Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 42

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

Lấ VN TH

Lấ VN TH

các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo

các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo

phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay

phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay

Chuyờn ngnh : Xõy dng ng Cng sn Vit Nam
Mó s

LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR

: 62 31 23 01

LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR

Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS. TS. NGễ HUY TIP
2. TS. LM QUC TUN

H NI - 2015

H NI - 2015


PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ
YẾU VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Văn Thư

2.1. Khái quát về các tỉnh đồng bằng sông Hồng và phát triển văn hoá - xã hội
ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
2.2. Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội
hiện nay - khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo

17
17
54

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ CÁC
TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN
HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM

3.1. Thực trạng phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
hiện nay
3.2. Các tỉnh uỷ đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội,
thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

71
71
101

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG

168


1
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

BCHTW

: Ban Chấp hành Trung ương

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

xã hội như kinh tế, quốc phòng, an ninh,… lãnh đạo văn hóa - xã hội là vấn đề được

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

đặt ra từ rất sớm, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo sự nghiệp

ĐBSH

: Đồng bằng sông Hồng

cách mạng giải phóng dân tộc.

Là khu vực kinh tế - xã hội trọng điểm, các tỉnh đồng bằng sông Hồng

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

(ĐBSH) rất giàu tiềm năng, thế mạnh để phát triển về mọi mặt, không chỉ của vùng,

nghĩa xã hội ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng
đối với phát triển văn hóa - xã hội là đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa chính trị quan
trọng, quyết định đối với sự phát triển văn hóa - xã hội của đất nước, nhằm thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

mà còn là động lực và cực tăng trưởng cho toàn miền Bắc và cả nước. Dự báo đến
năm 2020, khu vực các tỉnh ĐBSH, một mặt phải bảo đảm an ninh lương thực cho
vùng, và theo quy hoach, cùng với đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo an ninh
lương thực cho cả nước. Mặt khác, các tỉnh ĐBSH sẽ tiếp tục chuyển đổi hàng chục
vạn ha đất nông nghiệp mầu mỡ sang mục đích sử dụng khác; lúc đó diện tích đô
thị, công nghiệp, thương mại - dịch vụ trên địa bàn sẽ chiếm tỷ lệ khá lớn diện tích
tự nhiên của các tỉnh trong vùng. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Hồng tất yếu sẽ tạo ra những biến đổi
căn bản ở một vùng nông thôn rộng lớn, từ một vùng kinh tế lấy sản xuất nông
nghiệp, ở nông thôn, do người nông thực hiện là chủ yếu, sẽ chuyển dần sang nền
kinh tế nông nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, phát triển nhanh các
thành phố công nghiệp, thương mại - dịch vụ thuộc tỉnh. Để thích ứng với sự phát
triển khách quan đó, thực tiễn đang đặt ra cho các đảng bộ, chính quyền các tỉnh
ĐBSH những nhiệm vụ to lớn phải giải quyết là nâng cao chất lượng giáo dục - đào
tạo, phát triển khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, xóa đói giảm nghèo và bài trừ các tệ nạn xã hội… Nếu không



2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

dục, khoa học - công nghệ y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội… đã đạt được

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển văn hóa - xã hội và

những kết quả rất quan trọng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của

những vấn đề có liên quan đến phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng

nhân dân.

sông Hồng giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội
vẫn còn những mặt yếu kém, khuyết điểm đang đặt ra cần phải giải quyết, như

- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò lãnh đạo của các tỉnh ủy
đối với phát văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay.

kinh tế có bước phát triển nhanh và mạnh, nhưng văn hoá - xã hội chưa phát triển

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển văn hóa - xã hội và sự lãnh đạo của

tương xứng, thậm chí có những bước thụt lùi như: phân hoá giàu nghèo ngày càng

các tỉnh ủy đối với phát triển văn hoa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện

lớn, gia tăng nhanh các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và tai nạn lao động; mê

Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

văn hoá - xã hội là vấn đề rất mới và rất khó, cả trên phương diện lý luận và thực

Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với

tiễn. Trước yêu cầu thực tiễn đang đặt ra, tôi chọn đề tài “Các tỉnh ủy ở đồng

phát triển văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng từ năm 2005 đến nay;

bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay”

phương hướng và những giải pháp của đề tài có giá trị đến năm 2025.

làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản

4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

Việt Nam, với mong muốn luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải

4.1. Cơ sở lý luận

pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát
triển văn hoá - xã hội hiện nay.

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về sự lãnh đạo của Đảng đối với các



hành nội bộ [49]. Đây là tài liệu quan trọng trình bày tổng thể mục tiêu phát triển

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-

văn hoá của Trung Quốc "năm năm lần thứ 11".

Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc thể hiện những tư tưởng

lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng kết thực tiễn và

cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc về đường hướng phát triển văn hoá mang

phương pháp chuyên gia.

đặc sắc Trung Quốc thời kỳ hiện nay, trong đó nhấn mạnh phát triển toàn diện, lấy

5. Những đóng góp mới của luận án

thị trường trong nước, ngoài nước làm động lực thúc đẩy các ngành văn hoá phát

- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH

triển. Văn hoá hướng vào phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân trên con đường xây

đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương đến năm 2025.
6. Ý nghĩa và thực tiễn của luận án

7. Kết cấu của luận án

văn hoá - xã hội hiện nay.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã

- Lưu Vân Sơn, Tìm tòi thực tiễn và tư duy lý luận xây dựng văn hóa xã hội

công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc [66]. Tạp chí Cộng sản Số 17 (209) năm 2010 (phát

4 chương, 9 tiết.

biểu của đồng chí Lưu Vân Sơn tại Hội thảo lần này với chủ đề "Ðẩy mạnh xây
dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" giữa Đảng
Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Quốc).


6

7

Theo tác giả, trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường XHCN, văn hóa

các nhà khoa học Viện Văn hoá và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

được thể hiện bằng hai hình thái là sự nghiệp và ngành nghề; mục đích căn bản của

Minh thực hiện. Cuốn sách bàn về một số nội dung phát triển văn hoá ở nông thôn


và bồi dưỡng nhân tài ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay.

mạo và các giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô. Vì vậy, cùng với yêu cầu

1.1.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội

phát triển kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu, xây dựng và phát triển văn hóa thủ đô,

- Khăm bay ma la sinh, Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở nông

văn hóa các làng ven đô là thực sự cấp thiết.

thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [36], tác giả luận văn đã
trình bày hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách xã hội của Đảng và Nhà
nước, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào làm cơ sở nghiên cứu vấn đề đói,
nghèo trong các gia đình ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc hiện nay. Tác giả luận văn
đã có những đánh giá khá công phu về thực trạng đói nghèo ở tỉnh Chăm Pa Sắc,
chỉ rõ quy mô, mức độ đói, nghèo và nguyên nhân đói, nghèo của địa phương. Tác
giả luận văn đưa ra một số kiến nghị về chính sách và các giải pháp xoá đói, giảm
nghèo cho địa phương. Kết quả nghiên cứu của tác giả góp một gợi ý tốt suy nghĩ
về thực trạng nghèo ở các tỉnh ĐBSH nước ta hiện nay, đồng thời góp nhận thức rõ
hơn về khái niệm phát triển xã hội ở các tỉnh ĐBSH.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

1.2.1. Những công trình nghiên cứu về văn hoá và Đảng lãnh đạo phát
triển văn hoá
1.2.1.1. Những công trình nghiên cứu về văn hoá
- Sách tham khảo, Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, PGS.TS. Lê Quý
Đức [27]. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp bộ, do tập thể


đậm đà bản sắc dân tộc.

và quan điểm chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020, tập thể tác

- Sách tham khảo, Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa một góc nhìn từ Việt Nam, GS.TS. Phạm Xuân Nam [48].
Tác giả đã đi sâu phân tích những đặc trưng, những cơ hội và thách thức; dự
báo chiều hướng phát triển của văn hóa Việt Nam đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế hiện nay, qua đó đề xuất phương châm, nguyên tắc và hệ quan

giả cho rằng, cần phải kế thừa các quan điểm chỉ đạo mà các Nghị quyết của Đảng
đã nêu, đặc biệt là các quan điểm được nêu lên trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII đồng thời phải bổ sung một số điểm mới.
- Sách tham khảo, Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Nguyễn Duy Bắc [2].

điểm định hướng cho việc thực hiện sự cam kết với tính đa dạng văn hóa, phát huy

Cuốn sách đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn

bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa văn hóa

hóa, biến đổi giá trị văn hóa. Đồng thời đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị

Việt Nam với các nền văn hóa khác trong thế giới đương đại. Nhưng mặt khác, quá

văn hóa, phát triển văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định

trình trên cũng làm nảy sinh nguy cơ ghê gớm về sự đồng nhất hóa các hệ thống giá


năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời vạch ra những mặt yếu

giá khái quát những thành tựu công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc những năm vừa

kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị để xây dựng và

qua. Do tốc độ CNH, HĐH ở Vĩnh Phúc khá nhanh, nên sớm đặt ra nhu cầu đào tạo

phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp theo. Cuốn sách tập trung nêu

nghề cho địa phương. Chính vì công tác đào tạo nghề phát triển, nên đã có nhiều

lên một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc

thanh niên, học sinh được học nghề phục vụ nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ

xây dựng con người và phát triển văn hóa trong thời gian tới.
- Đề tài khoa học cấp bộ, Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

tại địa phương. Từ thực tiễn đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc, tác giả tổng kết một số kinh
nghiệm và giải pháp. Nội dung bài báo phản ánh một góc thực trạng giáo dục đào tạo

Những vấn đề phương pháp luận (2010), PGS.TS Phạm Duy Đức [25]. Các tác giả

nghề ở Vĩnh phúc, một nội dung của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện

của đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-

nay. NCS có thể nghiên cứu, tham khảo cho phần đánh giá thực trạng của luận án.



lãnh đạo của Đảng đối với tư tưởng, lý luận và văn học - nghệ thuật.

các thời kỳ lịch sử, từ đó nhìn nhận những vấn đề xã hội hiện nay khi người dân

Những nghiên cứu của đề tài rất hữu ích cho đề tài luận án của tác giả khi

mất đất trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ hiện nay.

phải xác định rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH trong

Tác giả sách tiếp cận vấn đề xung đột xã hội dưới góc độ khoa học, chỉ ra bản

phát triển văn hoá - xã hội. Mặc dù cuốn sách nói trên nghiên cứu trê quy mô toàn

chất, vai trò, chức năng của xung đột xã hội và phương pháp giải quyết xung đột

Đảng, không nghiên cứu ở một đảng bộ địa phương nào đó của ĐBSH, song cuốn

dưới góc độ lý luận. Từ đó nghiên cứu những nảy sinh xung đột xã hội từ các

sách đã cho những gợi ý, chỉ dẫn quan trọng để tác giả luận án xác định nội dung,
phương thức các Tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay.
1.2.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội và Đảng lãnh
đạo phát triển xã hội
1.2.2.1. Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội
- Sách: Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá
nông thôn, Trần Thị Lan Hương [34]. Tác giả cuốn sách nghiên cứu phân tầng mức
sống tác động đến qúa trình phát triển văn hoá nông thôn ở các tỉnh ĐBSH vào
những năm 2000, khoảng thời gian nước ta đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh

những thành tự và hạn chế trong phát triển môi trường văn hoá ở nông thôn các tỉnh

vùng ĐBSH, vai trò của các quan hệ đó trong cộng đồng, vai trò của gia đình trong

ĐBSH hiện nay, cũng như gợi ý cho luận án nghiên cứu những giải pháp tăng

tiếp nhận các chính sách văn hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Phát triển gia

cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng địa phương trong phát triển văn hoá - xã hội

đình là một trong những nội dung quan trọng của phát triển văn hoá - xã hội các

hiện nay.

tỉnh ĐBSH hiện nay, cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt nhìn nhận sự tác động

- Sách: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp

chính sách và vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với những vấn đề xã hội

tỉnh Hà Tây cũ) của TS. Phan Tân [67]. Tác giả sách tuy không trình bày bức

không thể xem nhẹ các quan hệ gia đình, nhất là vai trò giáo dục từ trong gia đình.


