LỜI CẢM ƠN!
Được học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội là
vinh dự lớn đối với chúng tôi. Theo học ngành Công tác xã hội trong trường Đại
Học Sư Phạm Hà Nội là một lựa chọn đúng đắn. Trong quá trình học tập trên
lớp chúng tôi được thầy cô trong khoa tận tình dạy dỗ và chỉ bảo.Ngoài việc học
trên lớp chúng tôi được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa và trong từng hoạt
động thầy cô luôn bên cạnh ủng hộ chúng tôi. Trong thời gian vừa qua chúng tôi
tham gia hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học do trường Đại Học Sư Phạm
Hà Nội phát động và thầy cô trên khoa đã triển khai tới sinh viên . Là sinh viên
năm thứ 3 và nhận thấy sự cần thiết cũng như lợi ích khi tham gia nghiên cứu
khoa học, nhóm sinh viên chúng tôi là Nguyễn Thị Ngái – Vũ Thị Xuân Nhất đã
đăng kí tham gia nghiên cứu khoa học với tên đề tài “Áp dụng phương pháp
công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người già bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS”(điển cứu trường hợp tại huyện Gia Lâm – Hà Nội).
Để hoàn thành bài nghiên cứu này chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn ,
chỉ bảo nhiệt tình của quý thầy cô khoa Công tác xã hội.
Lời đầu tiên chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô Khoa
Công Tác Xã Hội và đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.S. Nguyễn Lê Hoài
Anh là người đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian làm đề tài
nghiên cứu.
Trong quá trình xuống địa bàn nghiên cứu chúng tôi nhận được sự giúp
đỡ của các cán bộ y tế công tác tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm và các cán bộ
công tác tại trạm y tế xã Yên Viên trong việc tìm kiếm số liệu cũng như quá
trình tiếp cận thân chủ.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các vị cán bộ y tế huyện Gia
Lâm và trạm y tế xã Yên Viên
Đồng thời chúng tôi gửi lời cảm ơn tới 3 thân chủ mà chúng tôi đã chọn
để điển cứu trường hợp trong đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trường Đại Học Sư Phạm Hà
Nội đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập và rèn luyện trong một môi trường
mô phạm
một nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ HIV/AIDS nhưng rất ít được
quan tâm đó là người già. Họ là những người không bị nhiễm HIV/AIDS
nhưng có nguy cơ cao bị lây nhiễm bởi họ chung sống và chăm sóc người có
HIV/AIDS.Họ bị kì thị, phân biệt đối xử ,xa lánh . Ở lứa tuổi người già cần
phải được chăm sóc , nuôi dưỡng , giải trí…Tuy nhiên đối với những người già
bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS họ không có được các quyền đó, vì họ có con,
cháu hoặc cả con cả cháu nhiễm HIV/AIDS nên họ gặp nhiều khó khăn về kinh
tế, kỹ năng chăm sóc người có HIV/AIDS, nhiều mặc cảm, tự ti, sức khỏe yếu.
2
Họ không những không có khả năng tạo ra kinh tế mà lại phải chi trả các khoản
tiền trong gia đình.
“Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên
nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội(cá
nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải , cải thiện hoàn cảnh, vươn
lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững”(Trích trang 41/Gíao trình
nhập môn công tác xã hội, Th.S. Nguyễn Duy Nhiên, 2008).
Nhận thấy tính cấp thiếp của vấn đề trong cuộc sống hiện nay. Bên cạnh
đó bản thân chúng tôi là sinh viên đang theo học chuyên ngành Công tác xã hội
chúng tôi đã lựa chọn đ ề tài “ Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân
trong việc trợ giúp người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” (qua điển cứu trường
hợp ở huyện Gia Lâm- Hà Nội ) để thấy được thực trạng người già bị ảnh
2.
