MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
1.1. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành y tế
12
12
1.2. Quan niệm, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
20
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
33
2.1. Thành tựu và hạn chế về phát triển nguồn nhân lực ngành
y tế của thành phố Hà Nội
33
2.2. Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra
từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực y tế của thành phố
94
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại
của một tổ chức, một ngành hay một địa phương. NYT tế có nhiệm vụ
chăm sóc sức khoẻ cho toàn bộ nhân lực quốc gia; đóng vai trò quyết định
trực tiếp tới hiệu quả phòng, chống dịch bệnh và khám, chữa bệnh cho
nhân dân, quyết định đến sự phát triển bền vững của NYT nói riêng và phát
triển KT-XH của đất nước nói chung.
Nhận thức đúng tầm quan trọng của NNL NYT, những năm qua, NYT
thành phố Hà Nội luôn tìm cách để phát triển NNL do đó đội ngũ cán bộ y
tế được tăng cường; trình độ chuyên môn của NNL được nâng cao; chính
sách đãi ngộ, thu hút NNL bước đầu được quan tâm...Tuy nhiên, do điều
kiện KT-XH phát triển, mật độ dân số của thành phố tăng nhanh, nhu cầu
chăm sóc sức khỏe của xã hội ngày càng tăng; trong khi đó, công tác phát
triển NNL NYT của thành phố lại đang bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cả
về số lượng, chất lượng và cơ cấu, nhất là NNL có trình độ, tay nghề cao
và NNL quản lý giỏi. Một số bệnh viện, trung tâm y tế và cơ quan quản lý
y tế các cấp của thành phố (gọi chung là đơn vị y tế) cũng đang trong tình
trạng khó tuyển chọn các nhà quản lý, điều hành có kinh nghiệm và trình
độ chuyên môn cao. Đối với công tác quản lý vĩ mô NNL NYT của thành
phố chưa theo kịp với tình hình thực tiễn…Hơn nữa, sự chỉ đạo trực tiếp
của Sở Y tế cũng còn có những bất cập, NNL NYT của thành phố còn có
khoảng cách giữa qui mô, chất lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo với nhu
cầu sử dụng lao động thực tế tại các đơn vị y tế.
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp khả thi để
phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng sự nghiệp chăm
- Nguyễn Huy Quang (2008), “Xử lý kỷ luật đối với các bộ, viên chức y tế
biện pháp quan trọng của quản lý nhà nước về Y tế”, Tạp chí Quản lí Nhà
nước, số 145/2008, tr.35 - 38. Theo tác giả, thời gian gần đây cán bộ, nhân viên
4
y tế ở một số cơ sở y tế trong cả nước có những biểu hiện vi phạm kỷ luật,
thậm chí phải xử lý kỷ luật hoặc xử lý theo pháp luật… làm ảnh hưởng đến
chất lượng khám chữa bệnh của nhân dân và uy tín của Ngành. Trước thực
trạng đó, để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về y tế cần phải xử lý
nghiêm đối với các bộ, viên chức y tế vi phạm. Đây là biện pháp quan trọng
của quản lý nhà nước về y tế.
- Nguyễn Quốc Triệu (2010), Đội ngũ trí thức bậc cao ngành Y tế Việt
Nam hiện đại, Nxb Y học, H. Cuốn sách giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp của những
giáo sư, phó giáo sư, viện sĩ và tiến sĩ thuộc NYT cách mạng Việt Nam hiện đại
cùng những đóng góp của họ cho sự nghiệp phát triển của NYT Việt Nam.
- Trương Việt Dũng (2010), Phát triển nhân lực y tế ở tuyến tỉnh: Dùng
cho cán bộ quản lý và đào tạo nhân lực y tế, Nxb Y học, H. Cuốn sách trình
bày khái quát về phát triển nhân lực y tế và hướng dẫn xây dựng kế hoạch và
quản lý nhân lực, triển khai công tác đào tạo, đào tạo liên tục cán bộ y tế ở
tuyến tỉnh.