12

13

Gia đình là tế bào xã hội, gia đình yên vui, hạnh phúc là nguồn nuôi dưỡng những


Nhà nước ta luôn nhất quán trong quan điểm, đường lối và chính sách xã hội, coi an

quản lý phát triển xã hội; thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát triển

sinh xã hội (ASXH) vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định xã hội và phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới - những vấn đề đặt ra; hiệu quả

bền vững đất nước. Tác giả cho rằng những chính sách của Đảng và Nhà nước được

lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số

triển khai đồng bộ trên 3 phương diện: giúp các đối tượng thụ hưởng khả năng tiếp

lĩnh vực.

cận dịch vụ công cộng; hỗ trợ phát triển sản xuất; phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội.
Sau khi khẳng định quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng về ASXH, tác
giả xem xét ASXH dưới sự tác động của tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, từ tăng
trưởng theo bề rộng chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên tăng năng
xuất lao động, phát triển khoa học công nghệ. Theo tác giả, trong điều kiện tái cấu
trúc mô hình tăng trưởng, đứng trước thách thức: một là, hệ thống chính sách
ASXH chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường; hai là, những rủi ro về
kinh tế, xã hội, môi trường trong điều kiện tái cấu trúc kinh tế và mô hình tăng
trưởng; ba là, hiện tường già hoá dân số bắt đầu xuất hiện gây áp lực lên hệ thống
an sinh xã hội; bốn là nhận thức của người dân, cơ quan quản lý, cán bộ, đảng viên
chưa đầy đủ về ASXH, một số ASXH mới nảy sinh chưa kịp giải quyết. Từ những
lý giải trên tác giả đưa ra các kiến nghị về quan điểm, về giải pháp. Nội dung bài


15

sao, những kiến giải của đề tài cũng làm sáng rõ vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong

nhiều thành tựu tốt, bền vững. Nội dung bài báo cho thấy, tác giả đã nhận thức được

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay.

vai trò lãnh đạo của đảng bộ tỉnh và của Tỉnh uỷ có tính quyết định thắng lợi xáo

- GS. TS. Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công

đói giảm nghèo ở địa phương. Tuy bài báo chưa đi sâu phân tích nội dung, phương

bằng xã hội và xoá đói, giảm nghèo [69, tr.3-7]. Tác giả bài báo khoa học đã lược

thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ, song cũng có thể thấy tác giả đã đề cập theo hướng đó

khảo những quan điểm của Đảng ta qua các đại hội nhiệm kỳ và các Hội nghị Ban

trong bài báo, đề tài luận án của NCS có thể tham khảo.

Chấp hành Trung ương xung quanh vấn đề lãnh đạo giải quyết công bằng xã hội và

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC PHẢI GIẢI QUYẾT

xoá đói, giảm nghèo, kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay. Theo tác

1.3.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài


hoá đã trở thành một lĩnh vực được đầu tư phát triển trở thành một ngành kinh tế

hội và điều kiện phát triển. Nội dung bài báo bàn về các quan điểm của Đảng trong

sản xuất các sản phẩm văn hoá để kinh doanh thương mại, nên nhấn mạnh phát

lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay, dưới góc độ công bằng xã

triển kinh tế trong văn hoá, còn vấn đề xã hội được xem xét dưới góc độ các thành

hội và xoá đói, giảm nghèo đã giúp cho tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về

tựu phát triển của chế độ chính trị, hoặc là những vấn đề chuyên môn sâu của xã hội

bản chất chính sách phát triển văn hoá - xã hội của nước ta hiện nay, và do vậy suy

học như vấn đề phân tầng xã hội, an sinh xã hội… Vấn đề mà luận án của NCS rất

nghĩ sâu hơn về phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH và sự lãnh đạo của cấp

cần tham khảo là sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền đã lãnh đạo chính trị, hoạc

uỷ địa phương thực hiện chính sách bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo

tác động chính trị vào các chính sách phát triển văn hoá - xã hội như thế nào, nhất là

ở khu vực này.

các nội dung và phương thức tác động, thì rất ít tác giả đề cập đến, ngoại trừ một


nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, các cuốn sách, bài báo khoa học viết


16

17

về phát triển văn hoá - xã hội, tiêu biểu trong số đó là nhóm các công trình nghiên

Chương 2

cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Văn hoá và phát triển thuộc Học viện chinh

CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT

trị Quốc gia Hồ Chí Minh và nhóm các tác giả của Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU

Có những tác giả đã đánh giá khá toàn diện 12 nội dung phát triển văn hoá ở Việt

VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nam trong 25 năm đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của
Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII về văn hoá, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế trên
từng nội dung, rút ra kinh nghiệm từ chủ trương lãnh đạo của Đảng, chính sách phát
triển của Nhà nước.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở trên không đi sâu nghiên cứu về sự
lãnh đạo của Đảng trong phát triển văn hoá - xã hội, không bàn về những nội dung,

hình tự nhiên này đã tạo điều kiện thuận lợi để con người khai phá và kiến tạo nên
những giá trị văn hoá - xã hội đặc sắc phục vụ nhân sinh.


18

19

Vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhiệt độ không khí trung

Các tỉnh đồng bằng sông Hồng được thừa hưởng một vùng đất mầu mỡ, do

bình năm khoảng 22,5 - 23,5°C, lượng mưa trung bình năm 1400-2000 mm, phù

hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình chảy theo hướng Tây Bắc - Đông nam ra

hợp với việc canh tác lúa nước và các cây công nghiệp ngắn ngày khác như lạc, đậu

vịnh Bắc Bộ bồi đắp mà thành, nơi đây cây trái tốt tươi, sản vật dồi dào, cư dân

tương, ngô… làm cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở vùng này khá phong phú, đa

đông đúc, thuần hậu mà can trường. Với một vùng châu thổ phì nhiêu xen lẫn núi

dạng và chất lượng tốt. Bên cạnh đó, các tỉnh ĐBSH có mạng lưới sông ngòi dày

sông hùng vĩ, nơi đây chẳng những lợi về kinh tế, mà còn dễ cho phòng thủ, thuận

đặc, đến mức không có làng quê nào không có một con sông chảy qua; sông ngòi


lục 6). Quátrình mở rộng diện tích đất nông nghiệp gắn liền với quá trình chinh

hoá - xã hội của các tỉnh ĐBSH nói trên, địa lý tự nhiên nơi đây cũng tạo ra không

phục biển thông qua sự bồi tụ của hệ thống sông và quai đê, lấn biển của nhân dân

ít những khó khăn cho sự phát triển của vùng như: hệ thống sông ngòi chằng chịt,

trong vùng.