hưởng bởi HIV/AIDS, những vấn đề mà họ gặp phải để từ đó đề xuất biện pháp
trợ giúp.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề người già với HIV/AIDS đã được quan tâm , nghiên cứu rất nhiều
mặc dù thực tế rằng những người đàn ông lớn tuổi và phụ nữ
tiếp tục tham gia vào quan hệ tình dục vào tuổi già. Tuy nhiên,
sự hiểu biết của họ về tính chất, nguyên nhân và lây truyền HIV
có thể bị giới hạn, vì họ ít khi được tiếp cận với thông tin về nó,
và các chiến dịch nâng cao nhận thức thường nhắm vào trẻ
HelpAge International cam kết làm việc trực tiếp hỗ trợ
người cao tuổi bị ảnh hưởng bởi HIV / AIDS, và những người ủng
hộ cho sự bao gồm của những người lớn tuổi trong ứng phó với
căn bệnh này. Khi dịch bệnh đã tiến triển, HelpAge International
và các tổ chức đối tác của mình đã đưa ra một phản ứng thông
qua các chương trình kết hợp phòng, chăm sóc và hỗ trợ để đáp
ứng nhu cầu của những người lớn tuổi. Các lĩnh vực cốt lõi mà
người già cần hỗ trợ là:
• Trong vai trò là người chăm sóc cho những người sống
chung với AIDS, và cho trẻ em mồ côi và trẻ em dễ bị tổn
thương.
• Tiếp cận thông tin về nguy cơ HIV / AIDS, để họ có thể tự
bảo vệ mình và những người khác chống lại nhiễm trùng
• Hỗ trợ về tình cảm giúp người già đối phó với sự kỳ thị và
phân biệt đó là kết quả của việc sinh con hoặc cháu với HIV /
AIDS.
• Cơ chế khắc phục tâm lý để đối phó với sự căng thẳng,
bệnh tật và đau buồn.
• Điều trị và hỗ trợ cho những người già với HIV / AIDS.
4
+ Cảm thấy sự căng thẳng: người chăm sóc lớn tuổi và HIV
/ AIDS
nặng tài chính người chăm sóc. Người chăm sóc lớn tuổi cũng
5
đáp ứng các chi phí của sự sống còn của gia đình, bao gồm cả
việc cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn. Họ chịu trách nhiệm của họ
rất nghiêm túc, và thường nhận đau khổ về việc không thể cung
cấp đủ thực phẩm và quần áo, hoặc là có thể đáp ứng nhu cầu
giáo dục của trẻ em. Thậm chí nếu người chăm sóc lớn tuổi
quản lý để tìm thấy tiền học phí, họ thường không thể cung cấp
các mặt hàng thiết yếu khác như đồng phục, sách vở và chi phí
vận chuyển đến và đi từ trường. Gánh nặng tài chính lên người
già, người chăm sóc cho các cháu là, trong ngắn hạn, bao la.
+ Người lớn tuổi có nguy cơ bị nhiễm trùng
Các chiến dịch phòng chống và nhận thức về HIV/AIDS hầu
như chỉ hướng vào những người trẻ và thanh thiếu niên, mặc dù
thực tế rằng những người lớn tuổi vẫn còn hoạt động tình dục.
Phân tích các dữ liệu thu thập được trong nhiễm Uganda giữa
năm 1992 và 2002 cho thấy những người trên 50 tuổi đã tăng
4,6% của những người tham dự tư vấn xét nghiệm tự nguyện
trung tâm. Trong số này, một trong số năm đã xét nghiệm HIV
dương tính (23,9% phụ nữ và 18% nam giới). Bởi và lớn, nguy
cơ nhiễm trùng và lây lan HIV trong nhóm tuổi lớn hơn đi không
bị phát hiện và không được báo cáo. Trình độ văn hoá giữa
những người lớn tuổi là thấp, hạn chế truy cập của họ tới những
thông tin bằng văn bản có sẵn. Phụ nữ lớn tuổi người chăm sóc
tham gia vào một nghiên cứu ở Tanzania xác định các nguồn
chính của các thông tin như nhà giáo dục đồng đẳng, chăm sóc
khách nhà và các đài phát thanh. Ở Campuchia, người lớn tuổi
sóc y tế, và quần áo cho trẻ em để giúp họ ở lại trường. Các tình
nguyện viên cũng giúp những công việc thực tế, và cung cấp hỗ
trợ tinh thần. Các tình nguyện viên cũng nâng cao nhận thức về
HIV/AIDS, và làm việc để giảm kỳ thị liên kết với nó.
