê, để phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép, nên người đời sau đã phải công
nhận đó là những búa rìu trong Kinh Xuân Thu (Xuân Thu phủ việt), cũng như nói: Khổng Tử làm Kinh Xuân
Thu mà bọn loạn thần tặc tử sợ (Khổng Tử tác Xuân Thu nhi loạn thần tặc tử cụ).
Vì thế, Kinh Xuân Thu có tác dụng về Đạo lý, giữ địa vị quan trọng trong nền văn hóa Nho giáo, trong sự
biểu dương học thuyết "Chánh danh, Nhất quán, Trung dung, Đại đồng" của vị Vạn Thế Sư Biểu mà dân tộc
VN đã chịu ảnh hưởng hơn 2000 năm nay.
Kinh Xuân Thu còn có tính cách điển hình gương mẫu cho người đời sau phải tôn trọng danh dự và nhiệm vụ
trong khi viết sử, nên Kinh Xuân Thu được liệt vào năm bộ kinh quan trọng của Nho giáo, gọi là Ngũ Kinh:
Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ Nhạc, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu.
Văn chép sử trong Kinh Xuân Thu rất tóm tắt, hàm súc, ít người hiểu thấu, nên về sau có ba học giả làm thêm
Tam Truyện để giải thích ý nghĩa của Kinh Xuân Thu.
Ba học giả ấy là:
1. TẢ KHƯU MINH, làm Thái Sử nước Lỗ, đồng thời với Khổng Tử. Khi Khổng Tử trứ tác Kinh Xuân Thu,
ông làm Tả Truyện để chú giải Kinh Xuân Thu và khai triển, nên người ta gọi là Tả Thị Xuân Thu, hay vắn
tắt là Tả Truyện.

thì xem Tả Thị mới đúng, còn nghĩa thì xem Cốc Thị, Công Thị mới tinh. Hai lời đó là phép cốt yếu để đọc
Kinh Xuân Thu."
Xem như thế thì Kinh Xuân Thu là một bộ sách rất quan trọng, tiêu biểu cho Đức Khổng Tử, mà cũng tiêu
biểu cho cả Nho giáo nữa. Đức Quan Thánh hồi sanh tiền đã dùng Kinh Xuân Thu làm sách gối đầu.
Do đó, Đạo Cao Đài ngày nay dùng Kinh Xuân Thu làm cổ pháp của Nho giáo, tượng trưng Nho giáo.
TNHT: Xuân Thu định vững ngôi lương tể,
Phật Chủ quét tan lũ nịnh thần.
TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status