MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức nghề nghiệp là phẩm chất quan trọng của nhân cách; là nền
tảng, là động lực thôi thúc, khơi dậy lòng nhiệt huyết, trách nhiệm của cá
nhân đối với nghề nghiệp. Việc giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo
đức nghề nghiệp nói riêng là trung tâm chú ý của các cơ sở giáo dục, các tổ
chức xã hội - nghề nghiệp và của toàn xã hội. Nghiên cứu về đạo đức nghề
nghiệp, phát huy ý thức đạo đức nghề nghiệp là góp phần làm rõ được vai trò
của ý thức xã hội đối với sự phát triển của tồn tại xã hội.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách, là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của hệ thống giáo dục và
của các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề. Văn kiện Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám khóa XI khẳng định: “Đào tạo con
người Việt Nam, phát triển toàn diện, có đạo đức tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [16, tr. 79].
Trong những năm gần đây, lực lượng CAND luôn thường xuyên quan
tâm đến công tác xây dựng lực lượng. Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh
đạo Bộ Công an đã tổ chức quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các chỉ
thị, nghị quyết của Đảng, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong
thực hiện công tác xây dựng lực lượng CAND vững mạnh, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Bộ Công an ban hành nhiều chủ
trương, biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên, cán bộ, chiến sĩ,
lấy việc xây dựng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị, lòng
trung thành với Đảng làm mục tiêu giáo dục, rèn luyện; tổ chức thực hiện có
hiệu quả Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh - CAND vì nước quân thân, vì dân phục vụ", phong trào "Học tập và
3
của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung
quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng
sản". Luận điểm này đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quản
lý giáo dục phẩm chất nhân cách trong đó có giáo dục đạo đức nhằm đảm bảo
cho con nguời phát triển một cách toàn diện.
Hồ Chí Minh (1890 - 1969), vừa là nhà giáo dục vừa là nhà tổ chức
thực tiễn về quản lý giáo dục và coi giáo dục là một nhiệm vụ trọng tâm của
cách mạng. Người coi trọng cả đức và tài trong nhân cách người cán bộ, đảng
viên, nhưng trong đó đức phải là gốc, đức phải có trước tài. Người nói: “Cũng
như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đức, không có
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [24, tr.252 253]. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến ĐĐNN, coi đó là một trong những yếu tố
quyết định thành công trong lao động nghề nghiệp. Người chỉ yêu cầu về
ĐĐNN ở một số lĩnh vực như nghề y, nghề giáo, nghề làm báo, kinh doanh,
cán bộ chiến sĩ quân dội, công an... Bàn về quản lý giáo dục Người rất coi
trọng nguyên tắc khoa học trong quá trình kế hoạch hóa. Người căn dặn, khi
lập kế hoạch giảng dạy, học tập đều cần phải tuân theo nhu cầu của dân tộc,
của Nhà nước; chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Người nhấn mạnh, một chương trình
nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm
không được. Như vậy, theo Người, tính thiết thực và công tác quản lý phải
xuyên suốt trong tất cả các khâu, các bước của quá trình giáo dục.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức nghề nghiệp; về quản lý; về giáo dục và quản lý giáo dục là cơ sở lý luận
khoa học, là những luận điểm sư phạm định hướng quá trình giáo dục đạo
đức, đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên, đội ngũ cán bộ, đảng viên.
* Một số công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục
đạo đức nghề nghiệp
6
Tác giả Hà Nhật Thăng với nghiên cứu “Giáo dục hệ thống giá trị đạo
đức nhân văn (1998). Cuốn tài liệu được nhiều người biết đến bởi tác giả đã
nêu lên được hệ thống giá trị đạo đức nhân văn của con người Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Tác giả Phạm Khắc Chương đã đi sâu bàn về giáo dục đạo đức trong
tác phẩm “Chi nam nhân cách học trò” (1992), Nxb Đại học Sư phạm Hà nội
(2000) và tác phẩm "Một số vấn đề giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức ở
trường phổ thông”, Nxb Giáo dục (1995).
Tác giả Đặng Vũ Hoạt (1992), trong công trình nghiên cứu “Đổi mới
hoạt động giáo viên chủ nhiệm lớp với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên”,
Tập san nghiên cứu giáo dục, số 8. Ông đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo
viên chủ nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh và đưa ra một
số định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến
phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ở nhà trường phổ thông.
Tác giả Nguyễn Kim Bôi (2012) nghiên cứu về “ Một số giải pháp
nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông Trần
Đăng Ninh - Hà Tây”. Từ thực trạng đạo đức của học sinh của nhà trường mà
tác giả coi là tiêu biểu cho đặc điểm của nhiều trường ở nông thôn Việt Nam,
tác giả đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh trung học phổ thông.
