Tiểu luận mẫu Đề tài: Vận dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ giải quyết những vấn đề gặp phải của người cao tuổi neo đơn - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách, và
giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội. Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh
thần đối với NCT, đặc biệt là những NCT neo đơn là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước
và toàn xã hội. Điều này thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống văn hóa
tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương, chính sách, những mô hình chăm sóc NCT, NCTNĐ và đã đem lại
những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hiện nay đời sống của NCTNĐ vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn, rất cần sự chung tay giúp đỡ của gia đình, xã hội, cộng đồng nhiều hơn
nữa. Trong thời gian tới, nước ta đẩy mạnh phát huy cao vai trò của nhân viên Công tác
xã hội, ứng dụng các phương pháp của CTXH nói chung, và CTXH cá nhân nói riêng
trong việc trợ giúp và cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp NCT có thêm niềm tin và nghị
lực trong cuộc sống, góp phần làm cho cuộc sống của những NCT nói chung, nhất là
NGNĐ nói riêng tìm được niềm vui, tiếp tục cống hiến, sống có ý nghĩa cho gia đình, cho
xã hội và cho chính bản thân họ. Đồng thời, khảng định tính chuyên nghiệp và tính ứng
dụng cao của ngành nghề CTXH trong công tác trợ giúp những người yếu thế trong xã
hội có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Với lý do trên, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp Công
tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ giải quyết những vấn đề gặp phải của người cao tuổi
neo đơn trên địa bàn xã …………….”
2.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng NCT trên địa bàn xã…………qua đó, vận dụng
phương pháp công tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ những vấn đề gặp phải của họ.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của người già, người già không nơi nương
tựa.
- Tìm hiểu những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống của người già không

+ CTXH với cá nhân không phải là một hoạt động, một tác động nhất thời mà phải
là một qúa trình. Quá trình này bắt đầu từ việc tiếp cận đối tượng, nhận diện vấn đề cho
đến việc thu thập thông tin, chuẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu, triển khai trị liệu, lượng giá
và cuối cùng kết thúc khi đã đạt được mục đích đặt ra.
+ CTXH với cá nhân là một phương pháp CTXH bao gồm nhiều phương pháp, kỹ
năng cụ thể, có sự kết hợp linh hoạt, rộng rãi với các lĩnh vực khác (hệ thống tri thức của
các khoa học khác, hệ thống chính sách, các kinh nghiệm của các NVXH và của đối
tượng…)
+ Khi tiến hành CTXH với cá nhân cần phải đặt cá nhân trong mối quan hệ tương
tác với các cá nhân khác, với điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường xã hội mà cá nhân
đang sinh sống. Phương pháp tác động tập trung vào các mối quan hệ về tâm lý xã hội,
bối cảnh xã hội mà ở đó vấn đề của thân chủ đang diễn ra và bị ảnh hưởng, chi phối.
+ Điều cốt lõi và là mục đích cao nhất của phương pháp CTXH với cá nhân là giúp
cá nhân tự nhận ra, mong muốn và tự giải quyết được vấn đề của mình. Quan điểm hành
động trong CTXH với cá nhân là “đối tượng là chuyên gia trong việc giải quyết vấn đề
của chính mình”. Để làm được điều này phụ thuộc rất lớn vào vai trò của NVXH, vì thân
chủ là người trong tình huống, thường không sáng suốt, thiếu bình tĩnh, tự tin hoặc hành
động liều lĩnh, vội vàng.
1.2.Đối tượng, tác nghiệp của CTXH cá nhân
Đối tượng tác động của phương pháp CTXH cá nhân là những cá nhân hoặc gia
đình có vấn đề xã hội. Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp phải rủi ro, bất
hạnh trong cuộc sống, bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thất nghiệp; người
bị khuyết tật; NCT, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, sống lang thang,
bị ngược đãi, bị lạm dụng tình dục, lạm dụng sức khoẻ, bóc lột sức lao động; phụ nữ bị
bạo hành, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội; người bị nhiễm các dịch bệnh hiểm
nghèo; người nghiện ma tuý, hành nghề mại dâm, tội phạm xã hội,… Các cá nhân có vấn
đề trở thành thân chủ của tham vấn khi họ luôn cảm thấy không hài lòng trong một mối
quan hệ, một sự kiện nào đó, luôn gây bất bình cho những người xung quanh, ở họ xuất
3


Điều này có nghĩa là không tỏ vẻ bất bình với thân chủ, không đổ lỗi bằng cách
tranh luận về nguyên nhân – kết quả hoặc đưa ra lời phê phán cho rằng người đó đáng bị
trừng phạt vì hành vi của họ. Thuật ngữ kết án một cá nhân và thái độ xem thường người
khác là không được chấp nhận trong CTXH. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là
NVXH biện hộ, chạy tội cho phạm nhân. Khi NVXH nói chuyện và đối xử với cung cách
như thế thì thân chỉ thấy họ được chấp nhận hoàn toàn và thân chủ sẽ bộc lộ vấn đề của
họ.
- Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Nguyên tác này cho rằng cá nhân có quyền tự quyết định những vấn đề thuộc về
cuộc đời họ và người khác không có quyền áp đặt quyết định lên họ. Trong CTXH cá
4