đồng bằng xen lần đồi, núi, vùng trũng và đầm lầy đã tạo ra sự chia cắt về địa hình,

Bên cạnh tài nguyên đất nông nghiệp và nước để trồng cấy cây lương thực

gây khó khăn cho sản xuất hàng hóa nông nghiệp trên quy mô lớn. Do nằm trong

và nuôi trồng thuỷ sản, trong lòng đất của các tỉnh nơi đây cũng chứa đựng những

vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên các tỉnh ĐBSH thường xuyên chịu tác động

tài nguyên phong phú thuận lợi cho phát triển kinh tế như đất sét đen và đất sét

lớn của bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân

trắng phục vụ công nghiệp sành, sứ; than nâu với trữ lượng lớn chưa được khai

dân địa phương. Theo dự báo quốc tế, các tỉnh ven biển thuộc ĐBSH Việt Nam là

thác. Trên mặt đất có trữ lượng đá vôi lớn (ước tính chiếm gần 5% trữ lượng đá vôi


lịch. Không chỉ vậy, bờ biển trong vùng còn có các cảng biển nước sâu và cảng

trùng tu lớn và rất khó giữ những công trình đó với độ bền năm trăm năm. Sự giao

sông an toàn, thuận lợi cho giao thông thuỷ như: Cái Lân, Quảng Ninh; Lạch huyện,

thoa văn hoá giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng (khu vực được xem là “cái nôi”

Hải Phòng; Xuân Trường, Nam Định.

văn hoá dân tộc) với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, với Hà Nội, Hải Phòng


20

21

và quốc tế rất mạnh nên việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là việc hết sức khó

sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng tăng đều qua các năm, trọng điểm là công

khăn. Các tệ nạn xã hội và văn hoá xấu độc vốn phát triển mạnh ở các thành phố

nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu

lớn như Hà Nội, Hải Phòng đã lan nhanh đến các tỉnh lân cận trong vùng.

xây dựng và công nghiệp cơ khí. Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là

* Về kinh tế


Đi liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, là quá trình chuyển dịch cơ

thành các tuyến du lịch liên vùng. Các hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập

cấu lao động xã hội, từ lao động làm nông nghiệp là chủ yếu sang lao động làm

khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ của các tỉnh ĐBSH có ảnh

công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Những biến đổi lớn trong lĩnh vực kinh tế đã dẫn

hưởng lan tỏa trên phạm vi cả nước, nhất là với các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Các

tới những biến đổi mạnh mẽ về mặt văn hoá - xã hội ở các làng quê trong vùng.
Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, các tỉnh ĐBSH có diện tích và tổng sản
lượng lương thực chỉ đứng sau vùng Đồng bằng sông Cửu Long, song là các tỉnh có
trình độ thâm canh và năng suất lao động nông nghiệp thuộc loại cao so với cả
nước. Hầu hết các tỉnh ở vùng này, ngoài trồng lúa đều gieo trồng một số cây ưa
lạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà
chua và trồng hoa xen canh. Hiện nay, vụ đông đã trở thành vụ chính của một số địa
phương trong vùng. Với những kinh nghiệm của nhân dân về trồng trọt, chăn nuôi,
nhất là trồng lúa và các chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước là nhân tố
quyết định giải quyết thành công vấn đề lương thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân
trong vùng và phục vụ xuất khẩu. Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng, diện
tích trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu, chiếm khoảng 57.500 ha. Sản
lượng lương thực đạt gần 20% trong tổng sản lượng lương thực toàn quốc. Tuy vậy,

ngành kinh tế công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ trong vùng
phát triển mạnh làm cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn các tỉnh ĐBSH diễn ra nhanh chóng hơn các tỉnh khác trong cả nước. Cơ sở hạ


22

23

tỉnh ĐBSH, nhất là lãnh đạo bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã

các công cụ sản xuất; trong các sản phẩm lao động và hàng hoá; trong phương thức

hội; lãnh đạo phòng, chống các tệ nạn văn hoá - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự và

sản xuất; trong các thể chế chính trị, xã hội; trong phong tục tập quán và quan hệ

an toàn xã hội. Sự chuyển đổi mô hình kinh tế, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế

giao tiếp giữa người với người; trong trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật và công

về nhiều mặt đã tạo nên sự đứt gãy các giá trị văn hoá: giữa truyền thống và hiện

nghệ; trong sáng tạo và thưởng thức văn học, nghệ thuật. Có thể nói văn hóa là

đại, giữa giữ gìn bản sắc và hội nhập. Quan niệm về các chuẩn giá trị trong xã hội

"thiên nhiên thứ hai" do con người tạo ra để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển

cũng có nhiều thay đổi, cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế.

của chính con người.

2.1.2. Văn hoá - xã hội và những đặc điểm văn hóa - xã hội các tỉnh đồng


và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn

Bản chất của văn hóa chính là lao động sáng tạo nhằm cải tạo thế giới khách

giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về

quan để hướng tới các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Thông

mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát

qua lao động sáng tạo mà loài người đã tạo nên những thành tựu vật chất và tinh

minh đó tức là văn hóa. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức

thần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của loài người. Trong tác phẩm “Tác dụng của

sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm

lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, Ph.Ăngghen nhận xét:

thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn [46, tr.431].

Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi

Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, ông Mayor (F.Mayor) đưa ra một khái

của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái

niệm về văn hoá vừa có tính khái quát, vừa có tính đặc thù: "Văn hoá bao gồm tất


lao động và đấu tranh của con người. Văn hoá thể hiện sống động và cụ thể trong

ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng


24

25

cách đó của các cơ, của các gân và sau những khoảng thời gian dài hơn, của

là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người trong xã hội, những sản phẩm văn

cả xương nữa và cuối cùng, nhờ luôn luôn áp dụng lại sự tinh luyện thừa

hoá, đến lượt nó cấu thành xã hội có văn hoá. Trong mối quan hệ với chính trị,

hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, mà bàn

chừng nào xã hội còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, thì văn hoá trong xã hội có giai

tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, như

cấp cũng có tính giai cấp. Văn hoá của giai cấp thống trị (thuộc về một hình thái

một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho

kinh tế xã hội nào đó), sẽ là văn hoá đặc trưng cho xã hội đó. Những giá trị văn hoá


3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân

"Đàn vượn chỉ biết ăn hết sạch lương thực sẵn có trong khu vực mà điều kiện địa lý

dân trong xã hội.

hoặc là sự kháng cự của đàn vượn bên cạnh đã hạn định cho chúng" [45, tr.647].

4- Xây dựng chính trị: dân quyền

Điều đó có nghĩa là loài vượn không tự tạo ra thức ăn (như chăn nuôi hay trồng trọt)

5- Xây dựng kinh tế [46, tr.431].

mà chỉ ăn những thức ăn sẵn có trong tự nhiên. Từ đó Ph.Ăngghen rút ra nhận định

Nền văn hoá đó, theo tư tưởng của Người, văn hoá phải soi đường cho quốc

quan trọng: "Nhưng tất cả những cái đó vẫn chưa phải là lao động, theo đúng nghĩa

dân đi, văn hoá có liên hệ rất mật thiết với chính trị, phải làm cho văn hoá thấm sâu

của nó. Lao động bắt đầu với việc chế tạo ra công cụ" [45, tr.648].
Như vậy, lao động của con ngời là lao động sáng tạo. Nhờ có sự sáng tạo mà
con người mới tạo ra cái mới trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của con người. Tuy nhiên không phải sự sáng tạo cũng đều
là sản phẩm văn hóa. Chỉ có sự sáng tạo vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp, vươn
tới các giá trị nhân văn thúc đẩy sự tiến bộ xã hội mới trở thành văn hóa. Còn những
sáng tạo chống lại con người, huỷ diệt con người, làm tha hóa nhân cách, đạo đức
và lối sống của con người là những sáng tạo phản văn hóa. Phát hiện ra năng lượng

toàn bộ các quan hệ xã hội giữa các cá nhân tạo nên cộng đồng xã hội. Xã hội, vì

triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

vậy, bao gồm tất cả các hoạt động của con người, của xã hội loài người trong kinh

(6-2014), sau khi đánh giá những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp xây dựng và

tế, trong chính trị, trong văn hóa và trong tư tưởng. Đây là khái niệm chỉ cái chung,

phát triển văn hoá, con người Việt Nam những năm đã qua, Đảng ta chỉ rõ mục tiêu

cái tổng thể, bao quát và xuyên suốt tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người. Xã

xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay là:

hội hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao hàm trong đó cả những vật thể tự nhiên đã được con

Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện,

người cải tạo, biến đổi. Đất đai, sông ngòi, rừng biển vốn là vật thể tự nhiên được

hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân

con người tác động cải tạo, khai thác sử dụng, chiếm hữu đã trở thành một phần

chủ và khoa học. Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc

không thể thiếu của xã hội loài người.


nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại [22, tr.49-57].
* Khái niệm xã hội

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; có

Định nghĩa về xã hội có nhiều cách diễn giải khác nhau, song xã hội hiểu

nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ

theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là “toàn bộ các hình thức hoạt động chung của

sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

con người đã hình thành trong lịch sử” [102, tr.965]. Người ta thường dùng khái

con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển

niệm xã hội để chỉ một tập đoàn người, cấu thành bởi những cá nhân với các mối

toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn

quan hệ lẫn nhau hết sức phức tạp, biểu hiện ra như một hiện thực tồn tại của những

trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

thành viên của nó. Xã hội cũng được hiểu là một môi trường hoạt động của con

nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;



29

cấu thành xã hội, trở thành thước đo sự phát triển của xã hội. Ở chiều ngược lại, con

2.1.2.2. Đặc điểm văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông Hồng

người sở dĩ là người bởi họ kết thành xã hội, xã hội nâng đỡ và nuôi dưỡng sự sáng

Nhân dân ở các tỉnh ĐBSH giàu truyền thống yêu nước, mưu trí, dũng cảm

tạo văn hoá của con người. Những vấn đề văn hoá và xã hội luôn gắn bó chặt chẽ

trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, địch hoạ, đồng thời cũng rất

với nhau, có quan hệ nhân quả và tuỳ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, khi diễn đạt những

cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương, đất nước hoà bình.

vấn đề văn hoá và xã hội người ta dùng gạch nối giữa hai khái niệm này (văn hoá -

Với truyền thống bất khuất đó, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc (sau Công

xã hội) để diễn đạt một nội dung xã hội phong phú hơn, đó là một xã hội cụ thể, đặc

nguyên), nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân các tỉnh ĐBSH nói riêng, luôn

thù có sự thống nhất và không thể tách rời lẫn nhau giữa hai mặt văn hoá và xã hội.

vùng lên đấu tranh giành độc lập, không cam chịu để các thế lực phong kiến

hoá, các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng chăm lo, gìn giữ những điều kiện bảo
đảm cho đời sống của mình diễn ra bình yên, hạnh phúc, đó là các hoạt động: duy
trì nòi giống, xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái; xoá đói, giảm nghèo và khắc
phục những bất bình đẳng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng; chống mất an toàn nhân mạng trong lao động, trong giao thông, trong sinh
hoạt… Tất cả những hoạt động đó của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, cấu thành nội hàm của khái niệm văn hoá - xã hội.

Việt Nam còn phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh
giải phóng đất nước khỏi hoạ ngoại xâm của phong kiến Phương Bắc, nhưng đó là
thời kỳ đấu tranh nhân dân ta đã có nhà nước phong kiến tập quyền, bảo vệ độc lập,
chủ quyền của quốc gia, dân tộc.
Bước vào thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, Việt Nam nói chung, trước hết
là vùng ĐBSH nói riêng, lại hứng chịu âm mưu thôn tính của chủ nghĩa thực dân,
đế quốc Phương Tây. Các giáo sĩ Phương tây đi tiên phong mở mang “nước chúa”
của họ vào Việt Nam, điểm đặt chân đầu tiên là các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Đi
theo sau các giáo sĩ là những tên đế quốc thực dân nhòm ngó lãnh thổ, toan tính âm
mưu xâm lược, biến nước ta thành thuộc địa của chúng. Những diễn biến lịch sử
diễn ra trên đất nước ta trong suốt thế kỷ XIX, đến nửa sau của thế kỷ XX đã minh
chứng rất rõ những mưu toan nói trên của chủ nghĩa đế quốc thực dân cũ và mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử
Việt Nam hiện đại, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam khỏi ách áp bức, xâm
lược của chủ nghĩa thực dân - phong kiến cũ và mới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khơi dậy, tiếp nối và phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước chống giặc ngoại
xâm của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do và thống nhất tổ quốc, đưa cả nước đi lên
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những bản hùng ca bất tử về chiến tranh chống



sống ở làng, hay sống nơi phố thị, những hình ảnh thân thuộc về làng như: cổng

hoạ và lịch sử xây dựng quê hương đất nước hoà bình, khẩn hoang, mở mang bờ cõi.

chùa, ngôi đình, cây đa, bến nước, dòng sông và luỹ tre xanh luôn in đậm trong tâm

Thực tiễn lịch sử xã hội nói trên đã chi phối, tác động và để lại trong đời sống văn

trí mỗi người dân vùng này. Bởi thế, những dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm

hoá - xã hội hiện tại của nhân dân các tỉnh ĐBSH một số đặc điểm chủ yếu sau:

như: Tết Nguyên đán, Tết độc lập (Quốc khánh 2-9) và tiệc làng, người dân vùng

Một là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có đời sống tinh thần gắn bó sâu nặng với
văn hoá làng, xã.

này không quên về với làng của mình.
Làng được xem là một không gian văn hoá - xã hội ở nông thôn các tỉnh

Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, làng có vị trí quan trọng đặc biệt:

ĐBSH, trong mỗi làng, người dân có nghĩa vụ đóng góp xây dựng và được hưởng

làng là đơn vị cơ bản hình thành nên quốc gia dân tộc. Nước (quốc gia) chỉ là tổng

chung các thiết chế văn hoá làng như: chùa làng, đình làng, đền và miếu thờ thần,

số, là kết quả của sự liên kết các làng xã. Làng “Là một đơn vị xã hội của văn hoá


hội để để giành lại nước. Cái hồn của làng Việt Nam là văn hoá làng xã, tiêu biểu là

thờ năm, bảy vị, tức gọi là Phúc thần, Phúc thần chia làm ba hạng: 1)

văn hoá làng xã vùng ĐBSH. Các nhà khoa học cho rằng: “Văn hoá làng có thể

Thượng đẳng thần; 2) Trung đẳng thần; 3) Hạ đẳng thần. Thượng đẳng

hiểu một cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của

thần là những thần Danh sơn Đại xuyên và các bậc thiên thần như Đổng

làng, với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động,

Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh... các vị ấy

cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục tập quán, tôn giáo, tín

có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, nên gọi là Thiên

ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những đặc điểm riêng

thần. Hai là các vị Nhân thần như là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,

của nó” [27, tr.75]. Trên cơ sở quan niệm như vậy, các nhà khoa học cũng chỉ ra ba

v.v... Các vị này khi sinh tiền có đại công lao với dân, với nước lúc mất

đặc trưng quan trọng của văn hoá làng xã vùng ĐBSH là: “văn hoá vùng nông



cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần [10, tr.85-86].

từng dạy học cho các Hoàng tử và nhiều thế hệ con em dân làng thành đạt.

Làng thờ thần phải có đình và miếu. Miếu là nơi thần ngự hàng ngày, đặt ở

Ở Làng Vũ Thành, xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ tỉnh Thái Bình có đình

nơi yên tĩnh, linh thiêng; đình là nơi dân thờ vọng các vị thần, thường được đặt ở

Đoài thờ Thành hoàng làng là ông Bùi Công Đán. Thần phả chép, ông đỗ tiến sĩ

trung tâm của làng để tiện cho sinh hoạt. Đến ngày tiệc của làng, dân làng rước các

thời vua Huệ Tông nhà Lý, từng làm đến chức tham tri bộ lễ đời nhà Trần. Ông có

linh vị thần từ miếu ra đình, hết tiệc, rước ngược lại. Hầu hết các đình, miếu ở các

công lớn với làng, nước nên được vua ban cho dân làng lập đình thờ để ghi nhớ

tỉnh ĐBSH đều thờ Phúc thần.

công đức. Làng Bảo Tháp, xã Đông Cừu, huyện Gia Bình, tỉnh Băc Ninh lập đền

Mỗi làng thường có cổng làng, sau cổng làng là một không gian văn hoá

thờ Lê Văn Thịnh, quan Trạng thời Lý (1050). Ông là một nhà khoa bảng nổi

trọn vẹn, ở đó chứa đựng những giá trị văn hoá hết sức sâu sắc của người Việt từ


thể thiếu không gian văn hoá làng. Tuy nhiên, hiện tại đã có nhiều đơn vị dân cư

nghị khuyến học, khuyến tài; nơi tôn vinh những người trong họ có học vấn, tài

phát triển thành quy mô các làng, ở đó có các nhà văn hoá thôn, nhưng nhà văn

năng đóng góp cho quê hương, đất nước. Có thể nói, hầu hết các dòng họ lớn thuộc

hoá thôn vẫn chưa khoả lấp được sự trống vắng của không gian văn hoá làng

các tỉnh ĐBSH hiện nay đều có nhà thờ của dòng họ mình.

mang tính bản sắc ở các tỉnh ĐBSH.
Hai là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có truyền thống hiếu học, tôn vinh những
người có học thức, khoa bảng và tài năng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.

Ba là, các thiết chế văn hoá ở các tỉnh ĐBSH có sự bảo tồn, phát triển và
thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển hiện đại.
Là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, các tỉnh ĐBSH đã sớm có chủ
trương bảo tồn và phát triển các thiết chế văn hoá cho phù hợp với yêu cầu của thời

Trong xã hội hiện đại, việc học tập cho mỗi người dân là công việc không

kỳ mới. Các công trình văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê như đền, miếu, đình,

chỉ của người dân mà còn là công việc của Nhà nước và toàn xã hội. Học tập đã trở

chùa, nhà thờ họ, văn bia, phả hệ, sắc phong của các đời vua cho các vị thánh,

Ninh), lễ hội Phủ Dầy (Nam Định)... Những giá trị văn hoá phi vật thể như: ca,

Kể từ đó, các tỉnh Nam Định, Ninh Bình đã tiếp cận đạo Thiên chúa và sớm trở

múa, nhạc dân tộc được sưu tầm, phục dựng, khuyến khích phát triển. Có những

thành trung tâm của đạo này ở Việt Nam.

dân ca và điệu múa được công nhận ở tầm quốc tế như: dân ca Quan họ ở Bắc Ninh,

Việc theo hay không theo một tôn giáo nào đó trong các tầng lớp nhân dân

hát múa cửa đình (hát trống quân) ở Vĩnh Phúc, Ca trù, hát Xẩm ở Nam Định, Ninh

các tỉnh ĐBSH là hoà đồng, không có kỳ thị, xung đột. Ở các tỉnh có đông đồng bào

Bình... Cùng với việc phục dựng, bảo tồn vốn văn hoá cổ để lại, hiện tại các tỉnh

theo đạo thiên chúa giáo như Nam Định, Ninh Bình, có những làng tôn giáo toàn

ĐBSH đã đầu tư xây dựng mạng lưới các nhà văn hoá, thư viện ở cơ sở; các bảo

tòng, nhưng cũng có không ít các làng người theo đạo Thiên chúa giáo và người

tàng, nhà truyền thống, nhà hát, rạp chiếu phim ở các trung tâm thị trấn, thị xã,

không theo đạo sống xen lẫn nhau. Người theo đạo Thiên chúa giáo phải tuân theo

thành phố trực thuộc tỉnh. Tương xứng với những vốn văn hoá cổ được bảo tồn và


âm mưu gây chia rẽ giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo để phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên ở thời kỳ đó đã có những căng thẳng nhất
định trong các cộng đồng dân cư.
Năm là, các tỉnh ĐBSH là một trong những địa phương có nhiều lễ hội dân
gian và lễ hội truyền thống nhất cả nước.