Bên cạnh đó, có nhiều công trình bàn về chuẩn mực đạo đức của con
người Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Viết Chức (chủ biên 2001), “Đạo đức,
lối sống và đời sống văn hóa Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội; Nguyễn Thanh
Duy (2004) “Văn hóa đạo đức, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội...
Đặc biệt, trong 2 công trình nghiên cứu của tác giả Huỳnh Khái Vinh,
“Việt Nam tinh hoa đạo đức” (2001), Nxb Hà Nội và “Một số vấn đề về lối
8
vào nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong tình hình mới."
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
* Phương pháp luận nghiên cứu
11
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và cụ thể hóa các quan
điểm của Đảng về giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện trong
điều kiện CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Đồng thời, luận văn sử
dụng các quan điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử - lôgic và quan điểm thực tiễn
để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định.
* Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu liên quan và đưa ra các
nhận định độc lập về giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo
đức nghề nghiệp; chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng và
nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an về giáo dục
đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp để luận giải
làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát: Thực hiện quan sát hoạt động giáo dục đạo
đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên để
đưa ra đánh giá, kết luận về thực trạng và đề xuất các biện pháp có tính khả
thi cho việc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Trường Cao
đẳng ANND I.
+ Phương pháp điều tra: Điều tra 125 cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên
và 180 học viên đào tạo chính quy tại trường, nhằm thu thập thông tin, số liệu
minh chứng cho những nhận định, phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Trường Cao đẳng ANND I, xác định
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Đạo đức nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của người công
an nhân dân
* Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu
như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học…
mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và đã tạo ra một hệ thống lý luận rất
phong phú và sâu sắc.
Dưới góc độ Triết học: "đạo đức là một trong những hình thái sớm
nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều
tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng.
Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mọi
người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ
và danh dự".
Dưới góc độ Đạo đức học: "đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội".
Dưới góc độ Giáo dục học: "'đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan
hệ của con người với con người".
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì đạo đức: "là phép tắc về quan hệ giữa
người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội".
Theo quan điểm Mác - Lênin thì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
có nguồn gốc từ lao động, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống cộng đồng xã
hội. Đạo đức phản ánh và chị sự chi phối của tồn tại xã hội. Mỗi phương thức
14
15
hiện, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực, được dựa trên cơ sở kinh tế,
chính trị - xã hội nhất định.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử đều có những
nguyên tắc hay chuẩn mực đạo đức tương ứng gắn liền với hành vi, thói quen,
tập quán sống, nên đạo đức thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của
nhân loại; nghĩa là, có những giá trị đạo đức của ngày hôm qua, nhưng hôm nay
không còn phù hợp; hay có những giá trị đạo đức của dân tộc này, nhưng ở dân
tộc khác, giai cấp khác lại không được thừa nhận. Do đó, đạo đức mang tính giai
cấp, tính dân tộc và tính thời đại sâu sắc.
Đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là
một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. Trong xã hội có bao nhiêu nghề thì có
bấy nhiêu thứ ĐĐNN. Nó là đạo đức được thể hiện một cách đặc thù, cụ thể
trong các hoạt động nghề nghiệp. ĐĐNN cũng có những nguyên tắc, chuẩn
mực được dư luận xã hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong
mối quan hệ xã hội. Đó là những qui tắc, chuẩn mực của một nghề nghiệp
hoặc một nhóm nghề nghiệp nào đó, nó qui định những hành vi ứng xử của
những cá nhân khi hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. Với tính cách là
một dạng của đạo đức xã hội, ĐĐNN có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá
nhân và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân.
C.Mác đã thể hiện bản lĩnh của mình khi viết rằng, “Nếu ta chọn một
nghề trong đó ta có thể làm việc được nhiều hơn cho nhân loại, thì ta không
còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự hy sinh vì mọi người.
Những việc làm của ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi mãi có
hiệu quả, và trên thi hài của chúng ta sẽ nhỏ xuống những giọt nước mắt nóng
bỏng của những con người cao quý”.
Từ phân tích trên, đề tài quan niệm: Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống
các nguyên tắc ứng xử, các chuẩn mực hành vi đòi hỏi phải tuân theo trong
hoà bình lại càng nhiều việc". Vì vậy với lực lượng CAND thì phẩm chất đạo
đức phải đạt chuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:
“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.
17
Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành.
Với nhân dân phải kính trọng lễ phép.
Với công việc phải tận tuỵ.
Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.” [24, tr.498-499]
“Tư cách người Công an cách mệnh” đã trở thành di sản tinh thần
thiêng liêng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND; là
chuẩn mực đạo đức, lối sống, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện, phương châm
hành động, biện pháp công tác của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an; là
nguồn gốc, động lực, cội nguồn sức mạnh để lực lượng CAND vượt qua mọi
khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Nội dung Sáu điều Bác Hồ dạy là sự khái quát hình mẫu người cán bộ,
chiến sĩ CAND với những phẩm chất quan trọng: Có lập trường tư tưởng vững
vàng, kiên định, có ý chí tiến công cách mạng, tuyệt đối trung thành với sự
nghiệp cách mạng do Đảng và Bác Hồ lựa chọn; sẵn sàng hy sinh để bảo vệ
Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới
đất nước và hội nhập quốc tế; hết lòng vì nhân dân phục vụ, lấy niềm vui và
hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình. Học tập và thực hiện
Sáu điều Bác Hồ dạy CAND đã trở thành phong trào thi đua rộng lớn, liên tục
trong 70 năm qua, luôn là nội dung trọng tâm công tác chính trị, tư tưởng của lực
lượng CAND trong các giai đoạn cách mạng trước đây, cũng như trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
1.1.2. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên ở trường cao đẳng
an ninh nhân dân
như nền tảng chính trị, tinh thần, phong tục tập quán, đạo đức xã hội.
Từ cách tiếp cận trên, tác giả quan niệm: Giáo dục ĐĐNN cho học viên
ở trường cao đẳng ANND là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của
các chủ thể giáo dục đối với học viên nhằm hình thành những phẩm chất
phù hợp với giá trị, chuẩn mực ĐĐNN người CAND đáp ứng mục tiêu, yêu
cầu đào tạo. Giáo dục ĐĐNN cho học viên trường cao đẳng ANND là quá
19
trình tác động có hệ thống đến người học viên nhằm hình thành, phát triển
những chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, chiến sĩ CAND. Đó là quá
trình chuyển hóa những chuẩn mực, giá trị đạo đức của người công an trở
thành nhu cầu bên trong của mỗi học viên.
* Mục tiêu giáo dục ĐĐNN cho học viênở trường cao đẳng ANND:
Là trang bị cho học viên những tri thức, chuẩn mực, sự đánh giá về
đạo đức, hình thành thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng
với bản thân, với mọi người, với nghề nghiệp. Rèn luyện cho mỗi học viên tự
giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức của người chiến sĩ CAND, tích cực
cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật
tự an toàn xã hội, xứng đáng là người chiến sĩ công an cách mệnh theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh.
* Nội dung giáo dục ĐĐNN cho học viên ở trường cao đẳng ANND:
. Giáo dục ĐĐNN cho học viên trường cao đẳng ANND là tiến hành
giáo dục hệ thống những giá trị, chuẩn mực đạo đức của người công an;
Giáo ý thức, thái độ, hành vi, rèn luyện những thói quen cho bản thân cả về
trí tuệ, tâm hồn lẫn nhân cách của học viên trong học tập, công tác. Cụ thể,
với học viên trường cao đẳng CAND, giáo dục ĐĐNN tập trung vào một số
nội dung sau:
Thứ nhất, giáo dục lòng yêu nước, lòng trung thành, tận tâm, tận lực
phục vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
uy tín của Ngành Công an trong xã hội.
Gương mẫu nghiêm chỉnh chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước; Chỉ thị, nghị quyết và điều lệnh
CAND; chấp hành tốt nội qui, kỷ luật của Ngành và của nhà trường, quy chế
quản lý giáo dục học viên.
..Giáo dục chủ nghĩa tập thể, mình vì mọi người, đặt lợi ích cộng đồng
lên trên lợi ích cá nhân, tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực do tập thể đề
21
ra, có tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau trong thực hiện công việc
chung; có ý thức xây dựng tập thể, tự phê bình và phê bình trong học tập,
công tác.
Thứ tư, giáo dục giá trị lao động, lòng yêu Ngành, yêu nghề; giáo dục
nghĩa vụ đạo đức và lương tâm nghề nghiệp..
.......Giáo dục để học viên nhận thức rõ ý nghĩa và giá trị to lớn của lao
động, giáo dục nâng cao tình yêu lao động, lòng tin vào sức sáng tạo của con
người và những thành quả to lớn mà lao động mang lại, có tinh thần nhiệt
tình, hăng say, cần cù trong lao động.
Có tình yêu nghề, say mê và gắn bó về nghề, khiêm tốn, giản dị, trung
thực, tận tuỵ với công việc chuyên môn. Có ý trí vươn lên, khắc phục mọi khó
khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
......Giáo dục nghĩa vụ đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, ý thức trách
nhiệm đối với hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp, là thái độ và
cách ứng xử của người làm nghề trước lợi ích của người khác, của xã hội; là
sự tự phán xử về các hoạt động, các hành vi nghề nghiệp của mình. Giáo dục
ý thức về nghĩa vụ ĐĐNN để làm nền tảng, là cơ sở để hình thành lương tâm
nghề nghiệp của mỗi người.