nhân, NVXH không ra quyết định, lựa chọn hay vạch kế hoạch cho thân chủ. Tuy nhiên,
thân chủ có thể được hướng dẫn và giúp đỡ để đưa ra quyết định riêng.
Sự tự quyết, cũng như sự tự do, có những giới hạn riêng của nó. Đó không phải là
một quyền tuyệt đối. Quyết định mà thân chủ đưa ra phải nằm trong phạm vi quy định
của xã hội, kết quả của quyết định đó không gây tổn hại đến bản thân và người khác. Hơn
nữa, hành vi tự quyết định phải thuộc những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp
nhận được. Điều này cũng có ý nghĩa thân chủ phải tự chịu trách nhiệm thực hiện quyết
định cũng như những hậu quả của việc thực hiện quyết định đó.
Giá trị của nguyên tắc này thừa nhận thân chủ như họ vốn có. Chấp nhận hay từ
chối một dịch vụ nào đó là do thân chủ quyets định. Trong tiến trình CTXH cá nhân,
NVXH thảo luận và xem xét các phương án, thảo luận kỹ lưởng giúp cân nhắc những khó
khăn và thuận lợi. Quyền tự quyết được xác nhận, được giải thích ở giai đoạn đầu, vào
giai đoạn giữa, và giai đoạn cuối của tiến trình.
NVXH ứng dụng kiến thức, sự hiểu biết và kĩ năng với giả định cơ bản là cá nhân
co nhu cầu, quyền lựa chọn và quyền ra quyết định.
- Nguyên tắc cùng tham gia giải quyết vấn đề
Tiến trình giúp đỡ và được giúp đỡ không dừng lại ở thời điểm thân chủ ra quyết

(7) Lượng giá
Giai đoạn 1: Tiếp nhận thân chủ
Đây là bước đầu tiên, quan trọng, tạo tiền đề và có ý nghĩa rất lớn đến sự thành
công của CTXH với cá nhân đối với từng trường hợp cụ thể. Ngay từ bước thứ nhất - tiếp
cận thân chủ, NVXH phải cố gắng thiết lập được mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và
hợp tác với thân chủ.
Giai đoạn 2: Nhận diện vấn đề
Việc nhận diện vấn đề của thân chủ là một việc không hề đơn giản. Việc nhận diện
vấn đề đúng vấn đề gặp phải của thân chủ, xác định chính xác nguồn gốc làm nảy sinh
vấn đề là cơ sở để NVXH thực hiện các bước tiếp theo, nó liên quan đến khả năng đáp
ứng nhu cầu cũng như huy động sự tham gia của thân chủ vào giải quyết vấn đề. Nhận
diện vấn đề cần trả lời hai câu hỏi:1. Vấn đề hiện tại của thân chủ là gì?2. Ai là thân chủ
trọng tâm?
Giai đoạn 3: Thu thập thông tin
Thu thập thông tin và xử lý số liệu là một tập hợp các thao tác kỹ thuật mà NVXH
thực hiện nhằm kiểm chứng tính chính xác rình trạng hiện tại, nguyên nhân, các yếu tố
yếu tố tác động đến thân chủ và vấn đề của thân chủ, từ đó đưa ra sự đánh giá toàn diện
về thân chủ làm cơ sở trực tiếp cho bước tiếp theo trong tiến trình CTXH cá nhân.
Giai đoạn 4: Đánh giá chuẩn đoán
Về cơ bản, việc xác định vấn đề ưu tiên và trọng tâm giải quyết vấn đề là một bước
được thực hiện sau các bước tiếp cận thân chủ, nhận diện vấn đề, thu thập và xử lý thông
tin. Nó là điểm mấu chốt kiểm định lại tính phù hợp, đúng đắn của các bước đồng thời là
cơ sở quyết định đến bước tiếp theo - xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề. Nó cũng chỉ
ra cho cả NVXH và thân chủ thấy rõ được kết quả của sự tương tác, trong việc đánh giá
nhu cầu, nguồn lực, thuận lợi, khó khăn khi giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, trong những
trường hợp cụ thể, bước này có thể được thực hiện sớm hơn, thậm chí là bước đầu tiên,
khi gặp và quyết định giải quyết tình trạng khẩn cấp.
Giai đoạn 5: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề
Kế hoạch chính là những công việc cụ thể cần thực hiện nhằm đạt các mục tiêu
trong tương lai nhờ việc sử dụng các nguồn lực hiện có và sẵn có một cách hợp lý, hiệu

NCT hay người cao niên hay NCT là những người lớn tuổi, thường có độ tuổi từ 60
uổi trở lên. Pháp lệnh NCT ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/4/2000)
nhận định: “NCT có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai
trò quan trọng trong gia đình và xã hội”
Về mặt Pháp luật, theo Luật NCT quy định NCT là: “Công dân nước CHXHCN
Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Tuy nhiên, quy định này không thống nhất với Bộ lao động
TB&XH hiện hành. Quy định về tuổi về hưu của Luật Lao động Việt Nam có sự phân
biệt giới với 60 tuổi đối với nhóm nam và 55 tuổi đối với nhóm nữ. Như vậy, phụ nữ đã
nghỉ hưu nhưng lạ chưa được xác định là nhóm NCT và chưa phải hội viên Hội NCT.
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho khái niệm NCT vì thực tế nhiều người từ 60 tuổi
trở lên vẫn còn hoạt động. Vì cụm từ “NCT” bao hàm tính kính trọng hơn cụm từ
“NCN”. Tuy nhiên, về khoa học thì cả hai cụm từ này đều được sử dụng như nhau.