Giao Chỉ lúc bấy giờ. “Chùa Dâu nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu,

Ngoài những ngày lễ mà nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm trọng thể như:

được xây dựng từ năm 187 đến năm 226 thì hoàn thành. Đây là ngôi chùa lâu đời

ngày Giỗ tổ 10-3 âm lịch, ngày Quốc khánh 2-9, ngày Quốc tế lao động 1- 5, nhân

nhất, gắn với lịch sử Phật giáo Việt Nam” [37, tr.364]. Từ thế kỷ X, XI, XII, Phật

dân các tỉnh ĐBSH còn có nhiều lễ hội mang tầm cỡ khu vực và lễ hội của các làng.

giáo được các triều Đinh, tiền Lê, Lý, Trần coi là quốc đạo, giới tăng, lữ Phật giáo

Những lễ hội lớn mang tầm cỡ khu vực với sự tham gia của người dân nhiều tỉnh

được trọng vọng. Vua Trần Nhân Tông (thế kỷ XIII) còn sớm xuất gia tu hành để

như: Lễ hội đền Kiếp Bạc; lễ hội đền Tây Thiên; lễ hội đền Phủ Giầy; lễ hội đền Bà

sáng tạo một dòng phật giáo mới của người Việt, Phật giáo Trúc lâm Yên tử. Có thể

chúa kho; lễ hội Lim; lễ hội Yên Tử; lễ hội chùa Bái Đính; lễ phát Ấn đền Trần...



miền núi và trung du phía Bắc và gấp hơn 10 lần so với Tây Nguyên [98, tr.9-12].

nay, một số nơi còn tổ chức hoạt động văn nghệ, thể thao trong ngày hội làng cho

Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp (chưa đạt 450

thêm phần sinh động. Tiệc làng là ngày vui lớn, con trai, con gái của làng sinh

m2/người) lại đang có xu hướng bị thu hẹp… là sức ép đối với sự lãnh đạo của cấp

sống ở xa quê vẫn nhớ và thu xếp công việc về dự. Có những làng quy định, ngày

uỷ các cấp. Bên cạnh đó, tập quán, cách làm ăn cũ vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, làm

tiệc làng, con gái đi lấy chồng thiên hạ phải có lễ về trình Thành hoàng làng để tỏ

cho kinh tế thị trường ở những nơi đó chưa phát triển mạnh. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo

lòng tri ân với quê hương.

đã giảm nhiều so với trước nhưng khoảng cách giàu, nghèo giữa các gia đình nông

Tiệc làng có thể rơi vào bất kỳ ngày nào trong năm, song thường được tổ

dân, giữa cư dân thành thị và nông thôn có xu hướng ngày càng doãng ra. Một bộ

chức nhiều vào mùa xuân và mùa thu. Mùa xuân, từ sau Tết Nguyên đán đến hết

phận dân cư thuộc vùng sâu, miền núi, hải đảo, dân tộc ít người còn gặp khó khăn


Hiếu học là nét truyền thống văn hoá nổi bật của nhân dân các tỉnh ĐBSH.

cả nước. Tiến trình CNH, HĐH đang làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trọng người có học, đề cao học vấn, khuyến khích con cháu học tập, noi theo

các tỉnh ĐBSH theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động ngành kinh

những người có khoa bảng cao đã thành một truyền thống tốt đẹp ở mọi làng quê

tế nông nghiệp; tăng dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của ngành kinh tế

nơi đây. Truyền thống hiếu học đó, ngày nay, đã và đang thúc đẩy hàng triệu học

công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; quy

sinh, sinh viên thi đua học tập đạt thành tích cao để lập thân, lập nghiệp xây dựng và

hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây

bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012

dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh,

cho thấy, nhân dân các tỉnh ĐBSH có trình độ dân trí khá cao so với các tỉnh khác

không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn. Tiến

trong cả nước, nơi đây tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các

thấy, có những vấn đề thuần tuý kinh tế - xã hội như tranh chấp đất đai và ô nhiễm

phố trong làng, phố chợ và các tụ điểm dân cư tập trung bên cạnh các khu công

môi trường ở nông thôn, việc làm và an sinh xã hội ở thành phố, song do quản lý

nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở giáo dục và cơ quan hành chính. Cùng với tiến

chưa tốt đã đẩy thành điểm nóng mang tính chính trị. Mặt khác, quá trình đô thị hoá

trình đô thị hoá nông thôn, cư dân nông thôn làm nghề nông giảm đi nhanh chóng,

khá nhanh làm cho cuộc sống của người dân các tỉnh ĐBSH tiếp cận gần hơn với

nhiều người dân làm nghề nông đã chuyển sang làm công nhân trong các khu công

thành phố, nhưng văn hoá đô thị lại chưa thể một sớm, một chiều hình thành. Làng

nghiệp và cụm công nghiệp, làm dịch vụ và chế biến tiểu, thủ công nghiệp. Những

phát triển dần thành phố làng, đất đai thu hẹp, toàn bộ hoạt động sản xuất và tiêu

người gắn bó với nghề nông thì chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa thay

dùng diễn ra trong phố làng, nạn ô nhiễm môi trường ngày càng lớn và khó giải

thế cho sản xuất tự cung, tự cấp. Trình độ sản xuất và năng lực quản lý của một số
hộ nông dân được nâng lên rõ rệt. Do tiếp cận với nền kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế, nhiều hộ nông dân đã vươn lên sản xuất hàng hóa, làm giàu chính
đáng. Đời sống đại bộ phận nông dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, một


bị hạn chế nhiều.

kinh tế, nó cũng đang làm suy giảm nhanh những giá trị văn hoá làng xã truyền

Tám là, trong quá trình bảo tồn và trao truyền các gía trị văn hoá - xã hội

thống nơi đây. Song, vấn đề là ở chỗ những giá trị văn hoá truyền thống bị xem nhẹ,

truyền thống, nhân dân các tỉnh ĐBSH còn khá bảo thủ trong việc giữ gìn những

những giá trị văn hoá mới lại chưa định hình rõ và chưa đủ khả năng dẫn dắt cộng

phong tục, tập quán không còn phù hợp với điều kiện sống mới.

đồng phát triển. Tình hình trên gây gây nên hiện tượng “đứt gãy văn hoá” trong xã

Văn hoá làng xã, bên cạnh những mặt tích cực to lớn, được xem như “hằng

hội, tác động trước hết và chủ yếu vào tầng lớp thanh niên mới lớn. Phải chăng sự

số văn hoá Việt Nam” nói trên, nó cũng có những mặt tác động tiêu cực không nhỏ


40

41

vào đời sống văn hoá - xã hội hiện nay. Trước hết, nói về xây dựng môi trường văn


tang là những việc lớn của mỗi gia đình và cộng đồng, cần được coi trọng và tổ

trong văn hoá làng truyền thống Việt Nam.

chức chu đáo; tuy vậy, ở nhiều làng quê các tỉnh ĐBSH còn quá cầu kỳ, hoài cổ, tốn
kém và gây ảnh hưởng môi trường. Lo hậu sự cho người thân, với quan niệm “trần
sao, âm vậy”, hầu hết những người dân (không theo đạo Thiên chúa giáo) đều thực
hiện chôn cất và cải táng; sau cải táng đua nhau xây cất mồ mả to đẹp vừa gây lãng
phí đất công, tiền của vừa gây ô nhiễm môi trường.