* Phương pháp giáo dục ĐĐNN cho học viên ở trường cao đẳng ANND:
Giáo dục ĐĐNN là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể. Giáo
Theo nghĩa rộng, “quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Quản
lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn” . Quản lý còn được hiểu
là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng
bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định.
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các
quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích,
đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.
Ở góc độ khác, tác giả Trần Kiểm cho rằng Quản lý là nhằm phát huy
sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành
23
những thành tựu của xã hội. Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục
đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận
lợi và đạt tới mục đích dự kiến.
Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận và khái niệm khác nhau về quản lý,
song nhìn chung các định nghĩa đều thể hiện: Quản lý là một hoạt động luôn
có trong quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng
làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển. Nó được tiến hành trong một
tổ chức hay một hệ thống xã hội. Đó là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý vừa là khoa học, vừa là
nghệ thuật. Bởi thế, trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý, người cán bộ
quản lý phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để chỉ đạo hoạt động của tổ
chức một cách khoa học nhằm đạt được mục đích đề ra của tổ chức.
Như vậy, quản lý là quá trình chủ thể quản lý tác động vào đối tượng
quản lý nhằm huy động, sử dụng, điều chỉnh các nguồn lực (nhân lực, tài lực,
vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
Quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên các trường đại học,
cao đẳng hiện nay là một nội dung bộ phận của khoa học quản lý giáo dục,
một khâu quan trọng trong quy trình quản lý giáo dục - đào tạo, là sự tác động
có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn những hành vi, thói quen nghề nghiệp
theo chuẩn mực đạo đức, phù hợp với quy luật khách quan và làm cho tổ chức
vận hành đạt hiệu quả mong muốn.
Từ sự luận giải trên, theo tác giả: Quản lý giáo dục ĐĐNN cho học
viên ở trường cao đẳng ANND là sự tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý
đối với toàn bộ quá trình giáo dục ĐĐNN cho học viên, nhằm đảm bảo cho
quá trình giáo dục ĐĐNN diễn ra theo đúng yêu cầu nội dung và đạt được
hiệu quả đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục của Nhà trường.
Về bản chất, quản lý giáo dục ĐĐNN cho học viên là quá trình tác động
có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình giáo
25
dục ĐĐNN nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục ĐĐNN đề ra. Như
vậy, Quản lý giáo dục ĐĐNN cho học viên ANND là những tác động có tính
hướng đích, không bó hẹp trong quá trình dạy học, mà là tổng hợp các hoạt động
sư phạm, đồng thời quản lý quá trình giáo dục ĐĐNN cũng không tách rời quản
lý các nội dung học tập khác như văn hoá, chính trị, pháp luật, kỷ luật... mà
chúng đan xen vào nhau, quy định lẫn nhau, bổ sung cho nhau nhằm giáo dục
phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh.
Mục tiêu quản lý giáo dục ĐĐNN cho học viên: Là những kết quả dự
kiến sẽ đạt được do quá trình vận động của đối tượng quản lý dưới sự tác
động của chủ thể quản lý; sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng và hành
động của chủ thể và đối tượng quản lý. Mục tiêu của quản lý giáo dục ĐĐNN
cho học viên là làm cho quá trình giáo dục ĐĐNN vận hành đồng bộ, hiệu quả
để nâng cao chất lượng giáo dục ĐĐNN. Qua đó, giúp cho lực lượng sư phạm
nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục ĐĐNN,
lý các điều kiện đảm bảo cho quá trình giáo dục ĐĐNN...
Phương pháp quản lý giáo dục ĐĐNN: bao gồm toàn bộ những cách
thức, biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã
xác định. Hệ thống công cụ quản lý gồm: các chỉ thị, nghị quyết của các tổ
chức đảng; pháp luật của Nhà nước; Điều lệ CAND; những quy định của Bộ
Công an; Điều lệ Trường ANND; quy chế giáo dục và đào tạo và chương
trình, kế hoạch, mệnh lệnh của chỉ huy các cấp. Sử dụng đồng bộ nhiều
phương pháp quản lý, song cần tập trung vào ba phương pháp chủ yếu, đó là:
phương pháp hành chính; phương pháp tâm lý xã hội; phương pháp kích thích
bằng vật chất, tinh thần...
Như vậy, thực chất, quản lý giáo dục ĐĐNN cho học viên là những tác
động quản lý có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác rèn luyện kỹ năng, các thói
quen, hành vi đạo đức để hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân
27