Kinh nghiệm HelpAge International cho thấy rằng, một khi
những người lớn tuổi đều được thông báo và đưa vào các dự án
phòng chống HIV/AIDS, họ đều mong muốn là một phần của nỗ
lực để cứu gia đình và cộng đồng của họ. Các chương trình đào
tạo và hỗ trợ người lớn tuổi là 'nghe' và 'tư vấn' được chứng
minh có hiệu quả. Trong Juba, Sudan, HelpAge International đã
phát triển và củng cố một hệ thống tuyên truyền của ủy ban
nhân dân lớn tuổi, quảng bá sức khỏe và nhân viên xã hội, đảm
bảo rằng dễ bị tổn thương nhất được xác định và được hỗ trợ.
Tận dụng những kỹ năng quan trọng và tình trạng của những
người lớn tuổi, chương trình cung cấp cho họ những công cụ để
7
trở thành nhà giáo dục cộng đồng, nâng cao nhận thức về
HIV/AIDS thông qua việc sản xuất các chương trình phát thanh,
phim, sách và áp phích. HIV/AIDS trong các chương trình giáo
dục Nam Phi đang khuyến khích đối thoại giữa các chuyên viên
y tế thông thường và những người chữa bệnh truyền thống, làm
cho nó dễ dàng hơn cho những người lớn tuổi để có được các
dịch vụ y tế thích hợp.
+ Bảo trợ xã hội cho người dễ bị tổn thương nhất
Để nhắm mục tiêu can thiệp thành công tại hộ gia đình ,
điều quan trọng là nhìn vào các nguồn tài nguyên mà họ có, và
cung cấp cho họ với sự hỗ trợ tài chính đầy đủ. Một số quốc gia
thiết lập các doanh nghiệp nhỏ, bao gồm cả buôn bán động vật
nhỏ, quần áo cũ, truyền thống bia làm và sản xuất các loại thực
phẩm địa phương. Ban tín dụng phân bổ kinh phí cho các dự án
có lợi cho cộng đồng. Tiền lãi trên số tiền được sử dụng để hỗ
trợ các hộ gia đình lớn tuổi hơn và dễ bị tổn thương nhất của
cộng đồng. Hầu hết các người chăm sóc người cao tuổi nhận
được tiền mua vật học cho trẻ em mồ côi và thực phẩm cơ bản
và quần áo cho các hộ gia đình, và trả tiền bệnh viện hoặc điều
trị chi phí.
Phần kết luận
Để tóm tắt, những người lớn tuổi bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS cần sự hỗ trợ có mục tiêu sau đây:
• Hỗ trợ về tình cảm để giúp một đứa trẻ đối phó với cái
chết của cha mẹ
• Để đối phó với nỗi đau của riêng mình với cái chết của
con trai, con gái hay con cháu của họ
•Hỗ trợ để tránh bị cô lập.
-
Giáo dục về HIV/AIDS
• Về cách lây truyền HIV và ngăn chặn
• Nhận biết các triệu chứng của HIV trong một thành viên
gia đình
• Làm thế nào để chăm sóc cho một thành viên trong gia
đình với HIV (bao gồm điều trị nhiễm trùng thông thường)
• Truy cập cho các nhóm và các dịch vụ hỗ trợ HIV/AIDS.
Hỗ trợ kinh tế
trong độ tuổi 55-59, và 3,9% trong số những người ở độ tuổi 60
và hơn.
+ Những người chăm sóc
HIV/AIDS làm thay đổi cấu trúc gia đình: khi con cái trưởng
thành của họ chết người cũ một lần nữa trở thành người đứng
đầu của các hộ gia đình, chăm sóc cho trẻ em mồ côi. Số ông
bà chăm sóc cho trẻ em mồ côi AIDS ở các nước đang phát triển
đã tăng gấp đôi trong mười năm qua và lên đến một nửa của
thế giới 15 triệu trẻ em mồ côi AIDS đang được chăm sóc bởi
10
một ông bà. Đa số những người chăm sóc lớn tuổi là những
người phụ nữ phải đối mặt với căng thẳng tài chính, vật chất và
tinh thần nghiêm trọng do trách nhiệm chăm sóc muộn màng
của họ.