- Nguyễn Văn Cường (2011), Quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực
y tế công, Nxb Y học, H. Cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận về quản lý
nhà nước đối với NNL y tế. Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước và một số
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với NNL y tế
công ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Xuân Lãng (2012), Kỷ niệm 55 năm thành lập Công đoàn Y tế
Việt Nam: Tuyên dương lao động giỏi, lao động sáng tạo Ngành Y tế 2007 2012, Nxb Y học, H. Cuốn sách giới thiệu quá trình xây dựng, trưởng thành
và những sự kiện quan trọng trong hoạt động của Công đoàn Y tế Việt Nam
trong 55 năm qua và tuyên dương những lao động xuất sắc của NYT.
hoạch 5 năm Ngành Y tế 2011-2015, cập nhật thực trạng hệ thống y tế, tăng
cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm.
- Nguyễn Thị Kim Tiến (2015), Trang vàng Y tế Việt Nam: 60 năm thi
đua làm theo lời Bác, Nxb Y học, H. Cuốn sách giới thiệu những thành tựu
6
công nghệ khoa học phát triển và tiêu biểu của NYT Việt Nam gắn với lịch sử
Việt Nam qua thời gian và 60 năm thi đua làm theo lời dạy của Bác Hồ; các
tấm gương tập thể và cá nhân tiêu biểu của NYT nhằm tôn vinh các cá nhân
có nhiều danh hiệu, giải thưởng cao quý do Nhà nước, Chính phủ trao tặng...
- Mỹ Châu (2015), Ngành Y tế Việt Nam - 60 năm phát triển và hội
nhập: Vietnam health sector 60 years of development & integration, Nxb
thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh. Cuốn sách giới thiệu những bài viết
ghi lại chặng đường 60 năm phát triển và hội nhập NYT Việt Nam.
Gần đây, nhiều cơ quan, nhà trường đã tổ chức hội thảo khoa học bàn về
phát triển NNL NYT tế đã cho thấy việc phát triển NNL NYT được xã hội
đặc biệt quan tâm. Cụ thể; năm 2012 các Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải
Dương đã tổ chức Hội thảo “Đào tạo NNL điều dưỡng Việt Nam”; Trường
Đại học Y tế công cộng với Hội thảo “Khởi động và triển khai nghiên cứu
đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực y tế”. Năm 2015, Ban Tuyên
giáo Trung ương với Hội thảo “Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực Y tế Ngành
Y - Dược khu vực miền núi phía Bắc: Thực trạng và giải pháp”. Tháng 01
năm 2016, Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế Việt
Nam”. Tuy nhiên, vấn đề NNL NYT Hà Nội lại chưa được đề cập ở đây và
đặc biệt chưa luận giải, phân tích một cách hệ thống, logic và khoa học.
Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Ngành Y tế
của thành phố Hà Nội
- Nguyễn Xuân Bình (2007), “Phát triển đội ngũ giảng viên, nâng cao
chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đến năm 2015”, Tạp
đồng; nâng cao chất lượng xã hội hóa công tác y tế.
- Đào Thị Dung (2013), “Thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên môn
mạng lưới y tế công lập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội”,
Tạp chí Y học thực hành, số 6 (872)/2013, tr.74 - 77. Tác giả phân tích, đánh
giá thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên môn mạng lưới y tế công lập
chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội; chỉ ra những kết quả đạt
8
được và hạn chế, bất cập hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn mạng lưới y tế công
lập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội.
Những công trình khoa học trên đây đã bàn đến nhiều vấn đề về phát
triển NNL NYT thành phố Hà Nội thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động
các chương trình y tế của Ngành; về phương hướng xây dựng NYT thành phố
Hà Nội thời gian tới. Một số công trình bàn đến nâng cao chất lượng NNL
NYT thông qua việc phát triển đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào
tạo; biện pháp quản lý hoạt động thực tập bệnh viện của học sinh tại Trường
Cao đẳng Y tế Hà Nội; thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên môn mạng
lưới y tế công lập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội...Tuy
nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến các góc độ, khía cạnh khác nhau
về NNL NYT của thành phố Hà Nội mà thiếu một công trình khoa học nghiên
cứu và bàn đến NNL NYT của TP.HN một cách hệ thống, khoa học.
