BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.;
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học là kết quả nghiên cứu của
cá nhân tôi. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực.
NGUYỄN
THỊ
Kết quả nghiên cứu này không
trùng với
bấtHỒNG
cứ côngNGA
trình nào đã được nghiên cứu
trước đó. Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Người cam đoan
QUẢN LÍ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG
Nguyễn
Thị Hồng Nga
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN DƯƠNG KINH,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
các thầy giáo, cô giáo trong BGH, khoa Quản lí Giáo dục, phòng Quản lí khoa học,
phòng Sau Đại học, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ
tôi trong học tập, nhất là trong quá trình tiến hành nghiên cứu làm đề tài khoa học
này.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến PGS.TS.Vũ
Thị Lan Anh, người hướng dẫn khoa học, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên Phòng Giáo dục & Đào
tạo, cán bộ và giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn quận Dương Kinh đã quan
tâm, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo sát, cung cấp số liệu và tư vấn
khoa học trong quá trình nghiên cứu của tôi.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, các bạn học viên lớp Quản lí Giáo dục
K25, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài này, mặc dù bản thân đã cố gắng rất nhiều
nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
quý báu của các thầy - cô giáo, các bạn đồng nghiệp để đề tài có thể áp dụng vào
thực tế một cách khả thi.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nga
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ..........................................6
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................6
quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng ..................................................................41
2.2.2. Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng sống ở các trường tiểu học quận Dương Kinh,
Hải Phòng. ..................................................................................................................54
Tiểu kết chương 2......................................................................................................70
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI
PHÒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI ....72
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ......................................................................72
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về giáo dục ................................................................................................................72
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, khoa học ................................................72
năng và có mối quan hệ với việc quản lý các mặt giáo dục khác trong nhà trường. 72
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả .................................73
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính kế thừa, phát huy được kinh nghiệm, tiềm
năng của các lực lượng giáo dục ...............................................................................74
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng ..........................................................................74
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các lực lượng giáo
dục; bồi dưỡng năng lực chuyên môn đội ngũ thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh tiểu học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. ..............74
3.2.2. Biện pháp 2: Lập kế hoạch hoạt động phù hợp, đúng mục đích và nội dung
giáo dục kĩ năng sống theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. ......81
3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh với các
hình thức đa dạng, phong phú, đúng mục đích và nội dung, tăng cường tổ chức các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo. ................................................................................85
3.2.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo sát sao việc xác định và thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. ....89
3.2.5. Biện pháp 5: Đổi mới kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS cho HS ...........91
GDKNS cho HS ........................................................................................................59
Bảng 2.12: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác chỉ đạo triển khai
GDKNS cho HS ........................................................................................................62
Bảng 2.13: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác kiểm tra đánh giá
GDKNS cho HS ........................................................................................................65
Bảng 2.14. Công tác quản lý các nguồn lực phục vụ GDKNS cho HS ....................68
Bảng 2.15: Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến công tác quản lý GDKNS cho
HS ở các tiểu học quận Dương Kinh, Hải Phòng .....................................................69
Bảng 3.1. Ý kiến đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí
GDKNS cho HS ......................................................................................................102
Bảng 3.2. Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ...103
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
CỤM TỪ VIẾT ĐẦY ĐỦ
BGH
: Ban giám hiệu
CBQL
: Cán bộ quản lí
CMHS
: Cha mẹ học sinh
: Kĩ năng sống
LLGD
: Lực lượng giáo dục
LLXH
: Lực lượng xã hội
QLGD
: Quản lí giáo dục
TNST
: Trải nghiệm sáng tạo
TNTP HCM
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
UNESCO
: Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa
của Liên hợp quốc
UNICEF
trong giáo dục của thế kỷ XXI là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định,
học để cùng chung sống. Nghị quyết về đổi mới giáo dục sau đó đã được hiện thực
hóa qua việc Quốc hội ra nghị quyết về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo
dục phổ thông; Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyện đề án đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và giao cho Bộ Giáo dục và Đào
tạo chủ trì xây dựng và công bố dự thảo CTGDPT mới. Trong dự thảo CTGDPT
1
mới nêu rõ, mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển hài hoà về thể
chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề
nghiệp và học tập suốt đời. Như vậy, có thể thấy bên cạnh việc hoàn chỉnh tri thức,
phát triển những kĩ năng giúp học sinh phát triển tự tin trong cuộc sống nói chung
và GDKNS nói riêng cho học sinh đã được chú trọng khi xây dựng CTGDPT mới.
Trên thực tế, nội dung GDKNS trong những năm qua đã được các nhà
trường phổ thông nói chung và các nhà trường tiểu học nói riêng triển khai thực
hiện. Tuy nhiên, hoạt động GDKNS cho HS tiểu học ở nhiều trường vẫn còn nhiều
bất cập. GDKNS vẫn chưa được đưa vào chương trình như một môn học chính
khóa, việc thực hiện chỉ mới ở hình thức thông qua việc giảng dạy tích hợp vào các
môn học, hiệu quả của việc giảng dạy lồng ghép chưa cao. Công tác quản lí, tổ chức
triển khai hoạt động GDKNS ở rất nhiều trường còn mang tính hình thức. Các chính
sách khuyến khích việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS chưa có... Những điều
trên đã dẫn tới kết quả hoạt động GDKNS chưa cao.
1.3. Quận Dương Kinh là một đơn vị mới được thành lập theo Nghị định số
145/2007/NĐ-CP ngày 20/9/2007 của Chính phủ trên cơ sơ điều chỉnh địa giới hành
chính 6 xã phía bắc của huyện Kiến Thuỵ Trong những năm gần đây, Dương Kinh
có tốc độ kinh tế phát triển nhanh theo hướng đô thị, công nghiệp, dịch vụ, bên
cạnh những yếu tố tích cực của sự phát triển đó là sự kéo theo của tỷ lệ thanh thiếu
niên mắc các tệ nạn gia tăng, đạo đức của một số lượng không nhỏ HS đang có
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý GDKNS cho HS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành
phố Hải Phòng.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với
hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải
Phòng theo định hướng CTGPT mới.
- Chủ thể thực hiện các biện pháp quản lí GDKNS cho HS là hiệu trưởng các
trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
4.2. Giới hạn về đối tượng khảo sát
- CBQL giáo dục tiểu học (cán bộ Phòng GD&DDT và CBQL các trường
tiểu học): 16
- GV trường tiểu học: 132
5. Giả thuyết khoa học
3
Thực tế hoạt động quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã bắt đầu được quan tâm và đạt được kết quả
nhất định. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
nói chung, định hướng CTGDPT mới nói riêng thì còn bộc lộ những bất cập. Nếu
đề xuất và áp dụng đồng bộ, hợp lí các biện pháp quản lí GDKNS cho HS sẽ nâng
cao được hiệu quả của hoạt động này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho các em.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý GDKNS cho HS tiểu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng GDKNS và quản lý GDKNS các trường tiểu
học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Ngoài Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý GDKNS cho HS ở các trường
tiểu học.
Chương 2: Thực trạng quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Biện pháp quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của
UNICEF (1996) “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS thanh thiếu
niên bên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia Australia tập huấn. Ngành
Giáo dục và Đào tạo và Hội chữ thập đỏ Việt Nam là những đơn vị đầu tiên tham gia
chương trình này [2].
Theo Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO: 1993), các KNS được học tốt nhất
thông qua phương pháp học tập tích cực, lấy người học làm trung tâm. Việc hình
thành các KNS phụ thuộc vào quá trình học tập cùng với người khác thông qua hoạt
động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp đôi, động não, sắm vai, tranh
luận, thảo luận [38].
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói
chung và KNS trong nhà trường nói riêng.
Một trong những người đầu tiên và là người có những nghiên cứu mang tính
hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một
loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham
phố Hải Phòng và đặc biệt là nghiên cứu về thực trạng, đề xuất biện pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học trong quận để đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và theo định hướng CTGDP mới nói riêng
trong bối cảnh chung của xã hội hiện nay và tình hình kinh tế, xã hội riêng của địa
bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Phân tích trên cho thấy, đề tài được triển khai có thể làm phong phú thêm
hướng nghiên cứu này.
1.2. Một số vấn đề lí luận về quản lí và quản lí giáo dục
1.2.1. Quản lí
* Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối
tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình
sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định.
Theo cách tiếp cận như vậy, nội hàm khái niệm quản lý thường bao gồm các
nội dung sau:
8
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất
là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo
ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục
tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động.
- Chủ thể phải thực hành việc tác động.
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là một hoặc
nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Nhìn nhận nội hàm khái niệm quản lí như trên dưới các góc nhìn khác nhau,
đã có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là
đạo, kiểm tra - đánh giá.
- Chức năng lập kế hoạch: Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng
lập kế hoạch đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành
các chức năng quản lý khác, đây được coi là chức năng hạt nhân, quan trọng của
quá trình quản lý.
Lập kế hoạch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đạt
mục tiêu. Muốn có được bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi phải
thực hiện tốt chức năng dự báo. Khi dự báo phải biết rõ thực lực của mình, đó là
việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường cần đạt tới trên cơ cở phân
tích sư phạm và căn cứ hướng dẫn của cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ năm học mới
để suy ra định hướng cơ bản trong năm học tiếp theo của nhà trường, lựa chọn
những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt được và các tiêu chuẩn đánh
giá. Có như vậy bản kế hoạch đề ra mới có thể áp dụng được vào thực tiễn quản lý
và đem lại kết quả khả thi.
- Chức năng tổ chức: Khi bàn đến vấn đề này, Barmard cho rằng: “chức
năng quản lý như là hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay
nhiều người”.
Tổ chức giữ vai trò to lớn trong quản lý vì:
+ Tổ chức giúp cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có
hiệu quả.
+ Tổ chức dựa trên khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp
xếp con người.
10
+ Tổ chức tạo điều kiện cho hoạt động tự giác sáng tạo của các thành viên trong
tổ chức, tạo nên sự phối hợp, ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng
quản lý. Từ đó, dễ dàng trong việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động quản lý.
Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con
+ Thực trạng bộ máy: Bộ máy đang hoạt động như thế nào để có kế hoạch
điều chỉnh nhằm đạt được tới mục tiêu đã định.
+ Thực trạng các quyết định quản lý: Việc thực hiện quyết định đến đâu, ở
mức độ nào để kịp thời điều chỉnh và sửa chữa.
Tóm lại, quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách,
nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.
1.2.2. Quản lí giáo dục
* Khái niệm giáo dục
Tác giả Nguyễn Lân, trong tác phẩm “Từ điển Từ và ngữ Hán Việt” (1989)
đã nêu: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết
để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội [25].
Đề cập đến giáo dục đào tạo, Nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta đã chỉ ra:
giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ trí thức mà còn thức tỉnh tiềm năm sáng
tạo to lớn trong mỗi con người. Nhà trường phải đào tạo ra những con người có đủ
tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của
người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc cách
mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những
con người học được cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết
những vấn đề chung của dân tộc, của quốc gia, của toàn cầu và của thời đại [17].
- Khái niệm Quản lý giáo dục
Với tư cách là hệ lớn, phức tạp, hệ thống giáo dục cần có sự quản lý một
cách khoa học, vì vậy quản lý và giáo dục luôn tồn tại song hành với nhau.
Theo tác giả Trần Kiểm quản lý giáo dục có hai cấp độ: cấp vĩ mô (quản lý
hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản lý nhà trường).
- Cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội (tính trội
của hệ thống) sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
các tình huống [38].
- Tổ chức UNESCO quan niệm: KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
13
học để biết, học làm người, học để sống với người khác, học để làm. KNS là năng
lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia thuận lợi vào cuộc sống
hàng ngày. Đó là những kĩ năng như: kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kiểm soát
cảm xúc, tự nhận thức; kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…. Đó là khả
năng cá nhân làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử
tích cực, giúp cá nhân đó có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và
những thách thức trong cuộc sống hàng ngày [37].
* Định nghĩa của các nhà khoa học:
- Tác giả Nguyễn Thanh Bình: KNS là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội
của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các
tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả [2].
- Theo Mạc Văn Trang: KNS là năng lực biểu hiện những giá trị sống trong
hoạt động và giao tiếp hàng ngày. KNS giúp người ta học tập, làm việc hiệu quả
hơn, giao tiếp với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác, thành công hơn; biết tự
điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu [25].
Từ những góc nhìn và định nghĩa như trên, có thể thấy:
- KNS là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua
những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển.
- KNS là khả năng của mỗi cá nhân thích nghi tích cực khi tương tác với
người khác và với môi trường của mình. Tuy nhiên, kĩ năng nói chung và KNS nói
riêng không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết
và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ.
- KNS là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua
những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, nó giúp
Như vậy, GDKNS không phải là nói cho trẻ biết thể nào là đúng, thế nào là
sai mà là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau
ứng phó với các tình huống trong thực tế cuộc sống. GDKNS phải hết sức gần gũi
với cuộc sống và ngay trong cuộc sống. GDKNS nhấn mạnh đến việc trẻ phải ý thức
về giá trị bản thân hay quý trọng bản thân, đó chính là nền tảng cho sự phát triển một
nhân cách lành mạnh và sự tự tin. GDKNS là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế
hoạch, được tổ chức thực hiện nhằm rèn luyện cho HS những KNS cơ bản, kỹ năng
15
thực tiễn về khoa học, kỹ thuật, lao động, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí,…. Các
em được rèn luyện thể chất, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh đối với các mối quan hệ
bạn bè, cha mẹ thầy cô và đặc biệt nắm bắt được các KNS xử lý các tình huống trong
cuộc sống và trong các mối quan hệ xã hội khác.
1.3.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học theo định hướng chương
trình giáo dục phổ thông mới.
1.3.3.1. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo và định hướng thay đổi
chương trình giáo dục phổ thông.
Đứng trước cơ hội và thách thức mới của thời đại, giáo dục và đào tạo Việt
Nam cần phải “đổi mới căn bản, toàn diện”. Nghị quyết số 29 - Nghị quyết TW 8
khóa XI đã chỉ rõ về quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo trong
giai đoạn hiện nay: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị
kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi
với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội”. Với mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục phổ thông, tập
trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại
Bộ giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo CTGPT mới để lấy ý kiến đóng góp
lần thứ 2, theo Dự thảo, mục tiêu chung của CTGDPT mới có điểm kế thừa mục tiêu
chung của CTGDPT truyền thống, thể hiện ở định hướng: Tiếp tục mục tiêu giáo
dục phát triển con người toàn diện “đức, trí, thể, mỹ”, hài hòa về thể chất và tinh
thần… CTGDPT mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, đó là là cách tiếp cận
nêu rõ học sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào, nhấn mạnh yêu cầu phát triển
năng lực, phẩm chất, chú ý phát huy tiềm năng vốn có của mỗi HS, chú ý phát triển
cả con người xã hội và con người cá nhân. Đó chính là đổi mới căn bản trong
CTGDPT mới. Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc
tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện,
hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thức quản lý và thực hiện…
nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục.
17