7


Mặc dù còn khá nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi của NCT, nhưng thực tế cho
thấy việc phân chia nhóm tuổi để quy định về nhóm NCT còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác như: điều kiện kinh tế - xã hội, tình trạng sức khỏe, môi trường,…
Như vậy, ta có thể hiểu NCT hay NCN (người cao niên) là công dân Việt Nam từ
đủ 60 tuổi trở lên.
1.2. Khái niệm về NCTNĐ không nơi nương tựa
NCT là những người từ 60 tuổi trở lên sống độc thân, còn vợ hoặc chồng nhưng già
yếu, không có con cháu, người thân thích, ruột thịt để nương tựa và không có nguồn thu
nhập để đảm bảo cuộc sống, đảm bảo nhu cầu thiết yếu. Ngoài ra, những NCT có con
cháu, nhưng bị con cháu đối xử ngược đãi, bỏ rơi, không quan tâm chăm sóc và không có
nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập cũng được coi là NCT neo đơn không nơi
nương tựa.
2. Đặc điểm của NCTNĐ không nơi nương tựa
- Tâm lý mặc cảm, cô đơn. Không chỉ những người già sống một mình (con cháu ở

của cuộc đời, có cảm giác như “ngọn đèn trước gió”, “gần đất xa trời” nên sinh ra tâm lý
bi quan. Quy luật sinh học tất yếu, sự già hóa các cơ quan cơ thể và suy giảm chức năng,
nhất là đối với những người già mắc bệnh tật thì tâm lý bi quan, phiền muộn càng rõ rệt.
Sức khỏe yếu, lao động giảm sút, thu nhập ít đi, vị trí xã hội thay đổi đều là những
nguyên nhân cơ bản có thể gây ra tâm lý bi quan, phiền muộn của người già. Bên cạnh
đó, người già cũng dễ mủi lòng, tủi thân khi những nhu cầu hay yêu cầu, ý kiến của mình
không được con cháu, người khác lưu tâm, đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng. Đặc biệt là
những người đã giành phần lớn tâm sức, thời gian của cuộc đời mình cho việc chăm sóc,
nuôi dạy, lo lắng, dựng nghiệp cho con cháu với mong muốn được con cháu đền đáp, báo
hiếu lúc tuổi già.
+ Tâm lý đa nghi. Đa số người già cho rằng sự trải nghiệm, kinh nghiệm trường đời
của mình nên hiểu hơn, biết hơn, đúng đắn hơn, chuẩn mực hơn, “khôn hơn” người trẻ
tuổi, hơn con cháu. Cùng với việc thính lực, thị lực người già suy giảm, quan sát hành vi,
cử chỉ, nghe người khác nói có khi không trọn vẹn, không đầy đủ, không rõ ràng nên dễ
dẫn đến nghe sai lệch nội dung, hiểu sai ý người nói và lại hay suy đoán động cơ, mục
đích của người khác. Sự chậm chạp, có thể suy giảm hoặc mất đi chức năng này, chức
năng khác, phải lệ thuộc hay nhờ vả người khác nên người già lo lắng quá mức, dẫn đến
việc lặp đi lặp lại một câu nói, một ý nghĩ, một yêu cầu khiến cho người khác hiểu sai
lệch là các cụ bị lẩm cẩm, thậm chí bực dọc, cáu giận với các cụ. Vì vậy, người già nảy
sinh tính đa nghi, khó tin tưởng người khác, nếu có thì sự tin tưởng phải rất thận trọng.
Tính đa nghi của người cao tuổi sẽ tăng lên và trầm trọng hơn khi tuổi tác ngày một cao.
Quá mẫn cảm với cảm giác của cơ thể cộng với những thông điệp không rõ ràng hoặc
không được tiếp nhận rõ ràng là nguồn gốc chủ yếu sinh ra tính đa nghi của người già.
+ Tâm lý nóng nảy, giận giữ và không ổn định. Có rất nhiều lý do, thậm chí có
những lý do rất vô lý dẫn đến tâm lý nóng nảy, dễ cáu gắt, giận giữ, giận hờn của người
già. Tinh thần không ổn định, diễn biến phức tạp, các cảm giác tự ti, mất vai trò, vị trí, là
“người thừa – vô tích sự”, cùng những tác động từ bên ngoài, từ môi trường sống, nhất là
thái độ của người trong gia đình, họ hàng, cộng đồng, đồng nghiệp cũ... khiến cho người
già có thể nóng giận, cáu gắt, thậm chí tình trạng nóng nảy đến từ những nguyên nhân rất
nhỏ nhặt