Tổng quan các công trình nêu trên cho thấy, hiện chưa có công trình nào
nghiên cứu độc lập về phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội. Vì thế, đề
tài này được nghiên cứu trên góc độ kinh tế chính trị không trùng lặp với các
công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển NNL
* Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa trên cơ sở thực tiễn phát triển NNL và phát triển NNL
NYT ở nước ta và khảo sát thực tiễn phát triển NNL NYT thành phố Hà Nội
những năm qua.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nền tảng là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hóa khoa học; phương
pháp kết hợp logic với lịch sử; phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, so
sánh và phương pháp chuyên gia... để hoàn thành luận văn.
10
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ góp phần cung cấp thêm luận cứ
khoa học cho việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển NNL NYT
thành phố Hà Nội; kết quả của luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học về NNL nói chung và NNL
NYT nói riêng.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
11
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành y tế
tiền đề NNL cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, tiến sĩ Hà Quý Tình
cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ sức lao động của những người trong độ
tuổi lao động có khả năng huy động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội” [68, tr.6]. Nghiên cứu về phát triển NNL phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, tiến sĩ Nguyễn Thanh lại cho rằng, “Nguồn nhân lực, nguồn lực
con người là tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được nhờ
sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự nỗ lực của bản thân, là tổng thể số lượng
dân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm
sống, nhân cách, đạo đức, lí tưởng, chất lượng văn hoá, năng lực chuyên môn và
tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy
động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội” [57,
tr.75].
Gần đây, có khá nhiều công trình khoa học tiếp tục nghiên cứu và bàn luận
đến vấn đề NNL và phát triển NNL dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau, các
lĩnh vực khác nhau. Song, các công trình khoa học này đều có một điểm chung
là đề cập đến các đặc trưng cơ bản về đào tạo, phát triển NNL cả về số lượng,
chất lượng và cơ cấu. Luận giải và làm rõ được NNL là tổng hoà thể lực, trí lực
và tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia; là sự kết
tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu
cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Các công trình khoa học cũng chỉ rõ việc
đào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNL là một tất yếu khách quan đối với xã hội,
13
doanh nghiệp và đến từng người lao động. Trong đó, đối với xã hội và với doanh
nghiệp việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển sẽ đảm bảo cho NNL của xã hội và
doanh nghiệp có thể thích ứng, theo sát được sự tiến hoá và phát triển của khoa
học kỹ thuật, công nghệ. Quá trình này sẽ đảm bảo cho xã hội, doanh nghiệp có
được một lực lượng lao động giỏi, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của xã hội,
Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người hành nghề y như chỉnh
hình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan, và các nhà cung cấp dịch vụ
chăm sóc. Y tế đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu,
chăm sóc thứ cấp và chăm sóc thứ 3, cũng như trong y tế công cộng. Hệ thống
chăm sóc y tế là các tổ chức được thành lập để đáp ứng nhu cầu sức khỏe của
dân cư. Thể thức chính xác của chúng thay đổi khác nhau giữa các nước. Ở
một số quốc gia và vùng lãnh thổ, kế hoạch chăm sóc sức khỏe được phân
phối giữa các đối tác trên thị trường, trong khi ở một số nước kế hoạch này
được thực hiện tập trung vào các chính phủ hoặc các cơ quan phối hợp khác.
