|
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN
3
VỮNG Ở TỈNH LÀO CAI
1.1. Một số vấn đề chung về nghèo, giảm nghèo và
12
giảm nghèo bền vững
1.2. Quan niệm, nội dung và các yếu tố tác động đến
12
giảm nghèo bền vững ở tỉnh Lào Cai
Chương 2. THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở
28
TỈNH LÀO CAI THỜI GIAN QUA
2.1. Thành tựu hạn chế về hoạt động giảm nghèo bền
41
vững ở tỉnh Lào Cai giai đoạn (2010 - 2015)
2.2. Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra
1. Lý do chọn đề tài
Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội của
đất nước đã có những thay đổi mạnh mẽ, toàn diện. Một trong những sự thay
đổi đó là tình trạng đói, nghèo ngày càng giảm, một bộ phận dân cư đã thoát
nghèo và trong đó có những hộ đã trở nên khá giả. Nguyên nhân của những đổi
thay đó là trong những năm qua, vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm. Sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thông qua những chủ
trương, chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo như tập trung các nguồn lực cho
phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành CNH, HĐH và xây dựng nông thôn mới;
thực hiện ưu tiên phát triển kinh tế cho từng vùng, miền; đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn; ưu đãi tín dụng cho người nghèo và huy động các nguồn vốn
cho hoạt động xóa đói giảm nghèo...
Tuy nhiên, tỷ lệ đói nghèo của cả nước nói chung, của khu vực nông thôn,
và các tỉnh miền núi vẫn còn khá cao. Đời sống một bộ phận dân cư nông
nghiệp và nông thôn còn thấp. Sự phân hóa giàu nghèo đang có xu hướng diễn
ra và tăng nhanh trong cộng đồng xã hội. Điều dễ thấy là tình trạng tái nghèo
của một bộ phận dân cư cứ lặp đi, lặp lại đã gây ra nhiều hệ lụy về mặt kinh tế
và xã hội cho các địa phương. Do vậy, hiện nay chương trình xóa đói giảm
nghèo bền vững đang được đặt ra cấp thiết với các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Thực tế, đây là vấn đề khó khăn phức tạp đòi hỏi phải có chương trình, kế hoạch,
nguồn lực và tổ chức chỉ đạo thực hiện một cách thiết thực, hiệu quả.
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc Việt Nam, có
203,5 km đường biên giới giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), có 8 huyện,
1 thành phố, trong đó có 4 huyện biên giới. Toàn tỉnh có 164 xã, phường,
trong đó có 81 xã đặc biệt khó khăn, dân số là 557.000 người, trong đó người
dân tộc ít người chiếm 64,09%. Theo kết quả điều tra (chuẩn nghèo đói giai
đoạn 2011 - 2015), đến tháng 8 năm 2015 tỉnh Lào Cai có 50.105 hộ nghèo,
3
4
|
Đến nay, đã có nhiều công trình, đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề
XĐGN ở các góc độ khác nhau. Liên quan trực tiếp đến đề tài của luận văn, có
thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
* Những công trình nghiên cứu về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
phạm vi quốc gia:
Lê Xuân Bá (Chủ biên 2001), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Công trình đã phân tích những nét rất
cơ bản về vấn đề nghèo đói và XĐGN ở Việt Nam. Khái quát về vấn đề
nghèo đói trên thế giới và nêu lên thực trạng nghèo đói ở Việt Nam qua
nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở một số tỉnh thành và đưa ra định hướng
XĐ, GN ở Việt Nam
Phạm Gia Khiêm: “Xóa đói giảm nghèo ở nước ta - thành tựu, thách
thức và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản, số 3 - 2006. Trên cơ sở khái quát
những thành tựu, hạn chế trong hoạt động xoá đói giảm nghèo ở nước ta giai
đoạn 2001 - 2005, tác giả bài viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
tính hiệu quả và đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai
đoạn (2006 - 2010).
Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (2007), Tăng
trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - Thành tựu, thách thức và giải
pháp. Công trình đã đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội và công tác
XĐ, GN ở Việt Nam trong những năm qua, đồng thời xác định mục tiêu và
chỉ ra các giải pháp để xoá đói giảm nghèo trong thời gian tới.
Bộ lao động - Thương binh và xã hội, Cơ quan Liên hiệp quốc tại Việt
Nam (2009) Đánh giá giữa kỳ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo,
giai đoạn 2006 - 2008, Nxb Thanh niên, Hà Nội. Công trình nhận định bối
cảnh nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng; khái
lực cho phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề về an sinh xã hội nhằm
đảm bảo giảm nghèo một cách bền vững.
Lê Quốc Lý, chủ nhiệm đề tài (2010), Tổng kết và đánh giá thực tiễn
thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010; xây
6
|
dựng cơ chế, chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo phục vụ công tác
quản lý điều hành của Đảng trong giai đoạn 2011- 2020, Đề tài khoa học, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Công trình đã đi
sâu phân tích những thành tựu, hạn chế và những nhân tố tác động, nguyên
nhân hạn chế của quá trình thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
giai đoạn 2001 – 2010; đồng thời đề xuất, kiến nghị với các cấp về các vấn đề
cần đề cập đến trong xây dựng cơ chế, chính sách và giải pháp XĐGN cho giai
đoạn 10 năm tới.
* Các công trình nghiên cứu về đói - nghèo và xoá đói, giảm nghèo có
liên quan đến một số chủ thể, lĩnh vực hoặc ở một số địa phương:
Lê Du Phong (Chủ biên 1999), Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu
nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Công trình đã phân tích nền kinh tế thị trường và sự phân
tầng kinh tế xã hội nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. Khái
quát quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo ở
nước ta; đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, thực trạng phân hoá giàu nghèo ở
vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải
pháp giảm sự phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường ở các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta.
Nguyễn Thị Cảnh (2001), “Diễn biến mức sống dân cư phân hóa giàu
nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế Việt nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động –
những người nghèo.
* Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp trừu
tượng khoa học mang tính đặc thù kinh tế chính trị và kết hợp các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như điều tra, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp
v.v... để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài.
- Trong nghiên cứu, tác giả đã kế thừa có chọn lọc những kết quả
nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, về giảm nghèo bền vững ở nước ta và các
địa phương. Trong thực thi nghiên cứu các số liệu thứ cấp được thu thập
thông qua các báo cáo của Đảng bộ, Ủy ban nhân dân, Hội nông dân tỉnh, sở
Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Lào Cai; tham khảo các tài liệu liên quan
trên Internet, tạp chí… Các số liệu sơ sơ cấp cũng được thu thập qua khảo sát
10
|
thực tế và trao đổi với các cơ quan nghiệp vụ của tỉnh Lào Cai.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy.
- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh
đạo tỉnh trong thực hiện và cụ thể hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước
góp phần thực hiện giảm nghèo bền vững ở tỉnh Lào Cai một cách hiệu quả.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung (3 chương – 6 tiết), Phần
kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục.
11
Đói là thuật ngữ chỉ hiện trạng những người (sinh vật) không đủ dinh
dưỡng để duy trì sự sống bình thường. Thông thường trong đời sống của con
12
|
người, đói là tính từ chỉ những người không đủ vật phẩm cần thiết để duy trì
sự sống. Trong thực tế, người ta thường dùng thuật ngữ đói ăn, đói mặc (bao
gồm cả những người chủ động ăn đói mặc rách để làm giàu)...Như vậy, đói
dùng chỉ những người không có đủ lương thực để ăn hàng ngày. Những người
rơi vào tình trạng đói thường không có điều kiện để phát triển về thể lực do
đó khả năng làm việc thấp, nếu tình trạng đói kéo dài có thể nguy hiểm đến
tính mạng (chết đói).
Nghèo là thuật ngữ dùng để chỉ người thiếu thốn những điều kiện vật
chất, tinh thần để duy trì cuộc sống, lao động một cách bình thường (nghèo
tiền bạc, nghèo tri thức, nghèo tình cảm...) thông thường nghèo dùng để chỉ cá
nhân, một nhóm hoặc một cộng đồng dân cư có thu nhập bình quân thấp theo
những tiêu chí nhất định.
* Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban
Kinh tế xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng vào
09/1993 tại Thái Lan đã định nghĩa: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu
cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
phong tục tập quán của địa phương”. Đây chính là một khái niệm chung nhất về
nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá,
nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt
lượng hóa (định lượng) được bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh
lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và trình độ phát triển của mỗi
vùng, miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất khái niệm này đã đưa ra được đó
chính là những nhu cầu cơ bản của con người nếu không được thỏa mãn thì họ
ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo.
Trong những năm gần đây, để đánh giá mức nghèo của một quốc gia
hay một vùng lãnh thổ, người ta còn sử dụng chỉ số nghèo của con người HPI (human poverty index) và hệ số bất bình đẳng về thu nhập và mức sống
của giữa các tầng lớp dân cư – Hệ số GINI (Gini Index, do nhà Thống kê học
người Ý Corrodo Gini công bố 1912) Chỉ số HPI bao gồm: tỉ lệ người sống
14
|
dưới 40 tuổi; tỉ lệ người lớn mù chữ; tỉ lệ người không được tiếp cận dịch vụ
y tế, nguồn nước sạch và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức
chênh lệch về thu nhập và mức chi tiêu giữa 20% người giàu nhất với 20%
người nghèo nhất.
Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường
cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới
đường bình đẳng tuyệt đối. Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc hàng năm
công bố bản báo cáo về khoảng cách thu nhập của thế giới. Công cụ thông
thường để tính toán về sự bất bình đẳng là hệ số Gini. Hệ số này càng cao, xã
hội càng thiếu công bằng. Kết quả năm 2015 cho thấy, Đan Mạch là một
trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng
cách chênh lệch về thu nhập thấp nhất thế giới. Hệ số Gini của quốc gia Bắc
Âu này chỉ là 24,7%. Tại châu Á, quốc gia có khoảng cách giàu - nghèo thấp
nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 24,9% [46, tr.9].
* Ở Việt Nam, đối tượng nghèo thường được chia làm 3 loại: hộ nghèo,
xã nghèo và huyện nghèo. Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai
đoạn 1998-2000 của Việt Nam đã căn cứ vào các cách phân chia trên để đưa
ra các khái niệm: người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo.
Người nghèo: là tình trạng người dân chỉ có điều kiện thoả mãn một phần
những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức
nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế
giới. Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận
chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao,
hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.
Kinh nghiệm, cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói
là không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các
quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường
hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản
16
|
về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách
hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng
xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,
nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình
trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền
vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo. Vì trong cùng một thời điểm,
người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những
khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc
điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm
bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được
tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm
đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập
thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá
nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế. Đã đến lúc xem xét,
đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con
người và nghèo về xã hội.
quan tâm đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu
nhập thấp nhất.
Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương đã
được cụ thể hoá bằng mục tiêu trong chương trình quốc gia xóa đói giảm
nghèo và chương trình của từng địa phương để thực hiện công tác xóa đói
giảm nghèo.
Khi bàn về nghèo và giảm nghèo, không thể không đề cập đến “chuẩn
nghèo” - ranh giới để phân biệt người nghèo với bộ phận dân cư còn lại.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời
gian. Theo Ngân hàng thế giới (WB), vào thời điểm những năm 80 của thế kỷ
XX, tiêu chí xem xét một người bị coi là nghèo đói cho các nhóm nước:
Đối với nước chậm phát triển có thu nhập dưới 0,5 USD/ ngày.
Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ ngày.
Các nước thuộc Châu Mỹ la tinh và Caribe là 2USD/ ngày
Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày; các nước công nghiệp phát triển là
14,4 USD/ ngày. Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình,
thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà WB đưa ra.