đồng, xã hội như các hoạt động của làng xóm, bạn bè, đồng môn, đồng đội, đồng niên...
Họ mong được hội họp, trao đổi, chuyện trò với những người trong xã hội, với những
người tâm giao, những người trong tổ chức, đoàn thể để được tiếp tục khẳng định vai trò,
giá trị và hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, xã hội, họ không muốn bị đứng ngoài, bị
lạc lõng, bị bỏ lại nhất là trong bối cảnh xã hội đầy tính thời sự, biến động, nóng bỏng,
vận động không ngừng...
Người già cũng rất muốn tham gia, thể hiện và thực hiện các việc làm từ thiện,
nhân ái, giúp đỡ những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cộng đồng xã hội. Những việc
làm từ thiện đó là thăm hỏi, động viên, đóng góp tiền bạc và tổ chức các hoạt động giúp
đỡ người thiệt thòi, bất hạnh. Chính trong các hoạt động đó, người già sẽ tìm thấy thêm
niềm vui sống, giá trị sống, vai trò hữu ích của bản thân, mặc dù tuổi cao.
Người già quan tâm, chú trọng đến đời sống tâm linh, vì vậy có nhu cầu tham gia
các hoạt động tâm linh như tích cực đến với các lễ hội, đền thờ, chùa chiền, nhà thờ để
vừa cầu phúc, may cho bản thân, cho gia đình, cộng đồng vừa tìm sự thanh thản về tinh
thần.
10


Tuy nhiên, tuổi càng cao, sức khỏe càng yếu, cùng với những tác động bên ngoài,
nhất là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có những diễn biến phức tạp, suy thoái sẽ
khiến cho người già gặp phải những trở ngại, những nguy cơ trong cuộc sống, trong đó
đặc biệt là những nguy cơ về bệnh tật, bởi nhiều chức năng sinh lý của người già bị suy
giảm rõ rệt. Theo các nghiên cứu, thống kê thì người già có rất nhiều nguy cơ về sức
khỏe thể chất, tinh thần, trong đó điển hình là các nguy cơ: suy dinh dưỡng; bệnh về tim
mạch, huyết áp; bệnh về hệ hô hấp; bệnh về đường tiêu hóa; bệnh về hệ tiết niệu - sinh
dục; bệnh về hệ vận động – cơ, xương, khớp; bệnh về hệ thần kinh, nhất là thần kinh
trung ương; các bệnh khác như ung thư, bệnh về gan, thận, mật...
4. Thực trạng Người cao tuổi neo đơn không nơi nương tựa ở nước ta
NCT neo đơn không nơi nương tựa là những người từ 60 tuổi trở lên sống độc thân,
còn vợ hoặc còn chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích, ruột thịt để

Với thực tế dân số già hóa, số lượng người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân
số, cùng những sự biến động của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở cửa hội
nhập kinh tế, sự di chuyển, cơ động trong lao động, sản xuất kinh doanh, tìm kiếm việc
làm thu nhập, sự tăng cường mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước,
bên cạnh đó một phần có những sự chuyển biến, thay đổi đáng kể các giá trị truyền
thống, lối sống, nếp sống, nhất là quan niệm về đời sống gia đình (từng bước phá bỏ trật
tự, thói quen về gia đình nhiều thế hệ sống cùng nhau trong cùng một mái nhà)... dẫn đến
tình trạng sẽ có không ít những người già phải sống riêng, không ở cùng con cháu và
trong số đó sẽ có những người già rơi vào tình trạng neo đơn. Ngoài ra, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, do bệnh tật, ốm đau, do không có con cháu, không còn người ruột thịt
nên trong cộng đồng, xã hội tất yếu có một bộ phận không nhỏ những người già neo đơn
không nơi nương tựa có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn (chiếm 72,9% tổng số người cao tuổi).
Những người cao tuổi sống ở nông thôn chủ yếu là những người lao động nông nghiệp,
thủ công, nghề tự do và do vậy rất ít người có lương hưu hay các trợ cấp xã hội khác. Chỉ
có một bộ phận những người cao tuổi ở nông thôn có lương hưu (đi làm việc ở nơi khác
về nghỉ hưu ở nông thôn hoặc tham gia công việc tại địa phương rồi nghỉ hưu tại địa
phương, khoảng 9 – 30% người cao tuổi có lương hưu. Theo PGS.TS Nguyễn Đình Cử –
Viện trưởng Viện Dân số và các Vấn đề xã hội thì có khoảng 16 – 17% người cao tuổi có
lương hưu hoặc mất sức, 10% hưởng trợ cấp người có công với đất nước. Theo kết quả
khảo sát của Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam (VNCA) cho thấy, trong tổng
số người cao tuổi sống ở nông thôn có khoảng 75% sống cùng con cháu, 25% sống riêng,
trong đó có 8,3% sống cô đơn, đa phần là phụ nữ đơn thân do chồng mất trước, góa
chồng, không có con. Ở thành thị, tồn tại tình trạng người già neo đơn (sống một mình
hoặc sống riêng với con cái) chiếm tỷ lệ cao hơn nông thôn nhưng đa số có thu nhập từ
các nguồn tích luỹ, hoặc lao động làm thêm, hoặc lương hưu, hoặc trợ cấp, phụ cấp cùng
với mặt bằng an sinh xã hội tốt hơn nên cuộc sống của người già ở thành thị nói chung,
người già neo đơn nói riêng ít khó khăn hơn so với người già neo đơn ở nông thôn. Bên
cạnh đó, tại thành thị thường có các nhà dưỡng lão hoặc các trung tâm bảo trợ xã hội
chăm sóc, nuôi dưỡng những người già có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và cả những

chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi.
Quan điểm và chủ trương của Đảng về quan tâm, chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi,
đặc biệt là người cao tuổi neo đơn, không nơi nương tựa được từng bước hiện thực hóa trong
chính sách, pháp luật của Nhà nước: Pháp lệnh người cao tuổi (Số 23/2000/PL –
UBTVQH ngày 28/4/2000), quy định; “Luật Người cao tuổi” năm 2009; Nghị định
67/2007/NĐ - CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định đối tượng
cần được bảo trợ xã hội, trong đó có người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình ngheo;
người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích
để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo; Thông tư số 09/2007/TT - BLĐTBXH về Hướng
dẫn một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ - CP về chính sách trợ giúp các đối tượng
bảo trợ xã hội; Nghị định 13/2010/NĐ - CP ngày 27/02/2010, Nghị định số 06/2011/NĐ CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều
luật của Người cao tuổi, trong đó đặc biệt quan tâm đến đối tượng người già cô đơn...
Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các tổ thức cá nhân thành lập các cơ sở cung ứng
dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại các huyện, thành phố; khuyến khích các huyện xây
dựng mô hình nhà xã hội cho người cao tuổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người cao
tuổi lang thang, người cao tuổi cô đơn tại các địa phương có chỗ nương tựa và tham gia
sinh hoạt vui chơi, giải trí, điều trị bệnh.

13


Như vậy, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn thể hiện sự quan tâm
đến người già nói chung, người già neo đơn không nơi nương tựa nói riêng. Điều đó được
thể hiện ở việc Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách phù hợp, tạo cơ chế
nền tảng cho việc xây dựng, thực hiện các mô hình chăm sóc người già cô đơn không nơi
nương tựa, xây dựng nhà dưỡng lão chăm sóc những người có công, lập các trung tâm
bảo trợ xã hội để nuôi dưỡng người già cô đơn, không nơi nương tựa... Bên cạnh đó, các
đoàn thể và tổ chức xã hội như Hội Chữ thập đỏ, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội
Người cao tuổi, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm cũng tổ chức nhiều hoạt
động như xây dựng trung tâm chăm sóc người già nội trú, nhận chu cấp kinh phí để


+ Điều kiện kinh tế
Kinh tế là một trong những vấn đề hết sức quan tâm của NCT nói chung và NCT
neo đơn nói riêng, họ không có người thân. Nếu có thì người thân cũng có hoàn cảnh khó
khăn, không thể hỗ trợ, cộng thêm với điều kiện sức khỏe ốm yếu, không thể làm được
công việc gì tạo ra thu nhập. Do đó, đời sống kinh tế của NCT neo đơn gặp rất nhiều khó
khăn. Vì thế, NCT neo đơn phải hoàn toàn dựa vào sự trợ cấp xã hội, sự giúp đỡ của
chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, gia đình và những người xung quanh chỉ chiếm
một phần nhỏ, sự trợ giúp không mang tính lâu dài, chủ yếu là sự động viên tinh thần cho
họ.
+ Về tình trạng sức khoẻ
NCT neo đơn tuổi càng cao, sức khỏe càng yếu, cùng với những tác động bên
ngoài, nhất là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có những diễn biến phức tạp, sẽ
khiến cho NCT NĐ gặp phải những trở ngại, những nguy cơ bệnh tật trong cuộc sống.
2.3. Nhu cầu của NCT neo đơn.
Người cao tuổi neo đơn cần hỗ trợ về nhà ở, kinh tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe,
nhu cầu hoạt động văn hóa thể dục thể thao hòa nhập cộng đồng.
2.4. Một số trường hợp NCT neo đơn trên địa bàn.
- Trường hợp bà: Nguyễn Thị Thanh ở thôn ........, chồng mất sớm bà không có
con. Hiện nay bà 71 tuổi đang sống một mình, có người cháu họ đến chăm nom thường
xuyên.
- Trường hợp ông: Nguyễn Văn Nam 75 tuổi ở thôn ..........., vợ mất sớm, con trai
ông bị bệnh tâm thần, kinh tế khó khăn. Cuộc sống của ông chủ yếu nhờ sự trợ giúp của
xã hội.
- Trường hợp bà: Ngô Thị Hoa 81 tuổi ở thôn .........., hiện đang sống một mình thi
thoảng được người cháu họ đến chăm sóc. Mọi chi tiêu và sinh hoạt hàng ngày của bà
phụ thuộc vào trợ cấp của xã hội và xóm làng.
3. Các hoạt động can thiệp, hỗ trợ, giải quyết vấn đề gặp phải của NCT neo đơn
trên địa bàn xã Hồng Đức.
Đối với việc hỗ trợ NCT trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn về nguồn kinh phí