Trong mọi trường hợp, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hệ thống chăm
sóc sức khỏe tốt đòi hỏi một cơ chế tài chính mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ được
đào tạo và trả lương tốt; thông tin đáng tin cậy làm cơ sở để ra quyết định và
lập chính sách; cơ sở vật chất và hậu cần duy trì tốt để cung cấp thuốc và công
nghệ có chất lượng. Chăm sóc sức khỏe có thể tạo thành một phần trong nền
kinh tế quốc gia. Năm 2008, NYT sử dụng trung bình 9% (GDP) trong các
quốc gia phát triển nhất; cụ thể, Mỹ (16.0%), Pháp (11.2%), và Thụy Sĩ
(10.7%); đây là 3 nước dẫn đầu về tỷ lệ GDP cho NYT. Chăm sóc sức khỏe
thông thường được coi là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc nâng
cao sức khỏe và hạnh phúc của mọi người trên khắp thế giới. Đơn cử như xóa
bệnh đậu mùa trên toàn thế giới vào năm 1980 - WHO tuyên bố rằng căn
bệnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại được loại bỏ hoàn toàn bởi sự can thiệp
chăm sóc sức khỏe.
Với Việt Nam, một nước đã phải trải qua các cuộc chiến tranh giải
15
phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, kinh tế
gặp nhiều khó khăn; theo đó, NYT cũng gặp không ít khó khăn, cơ sở vật chất
thiếu thốn, NNL còn nhiều hạn chế và bất cập. NYT Việt Nam chưa có bề dày
lịch sử về phát triển y khoa như nhiều nước trong khu vực; nhưng hơn 60 năm
vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ”. [04, tr.2].
Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhiều chính sách quan trọng và được luật
pháp hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển NYT nói chung và
NNL NYT nói riêng. Tại khoản 2, Điều 4 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm
2009 quy định chính sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh: Tăng cường phát
triển NNL y tế, đặc biệt là NNL y tế ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Thực hiện chế độ
luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội không khó
khăn đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Do vậy, chúng ta cần phải nhận thức đúng về nghề y là một nghề đặc
biệt, theo đó NNL NYT phải đáp ứng được yêu cầu đặc biệt đó. Mục tiêu là
giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải
thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất
lượng NNL, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ trung ương
đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian qua, NNL NYT đã thực hiện có hiệu quả kế hoạch bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. NNL NYT liên tục phát triển về
số lượng và không còn tình trạng thiếu trầm trọng, ngoại trừ đối với chuyên
khoa tâm thần. Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân tăng đều qua các năm và đạt
mức 7,5 vào năm 2013. Để giải quyết tình trạng thiếu NNL y tế, Bộ Y tế đã
triển khai nhiều giải pháp. Trong đó, Đề án 1816, được triển khai từ năm
2008 đã cử các chuyên gia có kinh nghiệm từ các cơ sở y tế tuyến trên hỗ trợ
17
và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới. Ngay trong năm đầu thực hiện đề án
đã có 1037 lượt cán bộ thuộc 19 chuyên khoa đi hỗ trợ tuyến dưới trong thời
quan khác.
Nhận thức đúng tầm quan trọng về vai trò của NNL NYT, thủ tướng
Chính phủ đã có Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006
về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Trong đó, chỉ rõ phải phát triển NNL
NYT cân đối và hợp lý, phấn đấu bảo đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản đã đề
ra. Phát triển NNL NYT có trình độ cao, cán bộ y tế trên đại học để cung cấp
cho các cơ sở y tế. Bổ sung biên chế dược tá cho trạm y tế xã bảo đảm NNL
phục vụ công tác cung ứng thuốc tại tuyến xã. Ban hành quy hoạch mạng lưới
các cơ sở đào tạo cán bộ y tế, xây dựng tiêu chuẩn định mức và cơ cấu NNL y
tế hợp lý để kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xây dựng 2
trung tâm đào tạo cán bộ y tế tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ngang tầm
các nước tiên tiến trong khu vực. Xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp để các
trung tâm này có khả năng liên kết đào tạo với một số trường đại học của nước
ngoài trong lĩnh vực chuyên môn và quản lý y tế. Xây dựng kế hoạch nâng cấp
một cách có chọn lọc một số trường trung học y, dược của các tỉnh, thành phố
thành trường cao đẳng y, dược.