18
|
Ví dụ: năm 2000, Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là 5190 nhân dân tệ
/người/năm, tương đương 1,3USD/ngày/người. Năm 2010 tiêu chí xác định
chuẩn nghèo là 7800 tệ /người/năm, tương đương 2USD/ngày/người. Năm
2015 tiêu chí đó là 13.600 tệ/người/năm, khoảng 3,5USD/ngày/người.
* Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của Việt Nam (Chương trình
xóa đói giảm nghèo quốc gia).
Để đánh giá một cách chính xác kết quả hoạt động giảm nghèo của cả
nước cũng như trên địa bàn mỗi tỉnh, thành phố, cần dựa vào chuẩn nghèo (ở
từng thời điểm, với từng địa phương cụ thể) do Nhà nước quy định.
Các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách thành phố, thị xã, khu
công nghiệp, trung tâm thương mại, quốc lộ, tỉnh lộ trên 10 Km.
Không có đường ôtô vào xã; các công trình điện, thủy lợi, nước sạch,
trường học, bệnh xá, các dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
Môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ
và thất học trên 50%, bệnh tật nhiều, hủ tục lạc hậu, không có thông tin.
Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn; số hộ không có đất và thiếu
đất sản xuất trên 20%, số hộ có người làm thuê trên 20%.
Số hộ nghèo đói trên 30%. Đời sống còn nhiều khó khăn, còn tình trạng đói.
Năm 2002, Bộ LĐ-TB&XH có Quyết định số: 587/2002/QĐ-BLĐTBXH
quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đủ 2 tiêu chí sau:
Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau:
Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch; dưới 50% số hộ được sử
dụng điện sinh hoạt; chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại
được cả năm; số phòng học mới đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc
phòng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá; chưa có trạm y tế hoặc có nhưng nhà tạm;
chưa có chợ hoặc chợ tạm thời.
* Các tiêu chí phân loại theo tiêu chuẩn tiếp cận phương pháp đa chiều:
Ngày 15 – 9 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “ Chuyển đổi phương pháp tiếp cận
đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 20
|
2020”. Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã phối hợp với Tổng cục
Thống kê và các bộ, ngành liên quan tính toán các tiêu chí cụ thể như sau:
Các tiêu chí về thu nhập:
Chuẩn mức sống tối thiểu: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông
thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
hụt dưới 30/100 điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập
bình quân đầu người/tháng cao hơn 1.000.000 đồng ở khu vực nông thôn,
1.300.000 đồng ở khu vực thành thị và thiếu hụt từ 30/100 điểm thiếu hụt tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng dưới 1.500.000 đồng và cao hơn 1.000.000 đồng ở khu vực nông
thôn; dưới 1.950.000 đồng và cao hơn 1.300.000 đồng ở khu vực thành thị.
[42, tr.217]
Nhìn chung đến nay, chưa có một quan niệm chuẩn mực về nghèo được
chấp nhận chung có thể áp dụng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, có một sự đồng
thuận về quan niệm nghèo, đó là nghèo là một hiện tượng biểu hiện đa chiều.
Ngân hàng thế giới (2012) cho rằng nghèo là sự thiếu thốn không thể chấp
nhận được trong đời sống. Những sự thiếu thốn này là những thiếu hụt mang
tính thiết yếu và có tương quan đến nhau, bao gồm thiếu ăn hoặc đói; thiếu
thu nhập, học hành, chăm sóc sức khỏe, điều kiện vệ sinh; không có cơ hội
tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị... Ở Việt Nam, nghèo đa
chiều được xây dựng theo hướng kết hợp chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước
sạch và vệ sinh, nhu cầu thông tin được áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020
theo quy định của Thủ tướng Chính phủ (2015)
1.1.3. Khái niệm giảm nghèo, giảm nghèo bền vững và phương thức,
công cụ giảm nghèo bền vững
* Giảm nghèo theo nghĩa chung nhất là giảm thiểu số người nghèo, hộ
nghèo, xã nghèo, huyện nghèo của quốc gia trong một thời gian nhất định
22
|
|
Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững, xét về ngữ nghĩa là những khái
niệm không đồng nhất về nội hàm nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Giảm nghèo thuần tuý chỉ là sự giảm thiểu số lượng (hoặc tỷ lệ %) các đối
tượng nghèo theo chuẩn cố định trên một địa bàn và trong một thời gian nhất
định. Giảm nghèo bền vững, trước hết cũng là giảm thiểu các đối tượng nghèo
nhưng phương thức thực hiện có tính đồng bộ, cơ bản, thiết thực, ổn định và
hiệu quả hơn.