Nhưng hiện nay, tình trạng thiếu hụt nhân lực cũng như chất lượng của đội ngũ cán
bộ để chăm sóc NCT đang gây khó khăn cho các cơ sở y tế, trung tâm CSSKNCT. Vì
thế, chính quyền xã cần tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ tham gia các
khóa học, tập huấn nâng cao nghiệp vụ để khắc phục những vấn đề còn tồn tại.
Mặc dù Luật NCT đã chú trọng rất nhiều đến những quyền lợi mà NCT được
hưởng, như chính sách phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe NCT, chính sách bảo trợ xã
hội… nhưng kết quả thực hiện trên thực tế chưa cao. Sau những cống hiến hy sinh cho
con cháu, quê hương, đất nước NCT, nhất là những NCT, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt,
cần được sống cho chính bản thân mình, ở những nơi dành riêng cho họ để được chăm
sóc, trân trọng và yêu thương. Trong những năm tới, số NCT của Việt Nam sẽ gia tăng
nhanh chóng. Vì vậy, chăm sóc NCT cụ thể là NCT, bên cạnh sự chăm sóc của những
người thân trong gia đình, đang rất cần sự chung tay chăm sóc của toàn xã hội để giảm
thiểu nỗi lo cho NCT nước ta.
3.2. Hoạt động hỗ trợ tâm lý, đời sống tâm lý tình cảm cho NCT trên địa bàn
Người già có những hẫng hụt lớn về mặt tâm lý do sự dời bỏ hoạt động nghề
nghiệp, thói quen công việc đã gắn bó trong nhiều năm. Sự thay đổi địa vị xã hội, thay
đổi lối sống, sinh hoạt, thay đổi chức năng vai trò của cá nhân đối với con cái, gia đình,
16


tỷ lệ tăng người thân, bạn bè qua đời nhanh cùng với sự thoái hóa của hệ thần kinh, giảm
sút trí nhớ… làm cho bệnh lý tâm thần người già tăng cao và trầm trọng. Do đó, những
hoạt động về hỗ trợ tâm lý, đời sống tâm lý tình cảm cho NCT có ý nghĩa quan trọng, vô
cùng cần thiết trong việc giải quyết những vấn đề gặp phải ở NCT. Tuy nhiên, chính
quyền địa phương xã chưa thực sự đánh giá đúng tầm quan trọng cũng như những ảnh
hưởng của yếu tố này đến cuộc sống của NCT. Chính quyền xã chưa có những chương
trình, hành động cụ thể và hiệu quả để tác động đến vấn đề này, chỉ có một số những hoạt
động thăm, khám sức khỏe về thể chất. Ngoài ra, gia đình cũng chưa có nhận thức cũng
như hành vi đầy đủ về vấn đề này; hàng xóm láng giềng, các tổ chức xã hội khác trên địa
bàn chưa có sự hỗ trợ, giúp cải thiện về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của NCT.



vậy, sức khỏe thể chất và tinh thần của thân chủ không được đảm bảo, NCT thường hay
bị chóng mặt, đau khớp, khó ngủ và thường hay lo lắng cho những ngày tuổi già sắp tới
của mình.
Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng thân chủ cũng chủ động làm những công việc gia
đình nhẹ nhàng như: trông cháu, quét sân, chăm con lợn, con gà, nấu cơm,… Bình
thường, thân chủ vui vẻ, hòa đồng với mọi người trong gia đình người em trai, NCT
mong muốn có người nói chuyện, tâm sự hỏi han và có thể làm những công việc phù hợp
với sức khỏe để giảm bớt gánh nặng cho người em trai và con cháu. Tuy nhiên, với tâm
lý bất ổn của NCT, vui buồn lẫn lộn, trí nhớ kém nên đôi khi họ không đáp ứng kịp
những thay đổi trong nhu cầu của thân chủ. Do vậy, NVXH cần nắm bắt được tâm lý của
NCT để cung cấp thông tin đến những thành viên trong gia đình người em trai để có sự
nhìn nhận, hành vi phù hợp, tránh những mâu thuẫn và giúp NCT cảm thấy được hiểu,
tôn trọng, có giá trị.
2. Tiến trình trợ giúp
 Tiếp cận thân chủ
Trong quá trình gặp gỡ với cán bộ chính quyền địa phương xã ........., tìm hiểu
về cuộc sống của NCT trên địa bàn, tôi đã có dịp tiếp xúc với thân chủ Ba. Qua việc tìm
hiểu thông tin từ hồ sơ cá nhân của thân chủ, qua ban cán bộ chính quyền xã, đã giúp tôi
có những thông tin làm cơ sở ban đầu về thân chủ Ba. NVXH được Anh Hanh là cán bộ
phụ trách các vấn đề về an sinh xã hội và TBXH xã dẫn tới nơi thân chủ đang sống, được
sự giới thiệu của Anh nên việc tiếp cận thân chủ cũng dễ dàng hơn. Lần đầu tiếp xúc với
thân chủ, NCT khá dè dặt, ít nói và giữ khoảng cách với NVXH. Ngược lại, người em
dâu của thân chủ lại cới mở, trò chyện và cung cấp thông tin về NCT với NVXH. Buổi
gặp gỡ ban đầu diễn ra thuận lợi, gây dựng được niềm tin đối với thân chủ và những
người thân trong gia đình người em trai.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc tiếp cận thân chủ
+ Thuận lợi: Trong quá trình tìm hiểu cuộc sống và những vấn đề của thân chủ Ba,
NVXH đã nhận được giúp đỡ rất nhiệt tình của các cán bộ xã, người thân của thân chủ;

quyết những vấn đề gặp phải của thân chủ. NVXH xác định được điều này để kết
nối và huy động các nguồn lực trợ giúp thân chủ vượt qua khó khăn và sống cuộc
sống tốt đẹp hơn.
Yếu tố nguy cơ:
+ Việc kinh tế gia đình người em trai không đảm bảo, bản thân NCT chỉ có sự trợ
cấp hàng tháng (180.000đ) nên việc đảm bảo các bữa cơm hàng ngày có đủ chất dinh
dưỡng là một điều khó khăn đối với những người thân của NCT và đối với riêng thân
chủ. Vì vậy, sức khỏe của thân chủ không được đảm bảo, các nguy cơ về bệnh tật có
nguy cơ gia tăng và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của thân chủ nói riêng và của
những người thân nói chung.
+ Việc hạn chế trong nhận thức, không tham gia vào hoạt động lao động tạo thu
nhập sẽ hạn chế các mối quan hệ xã hội của thân chủ cũng như hạn chế trong khả năng
làm việc, chân tay theo đó cũng không được linh hoạt và quan trọng đó là thân chủ phải
phụ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp xã hội.
+ Môi trường xã hội ở nơi NCT sinh sống có bộ phận người dân nhận thức chưa
đầy đủ, thái độ chưa đúng đắn về NCT, những vấn đề của họ, và việc giúp đỡ họ vượt
qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống.
+ Bản thân thân chủ hạn chế trong nhận thức và hành vi. Do đó, sống khép kín, ít
giao tiếp xã hội, các kỹ năng tự phục vụ còn kém, không tham gia vào các tổ chức, nhóm,
đời sống tinh thần đơn điệu, quẩn quanh.
 Những yếu tố này rất dễ làm thân chủ rơi vào trạng thái lo lắng, tự ti, sợ
hãi, tổn thương về mặt tâm lý và sức khỏe thể chất yếu.
Yếu tố rào cản:
19


+ Bản thân thân chủ không hiểu được chính những vấn đề của mình, không có sự tự
quyết định.
+ Gia đình: mỗi người anh, chị em trong gia đình của thân chủ đều có cuộc sống gia
đình riêng. Do vậy họ phải lo toan cho tổ ấm riêng của mình. Hơn nữa, kinh tế hạn hẹp

đời. Thân chủ là người con thứ 4 trong gia đình, trên có hai người chị gái và bên dưới có
1 người em trai. Trong 6 anh, chị em thân chủ là người duy nhất không lập gia đình
nhưng hiện tại NCT sống cùng gia đình người em trai út. Năm nay thân chủ Ba đã 68
tuổi, tuy tuổi chưa phải đã cao nhưng NCT đã mắc phải nhiều căn bệnh của tuổi già, sức
khỏe thể chất và tâm thân của thân chủ kém. Thân chủ thường hay cảm thấy choáng
20


váng, đau đầu, đau mỏi chân tay, cùng với trí nhớ kém, tinh thần bất ổn, hay lo lắng, cáu
giận, vui buồn thất thường nên NCT không làm được việc gì. Điều này đã ảnh hưởng xấu
đến việc thân chủ có một công việc tạo thu nhập, gia tăng gánh nặng cho gia đình và
những người thân của thân chủ Ba. Bên cạnh đó, NCT còn gặp những vấn đề khác trog
cuộc sống: Gặp khó khăn trong việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, mối quan
hệ với những người thân trong gia đình; các kỹ năng tự phục vụ đôi khi còn yếu; tính
cách thất thường của NCT làm cho thân chủ trở nên khó tính, khiến con cháu không thể
đáp ứng kịp những thay đổi trong mong muốn và nhu cầu của thân chủ. Hiện tại thân chủ
gặp một số vấn đề về kinh tế, sức khỏe, về các mối quan hệ trong xã hội và gia đình. Do
đó, NVXH cần nhận diện vấn đề và đưa ra giải pháp để khắc phục một trong những giải
pháp đó.
- Thông tin về gia đình, về những người anh, chị ruột và về các thành viên trong
gia đình người em trai út – những người gần gũi nhất với thân chủ:
Thân chủ Ba là trường hợp NCT duy nhất trên địa bàn xã. Thân chủ không có
chồng và không có con. Những người anh, chị em của thân chủ đều lấy chồng, lấy vợ và
sinh con. Người nào cũng đều có tới 3 đến 6 người con và họ cũng lập gia đình. Vì thế,
những người thân của thân chủ rất đông con cháu. Tuy nhiên, nghề nghiệp chủ yếu của
họ là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với tăng gia trồng trọt và chăn nuôi ở phạm vi gia
đình, nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, chỉ đủ để trang trải cho những nhu cầu hàng
ngày. Hiện NCT đang sống cùng với người em trai út, đây được coi như sự trợ giúp duy
nhất đối với NCT. Song, gia đình người em trai thuộc diện hộ nghèo, lại đông con cháu
(5 người con) nên những sự trợ giúp đó cũng rất hạn chế. Gia đình người em trai út có 2

điều kiện cho những người bất hạnh, không chồng, không con, giở hơi trong xã hội.
+ Những người xung quanh, hàng xóm láng giềng: Thân chủ là người khép kín, ít
giao tiếp với mọi người nên không có quan hệ thân thiết với hàng xóm láng giềng. Vì
thế, những người hàng xóm đôi khi cũng e ngại, không nói chuyện với NCT. Từ đó, mối
quan hệ ngày càng nới lỏng ra. Một số người hàng xóm vì bận công việc gia đình, công
việc đồng áng nên ít khi hỏi thăm thân chủ. Nhưng bên cạnh đó, cũng có một số người
hàng xóm cho rằng việc chăm sóc là của những người thân trong gia đình, không phải
việc của họ, họ không có trách nhiệm với người vừa già vừa lẩm cẩm như thân chủ.

Quá trình tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đó
đã giúp cho NVXH có cái nhìn khách quan, khái quát và sâu sắc về những vấn
đề gặp phải của thân chủ. Từ đó, thông qua những thông tin thu thập được từ các
đối tượng đó, NVXH căn cứ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tác nghiệp, huy
động các nguồn lực, tìm cách phát huy những điểm mạnh, thuận lợi, cũng như
hạn chế những điểm yếu, tiêu cực của thân chủ, của các yếu tố khác tác động
đến thân chủ.
 Đánh giá, chuẩn đoán
Từ quá trình phân tích và tìm hiểu vấn đề của thân chủ, tôi nhận thấy để trợ giúp
cho thân chủ cần phải có sự tác động từ nhiều phía: (1) các cấp chính quyền xã; (2) gia
đình người em trai; (3) bản thân thân chủ; (4) các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn;
(5) những người dân trong cộng đồng, hàng xóm láng giềng của thân chủ. Các nguồn lực
này sẽ phối hợp hoạt động, có những chương trình cụ thể để có những biện pháp khắc
phục những vấn đề gặp phải của thân chủ một cách hiệu quả.
 Lập kế hoạch trợ giúp
Trong quá trình xây dựng kế hoạch, NVXH cùng thân chủ xác định các mục đích,
nhiệm vụ và nội dung của bản kế hoạch, các yếu tố, vấn đề cần khắc phục và tìm biện
pháp giải quyết.
BẢNG KẾ HOẠCH CỤ THỂ
Đối
tượng tác

sự hỗ trợ của các yếu quyền địa phương, các tổ chức, nhóm, các
tố bên ngoài cho TC chương trình, hàng xóm,…)
- Thu thập thêm thông tin về tính
cách của thân chủ, biểu hiện của thân chủ
trong sinh hoạt hàng ngày.
- Gia đình thân chủ có cái nhìn toàn
Gia
- Trò chuyện
diện về vấn đề của thân chủ, đề xuất những
đình
giải pháp hiệu quả để khắc phục vấn đề của
- Tham vấn
thân chủ.
- NVXH và gia đình có sự nhất quán
cao và sự phối hợp tốt trong kế hoạch trị
- Thỏa thuận
liệu cho thân chủ.
- Hỗ trợ, cung
- Tham mưu với các cấp chính quyền
Chính
cấp, thỏa thuận.
địa phương, tổ chức xã hội các phương án
quyền địa
hỗ trợ cho NCT về đời sống tinh thần và
phương
vật chất (tạo việc làm: trông trẻ, làm nghề
- Tổ
thủ công,…; khuyến khích NCT tham gia
chức xã
vào câu lạc bộ, nhóm để sinh hoạt,…)

Trợ giúp là hoạt động nhằm mang tới cho người được trợ giúp những cơ sở để khắc
phục những vấn đề họ đang gặp phải.
Trong CTXH cá nhân: trợ giúp là một thuật ngữ chỉ sự tương tác giữa NVXH với
thân chủ của mình, thông qua sự tương tác ấy NVXH sẽ trợ giúp thân chủ vượt qua
những vấn đề mà họ đang phải đối mặt bằng những kĩ năng của CTXH. NVXH với vai
trò là trung gian kết nối giữa thân chủ với chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội,
các dịch vụ xã hội, người thân trong gia đình và những người xung quanh.
BẢNG KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Đối
tượng
thực hiện
Thân
chủ

Hoạt động

Đánh giá kết quả

- Anh Hanh – chính
- Biết được thông tin tổng quát về
quyền xã dẫn đến nhà giới thân chủ và vấn đề của thân chủ (đã
thiệu. NVXH trò chuyện trình NCT ở phần trên)
với thân chủ và bước đầu
- Hiểu và đánh giá đúng hoàn
làm quen.
cảnh gia đình, hoàn cảnh của thân chủ.
- Bước đầu được thân chủ chấp
- Thu thập thông tin nhận nhưng thân chủ vấn tỏ ra rụt rè, e
về thân chủ từ nhiều ngại với sự có mặt của NVXH.
nguồn thông tin khác

chi hội NCT thôn

chân. NCT thường khó ngủ và ngủ ít,
đêm ngủ trằn trọc. NCT không làm
ruộng được 10 năm rồi, bây giờ NCT
chỉ làm một số công việc nhẹ nhàng
như: quét sân, trông cháu, nấu bữa cơm,
chăm con gà, con lợn,… NCT cũng
thường hay quên, trí nhớ không còn
được minh mẫn nữa. (Bà vẫn hay gọi
tôi là Hà)
+ Đôi khi thân chủ cảm thấy lo
lắng, suy nghĩ về cuộc đời của mình,
không có chồng con trông cậy lúc ốm
đau, phải nhờ cậy vào gia đình người
em trai làm NCT cũng không khỏi
phiền lòng.
+ Thân chủ mong muốn NCT có
sức khỏe tốt để làm việc tạo thu nhập,
không phải phụ thuộc vào số trợ cấp
hàng tháng, và gia đình người em trai.
+ Nhiều lúc thân chủ cảm thấy tự
ti, mặc cảm về bản thân, nên hạn chế và
không đủ tự tin tham gia vào các hoạt
động của địa phương.
+ TC thích được ở bên các cháu,
được trò chuyện, hỏi han.

Bước đầu tâm lý
của thân chủ được cải thiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status