WHO khuyến nghị để giảm thiểu tác động của HIV/AIDS đối
với người lớn tuổi là:
• Cung cấp hỗ trợ cụ thể cho những người lớn tuổi hơn (ví
dụ như lương hưu xã hội)
• Dịch vụ y tế và các nhà cung cấp HIV/AIDS đào tạo về
các vấn đề gerontological
• Cung cấp hỗ trợ tâm lý và y tế cho người cao tuổi sống
chung với các thành viên trong gia đình bị bệnh
• Bao gồm cả những người lớn tuổi trong các chương trình
giáo dục / đào tạo HIV/AIDS.
(Nguồn:Link: />Ở Việt Nam đã có nhiều dự án, đề tài nghiên cứu về HIV/AIDS:
- “Tình hình các gia đình và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt
Nam”. Tài liệu được công bố vào tháng 4/2005. Tài liệu được xây dựng, thực
nguyên nhân và những thách thức mà họ gặp phải để từ đó áp dụng phương
pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người già bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS tại huyện Gia Lâm- Hà Nội
4. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng tình hình người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hiện
nay ở huyện Gia Lâm- Hà Nội với những vấn đề , thách thức mà họ đang gặp
phải; xác định nguyên nhân, hậu quả của những vấn đề đó để áp dụng phương
pháp công tác xã hội cá nhân trong việc điển cứu trợ giúp trường hợp người già
bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại huyện Gia Lâm - Hà Nội.
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng quan tình hình người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam.
- Tìm hiểu thực trạng HIV/AIDS hiện nay ở huyện Gia Lâm- Hà Nội
- Tìm hiểu thực trạng người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hiện nay ở
huyện Gia Lâm- Hà Nội
- Tìm hiểu vấn đề người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở huyện Gia
Lâm- Hà Nội đang gặp phải trong cuộc sống của mình.
- Phân tích những nguyên nhân, hậu quả của những vấn đề mà người già
bị ảnh hưởng bởi HIV gặp phải tại huyện Gia Lâm – Hà Nội.
- Tìm hiểu nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của người già bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS ở huyện Gia Lâm- Hà Nội
12
- Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc điển cứu trợ
giúp 3 trường hợp người già bị ảnh hưởng bởi HIV tại huyện Gia Lâm – Hà Nội.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Tình hình người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ngày càng nghiêm trọng
- Người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đang gặp rất nhiều khó khăn về
13
-
-
-
-
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin cơ bản sau:
Phương pháp quan sát: quan sát điều kiện sinh hoạt, đời sống của những người
già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại gia đình và tại cộng đồng, quan sát thái độ
của những người xung quanh họ.
Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài như
báo cáo của địa phương(báo cáo tổng kết năm, các số liệu thống kê về kinh tế,
văn hóa xã hội, y tế của các xã trong huyện đã lựa chọn…), các nghiên cứu, các
đề tài, các bài viết, các bài báo, tạp chí liên quan về những người già bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS, các văn bản, nghị định của chính phủ, các chương trình
hỗ trợ chính sách lien quan tới những người già bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu 05 khách thể nghiên cứu:
+ Bác sĩ Tiến công tác tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm
Mục đích: tìm hiểu tình hình HIV/AIDS trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà
Nội, công tác quản lý, phòng chống lây truyền HIV/AIDS tại huyện Gia Lâm –
Hà Nội.
+ Y tá Đinh Gia Lợi công tác tại trạm y tế xã Yên Viên huyện Gia Lâm –
Hà Nội
Mục đích: tìm hiểu tình hình HIV/AIDS, công tác quản lý, phòng chống
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1
Các khái niệm công cụ sử dụng trong đề tài nghiên cứu
1.1.1 Người già
+ Khái niệm người già(hay còn gọi là người cao tuổi)
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người già. Trước đây, người ta
thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi , hiện nay “ người
cao tuổi” ngày càng sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau
về mặt khoa học song về mặt tâm lý, “ người cao tuổi “ là thuật ngữ mang tính
tích cực về thể hiện thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học : người già là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với việc suy giảm các chức năng cơ thể.
Về mặt pháp luật : Luật người cao tuổi(NCT) Việt Nam năm 2000 quy
định người cao tuổi là “ tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên “.
Theo WHO : Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên.
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ…lại quy định NCT là những
người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác
nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau.
Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của
15
-
-
hệ miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các vi rút, vi khuẩn và nấm
gây bệnh. Do đó cơ thể bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình
thường có thể đề kháng được.
AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên,
mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tùy theo loại bệnh
nhiễm trùng cơ hội và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người.
16
1.1.3
Một người nhiễm HIV được gọi là HIV+ ( HIV dương tính hoặc huyết
thanh dương tính), đôi khi cũng được gọi là PWH( person With HIV).Người
không nhiễm được gọi là HIV-( HIV âm tính hoặc huyết thanh âm tính). Trong
những năm gần đây thuật ngữ có tính lạc quan và tính kỳ thị hơn “ người sống
chung với HIV/AIDS” được các nhóm hoạt động chống AIDS và cả những
người mắc AIDS thích dùng.
Nhiễm HIV nguyên phát được gọi là chuyển đổi huyết thanh và đi kèm
với nó là “bệnh chuyển đổi huyết thanh “. Triệu chứng của bệnh chuyển đổi
huyết thanh bao gồm các biểu hiện giống cúm như: sốt đau cơ khớp, đau họng
và nổi hạch, nhưng cũng có thể có những triệu chứng khác như phát ban. Không
phải ai có chuyển đổi huyết thanh đều trải qua bệnh chuyển đổi huyết thanh và
cũng có những người không biểu hiện triệu chứng gì ở trong giai đoạn này.
Người mới nhiễm có khả năng gây nhiễm cao nhất ở giai đoạn bệnh chuyển đổi
huyết thanh vì khi đó lượng vi rút trong máu cao nhất.
Dù có hay không các triệu chứng ban đầu, tất cả người mới nhiễm đều trải
qua giai đoạn không biểu hiện triệu chứng. Vào giai đoạn này, vi rút tiếp tục
tăng sinh nhanh chóng và không bị kiểm soát vì cơ thể chưa tạo đủ kháng thể
chống vi rút để đạt tới trạng thái cân bằng.
Trong giai đoạn không triệu chứng, hàng tỉ hạt HIV được sản sinh mỗi
ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các
kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề nội tâm, quan hệ
giữa các cá nhân kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ “ mặt
đối mặt”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh(1998), công tác xã hội cá nhân được định
nghĩa rất ngắn gọn và tập trung vào can thiệp những vấn đề nhân cách của đối
tượng: “ Công tác xã hội cá nhân là một biện pháp can thiệp quan tâm đến
những vấn đề về nhân cách mà một đối tượng cảm nghiệm”
Như vậy có thể khái quát ông tác xã hội cá nhân là phương pháp của công
tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ
cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình.Trong tiến trình này,
nhân viên xã hội cần biết vân dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý, xã hội học
và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo
đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản
thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai
1.1.5. Khái niệm nghiên cứu/điển cứu trường hợp
Nghiên cứu điển hình hay điển cứu tức nghiên cứu dựa trên những trường
hợp(còn gọi là“ca”, tiếng Anh là “case”)đặc trưng mang tính là một phương pháp
được sử dụng rất phổ biến trong các ngành giáo dục học, xã hội học, quản trị học,
luật học và y học. Mục tiêu cơ bản của phương pháp này là tìm hiểu rõ về trường
hợp nghiên cứu bằng cách theo dõi sát sao và toàn diện trường hợp đã chọn trong
một thời gian đủ dài và ngay tại môi trường tự nhiên của nó.Kết quả nghiên cứu
điển hình cho phép nhà nghiên cứu đưa ra lời giải thích tại sao mọi việc xảy ra như
18
1.2
đã xảy ra và thông qua đó xác định các vấn đề quan trọng cần được tiếp tục nghiên
cứu rộng rãi hơn trong tương lai(trích từ bloganhvu.blogspot.com)
+ Kết quả giám sát trọng điểm năm 2013
Hệ thống giám sát trọng điểm (GSTĐ) HIV được triển khai từ năm 1994 tại 10
tỉnh/thành phố. Hệ thống này đã được mở rộng, tới năm 2013 có 41 tỉnh/thành phố tham
gia. Chương trình GSTĐ được thực hiện trên nhóm phụ nữ bán dâm (PNBD), người tiêm
chích ma túy (TCMT), nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), bệnh nhân nam mắc STI,
bệnh nhân lao, phụ nữ mang thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự.
* Nhóm nghiện chích ma túy:
20
Chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm dần qua các năm. Tỷ lệ
nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT tại khu vực miền Bắc có xu hướng giảm dần qua
các năm nhưng vẫn cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn quốc.