2.1.3. Phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng
hiện nay - khái niệm, nội dung
2.1.3.1. Một số khái niệm chủ yếu liên quan đến phát triển văn hóa - xã
hội hiện nay
* Khái niệm phát triển

Tính cộng đồng, truyền thống “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách

Phát triển là một phạm trù triết học chỉ tính chất của những biến đổi đang

nhiều” là hết sức nhân văn, tốt đẹp, tuy nhiên truyền thống ấy có phần phát triển

diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất. Phát triển

lệch lạc khi nó đề cao thái quá tính cộng đồng, quan hệ dòng tộc, lễ nghi, địa vị xã

là một trong những nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan. Mọi sự vật và hiện

hội; xem nhẹ trí tuệ, tài năng cá nhân, bằng lòng với suy nghĩ “khôn độc không


Tư tưởng trọng nam, khinh nữ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” vốn không bắt

những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và

nguồn từ văn hoá Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng lâu dài của Nho giáo đã thấm

không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì

dần vào văn hoá Việt. Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính sách xoá

trạng thái của bất kỳ sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định

đói, giảm nghèo, chính sách giáo dục và an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước gặp

không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong mà còn bởi các mối liên hệ bên

rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt với tàn dư tư tưởng lạc hậu này. Đông con đi

ngoài. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đâu tranh của các

cùng với thất học, đói nghèo, bệnh tật là vấn đề xã hội ai cũng biết, nhưng gốc rễ

mặt đối lập. Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi về


42

43

lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt.


chính trị, trong đó chứa đựng quan điểm, chủ trương, chính sách của các đảng cầm

người cụ thể không ai lựa chọn được hoàn cảnh mình sinh ra, thành thử, hoàn cảnh

quyền và các nhà nước hiện đại về những vấn đề văn hoá- xã hội. Phát triển văn hoá

kinh tế, văn hoá - xã hội đến lượt nó tác động trở lại và quy định sự phát triển của

- xã hội Việt Nam là thuật ngữ phản ánh quá trình biến đổi nền văn hoá - xã hội

mỗi cá nhân. Vì vậy, phát triển văn hoá - xã hội trong một nước, cũng như ở mỗi

nước ta thông qua sự gia tăng không ngừng khả năng bảo tồn, sáng tạo và thụ

vùng trong một nước, có vai trò tạo ra nền tảng tinh thần và động lực xã hội cho

hưởng những giá trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, cũng như quá

mỗi con người phát triển. Quan niệm nói trên về phát triển văn hoá - xã hội thể hiện

trình đấu tranh ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những giá trị phản văn hoá - xã

những nội hàm chủ yếu sau đây:

hội (ngoại lai hoặc nội sinh) tác động vào đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân,

Thứ nhất, chủ thể phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta là nhân dân Việt

nhằm xây dựng con người mới và xã hội mới. Việt Nam là một nước đang phát


Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhân cách con người

và thụ hưởng bao gồm: các giá trị văn hoá - xã hội vật thể và phi vật thể; các thiết

hình thành và phát triển trong điều kiện còn có sự phân công lao động hết sức sâu

chế văn hoá - xã hội; các cơ cấu văn hoá - xã hội; các thể chế văn hoá - xã hội; đời

sắc giữa lao động chân tay và lao động trí óc; giữa lao động thừa hành và lao động

sống văn hoá - xã hội đang diễn ra hàng ngày của các cộng đồng dân cư; cuộc đấu

quản lý, chỉ huy; còn có sự tách rời giữa trình độ sinh hoạt vật chất với sinh hoạt

tranh của nhân dân ta chống các tàn tích văn hoá - xã cũ, hội lạc hậu, cũng như đấu

tinh thần. Trong điều kiện đó, chúng ta không thể nôn nóng, mong muốn có ngay

tranh chống các giá trị phản văn hoá ngoại lai, nội sinh đang hàng ngày tác động

những con người có nhân cách toàn diện, ở một xã hội hoàn thiện, có nền văn hoá -

vào đời sống xã hội.

xã hội phát triển. Theo C.Mác (trong “Hệ tư tưởng Đức”), con người phát triển toàn

Thứ ba, mục tiêu của phát triển văn hoá - xã hội là trên cơ sở kế thừa những

diện là con người không bị lệ thuộc phiến diện vào phân công lao động xã hội,

Như vậy có thể thấy, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hoá của đất

lĩnh vực, nhiều nhiệm vụ, liên quan đến nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Chỉ riêng

nước, trong quan niệm về “phát triển văn hoá” theo tinh thần của Đại hội XI, tuy

trong lĩnh vực phát triển văn hoá, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung

Đảng ta không đưa nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học -

ương khoá VIII, Đảng ta chỉ rõ mười nội dung: một là, xây dựng con người Việt

công nghệ” vào mục VI của Văn kiện bàn về “chăm lo phát triển văn hoá” [21,

Nam thời kỳ mới với những đức tính tiêu biểu; hai là, xây dựng môi trường văn

tr.223], nhưng không có nghĩa là Đảng lãnh đạo chăm lo phát triển văn hoá không

hoá; ba là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bốn là, bảo tồn và phát huy các

có nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ”. Bởi,

di sản văn hoá; năm là, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công

cũng ở Văn kiện này, khi trình bày Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

nghệ; sáu là, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảy là, bảo tồn

độ lên chủ nghĩa xã hội, ở mục III của Cương lĩnh, khi bàn “về văn hoá, xã hội” [21,


quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Chúng tôi cho rằng quan niệm như vậy về

thống thông tin đại chúng; bốn là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về

phát triển xã hội là thoả đáng, đã thể hiện được những nội dung quan trọng nhất của

văn hoá. Đáng chú ý là, đến Đại hội này, quan điểm về “chăm lo phát triển văn hoá”

lĩnh vực này.

Đảng ta không đưa vào đó nội dung: phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa

Khái quát lại, khi bàn về khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện

học - công nghệ, như quan điểm của Hội lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương

nay, trên cơ sở quan điểm của Đảng và quá trình nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các nhà

khoá VIII (tháng 7 năm 1998).

khoa học đi trước về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày tóm tắt những nội dung chủ

Tiếp đến Hội nghị lần thứ IX, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, sau khi

yếu của khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay gồm: một là, phát

tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “xây dựng và

triển con người Việt Nam thời kỳ mới với những phẩm chất tiêu biểu về tư tưởng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status