Bảo đảm NNL NYT đủ về số lượng, chất lượng nâng cao và cơ cấu hợp
lý cho các cơ quan, đơn vị y tế của thành phố Hà Nội sẽ tạo bước phát triển
mới của NYT Thủ đô phù hợp với quy hoạch phát triển toàn ngành và có điều
kiện thuận lợi thực hiện việc luân chuyển cán bộ; khuyến khích thầy thuốc về
công tác ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.
Từ cách tiếp cận, phân tích và luận giải trên, tác giả đưa ra quan niệm
Nguồn nhân lực ngành y tế là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, được thể hiện ở
19
số lượng, chất lượng và cơ cấu trong từng giai đoạn nhất định.
giáo dục và đào tạo, Sở Y tế thành phố chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện
đào tạo phát triển NNL NYT theo hướng tiếp cận phương thức đào tạo của các
nước tiên tiến trên thế giới. Trước mắt, đào tạo NNL NYT đi sâu vào đổi mới
một số chương trình đào tạo chủ chốt theo hướng dựa trên năng lực đáp ứng
với mô hình bệnh tật và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, gắn đào tạo với sử
dụng NNL. Triển khai nghiên cứu và đề xuất mô hình đào tạo ngành y, dược
theo hướng đảm bảo tính khoa học, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu nâng
cao chất lượng đào tạo NNL y tế.
Tuy nhiên, đổi mới đào tạo NNL y tế là một quá trình lâu dài, cần sự chỉ
đạo thống nhất của cơ quan quản lý cũng như sự tham gia tích cực của cả hệ
thống đào tạo nhân lực y tế hướng tới mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạo
đáp ứng yêu cầu thực tiễn chăm sóc sức khỏe nhân dân và hội nhập quốc tế.
UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Y tế thành phố triển khai thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp. Trong đó, tập trung phối hợp hiệu quả với các đơn vị đào tạo
trên địa bàn thành phố, xây dựng chính sách phù hợp, triển khai các đề án
phát triển NNL y tế cho thủ đô. Phát triển NNL y tế cân đối và hợp lý. Bảo
đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản: nâng tỷ lệ bác sỹ lên 12,5/10.000dân, Dược
sỹ đại học 2/10.000 dân. Đến năm 2020 lên tỷ lệ bác sỹ 13,5/10.000 dân; số
Dược sỹ đại học đạt 2,5/10.000 dân; nhân viên điều dưỡng từ 3 - 4 nhân
viên/bác sỹ. Phát triển NNL y tế trình độ cao, cán bộ y tế trên đại học để cung
cấp cho các cơ sở y tế. Bổ sung biên chế dược tá cho TYT xã bảo đảm NNL
phục vụ công tác cung ứng thuốc tại tuyến xã. Sắp xếp, mở rộng và nâng cấp
các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cán bộ y tế phù
hợp với quy hoạch phát triển NYT. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phát
triển đội ngũ giảng viên, giáo viên; xây dựng các tiêu chí kiểm định chất
lượng đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, giáo viên tại các trường y dược
của thành phố nhằm đáp ứng số lượng và chất lượng cán bộ y, dược, điều
dưỡng và nữ hộ sinh. Xây dựng kế hoạch nâng cấp trường Cao đẳng y, dược
21
qua việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, chưa đáp ứng được nhu cầu của cá nhân và
cộng đồng v.v… Dự báo nhu cầu NNL y tế đến năm 2020 cho các cơ sở y tế tiếp
tục tăng; bên cạnh đó, NYT Hà Nội tiến hành nâng cấp và xây mới cơ sở 2 của
Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội và Hà Đông thành Trường Đại học về các lĩnh
vực Y, Dược, Y tế công cộng; xây dựng mới 5 - 6 trường cao đẳng, trung cấp,
đào tạo kỹ thuật về y tế tại các tổ hợp theo quy hoạch. Do đó, nhu cầu NNL
NYT Hà Nội càng trở nên bức thiết.
Kế thừa kết quả nghiên cứu ở trên, tác giả quan niệm: Phát triển nguồn
nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội là hoạt động của các chủ thể làm
tăng số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu nguồn nhân lực
ngành y tế Thủ đô để thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khỏe của nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nội hàm quan niệm thể hiện ở những vấn đề sau:
Một là, phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội là hoạt động tích cực
chủ động của Thành uỷ, HĐND, UBND, các cơ quan hữu quan và nhân dân,
trực tiếp là Sở Y tế thành phố, các trường đào tạo ngành y và đội ngũ cán bộ,
nhân viên ngành y của thành phố Hà Nội. Hai là, phát triển NNL NYT của
thành phố được thể hiện ở tăng về số lượng, chất lượng và hợp lý về cơ cấu
NNL hoạt động trong cơ quan quản lý y tế các cấp, trong các bệnh viện, các
trung tâm y tế, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu của NYT thành phố Hà Nội.
Ba là, phát triển NNL này do Sở Y tế thành phố quản lý, dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Thành uỷ, chính quyền Thành phố. Bốn là, phát triển NNL NYT để
thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
1.2.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực ngành y tế củaTP.HN
Từ cách tiếp cận trên cùng những phân tích và luận giải trên, theo tác
giả để phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội đáp ứng được nhu cầu
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn thành
Nội được đánh giá, xác định cụ thể như nhu cầu NNL NYT theo biên chế;
24
tổng số NNL hiện có của ngành; tổng số NNL còn thiếu so với biên chế.
* Hai là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế
của thành phố Hà Nội
Chất lượng NNL là một trong những nội dung quan trọng bảo đảm cho
NYT của thành phố Hà Nội hoàn thành tốt nhiệm vụ trung tâm; đặc biệt trong
điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh, tính chất và mức độ bệnh tật ngày càng
phức tạp, nhu cầu KBCB của nhân dân cao đã và đang đòi hỏi yêu cầu cao về
chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Hà Nội. Vì lẽ đó, phát triển chất
lượng NNL là một nội dung, là tiêu chí quan trọng được Sở Y tế và UBND
thành phố Hà Nội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Theo đó, nâng cao chất lượng
NNL NYT của thành phố Hà Nội được đánh giá ở một số nội dung sau:
Về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của
NNL đã đạt được; tỷ lệ của từng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong tổng số
NNL hiện có; tỷ lệ đào tạo, bồi dưỡng theo từng cấp học hàng năm.
Về kỹ năng của NNL NYT của TP.HN: Khả năng đảm nhận, khả năng
hoàn thành nhiệm vụ; khả năng vận dụng kiến thức vào các thao tác của công
việc; khả năng xử lý tình huống, khả năng truyền đạt, thu hút sự chú ý, khả
năng ứng xử trong giao tiếp nội bộ và giao tiếp với nhân dân, với người bệnh.
Về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức của NNL NYT của thành phố
Hà Nội như: Ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác và hợp tác; trách nhiệm
và niềm say mê nghề nghiệp, năng động trong công việc; mức độ hài lòng của
người bệnh, của người được cung cấp dịch vụ y tế và đạo đức nghề nghiệp.
Đặc biệt là “vấn đề y đức”. Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện ở tình thương
yêu con người sâu sắc, đồng cảm và thấu hiểu với nỗi đau của đồng loại như
nỗi đau về bệnh tật, nỗi khổ về vật chất thiếu thốn, nghèo khó của nhân dân
cũng như tinh thần, nỗi đau khi phải mất mát người thân. Trên cơ sở đó, đội
phạm vi và cơ cấu bệnh tật rất phức tạp. Trong xu thế hội nhập, Hà Nội có
một số lượng lớn người nước ngoài đến, lưu trú và đi nên nguồn lây nhiễm
26