* Nhóm phụ nữ bán dâm
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm năm 2013 là 2,6% (giảm 0,1%
so với năm 2012). Tỷ lệ này tại khu vực miền Bắc mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn ở
mức cao so với tỷ lệ chung của toàn quốc. Phân tích chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm
phụ nữ bán dâm qua các năm cho thấy tỷ lệ tăng lên nhanh chóng từ 0,6% năm 1994 lên
5,9% năm 2012. Trong giai đoạn 2002 đến 2010, tỷ lệ có sự biến động không ổn định, tuy
nhiên trong 3 năm trở lại đây, tỷ lệ này có xu hướng giảm dần.
* Nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM)
Kể từ năm 2011 nhóm MSM chính thức được đưa vào là một trong những
nhóm giám sát trọng điểm HIV hàng năm và được triển khai tại 9 tỉnh/thành phố tập
trung nhiều MSM đang cư trú trên địa bàn bao gồm các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Hải
Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và
Kiên Giang.
HIV/AIDS nhưng họ lại có con, cháu nhiễm HIV/AIDS và phải chăm sóc, sống
cùng con, cháu của họ. Có thể họ bị kỳ thị, phân biệt đối xử, bị xa lánh hay phải
lao động để kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình.
1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
22
Huyện Gia Lâm nằm ở phía đông của thủ đô Hà Nội. Phía Bắc của huyện
là quận Long Biên; phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ là
huyện Thanh Trì và quận Hoàng Mai; phía Đông Bắc và Đông giáp với các
huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp với
huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên.
Diện tích: 114,79 km2
Dân số: 243.957 người(2011).
Huyện Gia Lâm ngày nay gồm 20 xã, 2 thị trấn. Đó là các xã: Bát
Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, Đa Tốn, Đình
Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù
Đổng, Phú Thị, Trung Mầu, Yên Viên, Yên Thường, Văn Đức và hai thị trấn:
Yên Viên, Trâu Qùy.
Trụ sở cơ quan lãnh đạo huyện đóng tại thị trấn Trâu Quỳ.
Trên địa bàn huyện có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm
thương mại được hình thành; nhiều làng nghề nổi tiếng, thu hút đông khách thập
phương trong và ngoài nước như làng gốm sứ Bát Tràng, dát vàng, may da Kiêu
Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang. Đây chính là động lực và tiềm năng to lớn
để phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưu hàng hóa
hiện nay và trong tương lai.
(gialam.gov.vn/gialam).
23
- Tính đến hết tháng 11/2013 đã phát hiện được: 1190 trường hợp. Trong
đó có 884 trường hợp được quản lý có địa chỉ rõ ràng chiếm 80%.
- Số trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS tính đền tháng 11/2013 là:
448 bệnh nhân.
- Số người tử vong do HIV/AIDS tính đến tháng 11/2013 là: 296 người.
- Nhiều người hiễm HIV/AIDS được khám sức khỏe và cấp thuốc điều trị
nhiễm trùng cơ hội miễn phí, tổng số người nhiễm được khám sức khỏe và cấp
thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội là: 245 lượt.
- Hàng tháng khám và cấp thuốc điều trị ARV miễn phí cho bệnh nhân
AIDS, hiện tại có 102 trường hợp AIDS còn sống đang nhận thuốc ARV tại PKNT.
Năm 2014:
- Tính đến hết tháng 10/2014 đã phát hiện được 1204 trường hợp. Trong
đó có 969 trường hợp được quản lý có địa chỉ rõ ràng chiếm 80%.
- Số trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS tính đến tháng 10/2014 là
441 bệnh nhân.
- Số người tử vong do HIV/AIDS tính đến tháng 10/2014 là 352 người.
24
2.2
- Nhiều người nhiễm HIV/AIDS được khám sức khỏe và cấp thuốc điều
trị nhiễm trùng cơ hội miễn phí, tổng số người nhiễm được khám sức khỏe và
cấp thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội là: 216 lượt.
- Hàng tháng khám và cấp thuốc điều trị ARV miễn phí cho bệnh nhân
Đôi lúc nghĩ về tương lai của 2 mẹ con, thương mình cũng có, nhưng
thương con thì nhiều lắm, bà không cho con trai lấy vợ vì sợ lại lây sang con
25