Giảm nghèo nhanh, bền vững là tiêu chí cơ bản cho sự tăng trưởng kinh
tế và tiến bộ xã hội ở nước ta hiện nay. Kinh phí, lực lượng, phương thức tiến
hành hoạt động giảm nghèo có thể còn hạn chế để có thể đồng thời giải quyết
một lúc tất cả những vấn đề đặt ra nhưng chính sách, mục tiêu, chương trình
giảm nghèo bền vững những năm qua của Nhà nước và từng địa phương đã
đem lại nhiều kết quả tích cực.
Tuy vậy, trên thực tế có địa phương vì muốn giảm nghèo nhanh nên sử
dụng giải pháp mang tính tình thế như dùng ngân sách hoặc vận động các tổ
chức, cá nhân trợ cấp tiền, lương thực, thực phẩm, xây dựng sửa chữa nhà cửa
cho các đối tượng nghèo để thoát nghèo. Phương thức giảm nghèo này chỉ
thực sự hợp lý đối với những người nghèo vì bệnh tật, hoặc gặp rủi ro vì thiên
tai và không có khả năng lao động... Còn các đối tượng nghèo do không có
vốn, không có kinh nghiệm sản xuất thì phương thức giảm nghèo phải giúp họ
biết lao động sản xuất, làm kinh tế, tự vươn lên để thoát nghèo.
Giảm nghèo bền vững ở tầm quốc gia cũng như trong phạm vi một địa
phương là không hề đơn giản. Bời vì những người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo
thường là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi có những biến động về
kinh tế, xã hội; những diễn biến bất thường thời tiết, khí hậu...Đối tượng
nghèo thì thường không có ý chí, thiếu lòng tự tin, ít khả năng về vật chất …
Vì vậy, giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ không hề đơn giản và cần có thời
truyền thống thì tác động không lớn.[22, tr.13].
Tốc độ giảm nghèo nhanh được thể hiện nhờ vào việc tập trung chuyển
dịch cơ cấu và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, tăng
25
|
thu nhập cho người nghèo, tạo cơ hội nhiều hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa phát triển, nhằm tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, tạo cho tăng
trưởng trên diện rộng với chất lượng cao và bền vững. Giảm nghèo bền vững
không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo
ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động vươn lên thoát nghèo. Giảm nghèo
không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các
đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt
bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi
dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn.
* Về phương thức giảm nghèo bền vững: Có nhiều phương thức hỗ
trợ người nghèo trong giảm nghèo bền vững như hỗ trợ sản xuất kinh doanh;
hỗ trợ cải thiện điều kiện sống, hỗ trợ nâng cao năng lực thoát nghèo; hỗ trợ
khi gặp khó khăn do thiên tai. Thực tế trong phương thức hỗ trợ sản xuất,
kinh doanh, tạo điều kiện để người nghèo có thể tiếp cận và sử dụng nguồn
nhân lực chung và riêng bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội có ý
nghĩa quan trọng hàng đầu. Đồng thời, một phương thức hỗ trợ hữu hiệu sản
xuất kinh doanh là tư vấn cho người nghèo cách thức quản lý, làm ăn. Bên
cạnh đó thì phương thức hỗ trợ thu nhập, hỗ trợ điều kiện sống, hỗ trợ nâng
cao năng lực người nghèo vừa có tính cấp thiết, vừa có tác động tích cực
nhiều mặt đến tình hình giảm nghèo bền vững.
Để thực hiện các phương thức hỗ trợ người nghèo thoát nghèo bền
vững, cần được thực hiện thông qua các công cụ trong thực thi hoạt động này.
* Các công cụ giảm nghèo bền vững: