Nhà văn Vũ Trọng Phụng - Pdf 42

Nhà văn hiện đại (trích) - Vũ Ngọc Phan
(...) Vũ Trọng Phụng là một nhà văn sở trường về phóng sự dài (...) Những tập xuất sắc nhất
của ông là Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô.
(...) Quyển Kỹ nghệ lấy Tây chỉ có giá trị ở những đoạn tả chân nho nhỏ, ở những sen đấu
khẩu, những sen đánh nhau, những sen gợi tình rất linh hoạt và rất tức cười của mấy cặp vợ
chồng. Ở những đoạn ấy, đôi khi người ta thấy một lối tả chân triệt để, làm cho người đọc có
cái cảm tưởng như thấy trước mắt một cảnh tượng bẩn thỉu, ghê gớm (chương III - Mày không
muốn nhận tao là chồng? trang 34 -Chương IX - Tư tưởng độc quyền, trang 112, vân vân)
Cơm thầy cơm cô là một tập phóng sự về những kẻ làm tôi tớ. Tập này là một phóng sự hay
nhất của Vũ Trọng Phụng. Ngòi bút tả chân của ông thật là tuyệt xảo khi ông tả những cảnh
nghèo khổ. (...) Trong tập phóng sự này, họ Vũ tự đóng một vai đứa ở, cũng như Tam Lang đã
tự nhận mình là một chân xe hàng. Nhờ đóng một vai đứa ở, nên cái việc kháo chuyện chủ nhà
với bọn “cơm thầy cơm cô” hóa ra một chuyện dễ, và cũng nhờ đấy, câu chuyện hóa ra đằm
thắm, thân mật, như những chuyện nói xấu chủ nhà của anh chàng Gil Blas. Nhà này chủ ác
nghiệt, nhà kia chủ có con gái hư, nhà kia ông chủ biển lận. Thật không bao giờ hết chuyện.
Tác giả có thể viết dài nữa về chỗ đứa ở kháo chuyện chủ nhà, nhưng tác giả đã muốn dè dặt,
có lẽ vì chính mình cũng là... một ông chủ.
Chương VII (Bi hài kịch) trong quyển Cơm thầy cơm cô là một chương tuyệt hay. Vui buồn, đủ
cả, linh hoạt vô cùng và cũng thảm thiết vô cùng. Đây là mấy điệu chèo cổ, rồi kia là đám thính
giả nheo nhóc và khốn nạn, rồi nào cái cảnh thảm thương của con sen động kinh, câu chuyện
của anh đầu trọc, của thằng bé ho lao, của bà cụ già, rồi lại chuyện lính mật thám đến bắt, thật
là đủ cách, đủ trò, việc dồn dập một cách tuần tự và mạnh mẽ. Chỉ mười một trang giấy mà biết
bao tình nhân loại, biết bao nỗi thương tâm (...)
Lục sì là một cuộc điều tra về nạn mãi dâm ở Hà Nội, hay là một thiên nghị luận về nghề mãi
dâm theo những giấy tờ của chính phủ thì đúng hơn là một thiên phóng sự.
Cuộc điều tra này lại chỉ ở trong phạm vi đề phòng cứu chữa và trừng trị, nên tác giả chọn hai
chữ “Lục sì” làm nhan quyển sách. Nhà Lục sì ở Hà Nội, theo ý tác giả, tuy là nơi chữa thí, nơi
dạy dỗ không lấy tiền cho vài trăm “gái có giấy” nhưng nhà ấy đành chịu bó tay trước hàng bốn
năm nghìn “gái” đi ngang về tắt. (...)
Cây bút của Vũ Trọng Phụng trong những năm đầu là một cây bút phóng sự, một cây bút phóng
sự sắc sảo và khôn ngoan, sau ông luyện ra nó một cây bút tiểu thuyết, nhưng cái giọng phóng

đành mặc việc đời xô đẩy mình một cách bất ngờ như thế, nếu chẳng chơi bời thì sống làm sao
được. Cái lúc chàng tỉnh mộng là lúc chàng quyên sinh.
Giông tố là một tiểu thuyết đúc trong một luân lý sâu xa trên một nền gia đình và xã hội thật
đầy đủ. Ta chả thấy đủ các vai trong gia đình là gì? Rồi ngoài xã hội ta thấy một vị quan ngay
thẳng, một tay mọt dân nhảy lên đến tột bậc trong quan trường, một thiếu niên trí thức, vài cô
thiếu nữ tân thời với cái thói đua chen dí dỏm, một thằng con bán trời không văn tự, những
cảnh trụy lạc trong làng bẹp, trong xóm yên hoa, một tay “cách mệnh”, một lũ dân đen, một
nhóm thợ thuyền, ấy là chưa kể Thị Mịch, Long và nghị Hách, những kẻ có thể làm tiêu biểu
cho nhiều người trong xã hội.
Ngoài bìa quyển sách, tác giả đề là “Xã hội tiểu thuyết”. Nhưng nếu theo ý kiến của các nhà
phê bình Âu tây thì “xã hội tiểu thuyết” là loại thiểu thuyết viết rặt về cảnh lầm than, vất vả của
thợ thuyền và dân quê. Giông tố không phải tiểu thuyết loại ấy. Nó chỉ là một tập tiểu thuyết về
phong tục thôi.
Những nhân vật trong tiểu thuyết Giông tố đáng lý ra nhiều chỗ phải được tả bằng những nét
bút não nùng cho hợp với cảnh thê lương của họ, thì lại hiện dưới những nét bút sắc sảo quá,
dưới những nét phóng sự mà chủ ý gây cho người đọc mối căm hờn đối với những sự bất công.
Về đường nghệ thuật, có lẽ chỗ ấy là chỗ sút kém trong Giông tố.
Nhưng nếu xét một cách tương đối, quyển Giông tố cũng đáng kể vào số tiểu thuyết có giá trị
của chúng ta ngày nay.
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một quyển tiếu thuyết hoạt kê nhưng một lối hoạt kê không lấy gì
làm cao cho lắm.
“Xuân tóc đỏ”, một gã nhặt banh ở sân quần chỉ nhờ ở sự may mắn, ở “số đỏ” mà thấm thoắt từ
phận một gã lang thang trở nên một tay đắc lực cho một hiệu may tân thời, rồi dần dần đóng vai
“đốc tờ”, đóng vai diễn giả, đứng lên cải cách Phật giáo, rồi trở nên một tay cứu quốc, một bậc
vĩ nhân!
Có ai tưởng tượng được rằng trong một cuộc tranh đấu quần vợt của tuyển thủ hai nước, nếu
tuyển thủ của nước mình giữ phần thắng thì nước kia sẽ khai chiến với nước mình không? Ấy
Vũ Trọng Phụng đã tưởng tượng được như thế. Cái lối khôi hài của ông trong Số đỏ là cái lối
khôi hài nông nổi, tuy nhạo đời, nhưng không căn cứ. Nó giông như lối khôi hài ở một rạp
chèo, hay “văn minh” hơn, nó giống lối khôi hài của mấy vai hề trên màn bạc.

can đảm hô hào, nhưng ông không đạt tới mục đích. Muốn đem vấn đề “nam nữ giao hợp giảng
cho tuổi trẻ”, mà hạng tuổi trẻ này là hạng chín mười tuổi cho đến mười lăm, mười sáu. Nhưng
tôi dám chắc tác giả chỉ viết trên giấy thôi, chứ không bao giờ dám thực hành.
Cái khuynh hướng quá thiên của ông về tính giáo dục làm cho quyển tiểu thuyết tả chân của
ông kém hẳn đi. Vì giảng giải một chuyện tình theo khoa học trong một quyển tiểu thuyết là
một việc nhà văn khó lòng làm được.
(...) Quyển Làm đĩ còn một cái nhược điểm này làm cho người đọc mất cả hứng thú, tác giả đã
dồn chứa đủ tất cả các việc làm cho Huyền nhất định phải sa vào vòng trụy lạc, không còn sức
gì để chống đỡ cả. Tác giả tả Huyền là một cô gái dâm dục, rồi từ chín tuổi trở đi, mỗi ngày
nàng một bị sa ngã, như bị lăn trên dốc xuống vực sâu, không còn bám bíu vào đâu được: Nào
hết gặp thằng Ngôn ranh mãnh trong lúc thơ ngây, đến gặo người anh họ đến trọ học trong lúc
gia đình suy đốn, đến lúc lấy chồng, chồng lại mắc sẵn bệnh giang mai đồng thời chồng nàng
lại có một người bạn rất lịch sự, đẹp trai vừa giàu tiền vừa giàu trí, rồi đến lúc dan díu với bạn
chồng và việc thông dâm vỡ lở, thì người bạn ấy lại bỏ đi phương khác, làm cho nàng phải theo
mà không gặp, đến nỗi tiền hết và phải hiến thân cho khách làng chơi để sống qua ngày. Khi
các ông thấy một vật gì lăn trên một dốc thẳng băng, không có một chỗ nào mấp mô hay quanh
co ngăn cản, tất nhiên các ông đoán ngay rằng thế nào nó cũng lăn tuột xuống hố. Vậy đọc
quyển Làm đĩ cũng thế, đến đoạn Huyền lấy phải anh chồng có sẵn bệnh giang mai và gần nàng
lại có thêm anh chàng đẹp trai và sang trọng, người ta cũng đoán chắc đời Huyền sẽ kết liễu
như thế nào. Thành ra năm mươi trang gần như thừa.
Có một đoạn làm cho khi mới đọc, người ta phải cảm động, đó là đoạn Huyền bị chồng hành hạ
và biết hối quá. Nhưng xét cho kỹ, một kẻ tội nhân bị xích chân và bị cùm kẹp, rồi mới chịu đi
đập đá thì cũng không lấy gì làm lạ.
Thật ra Huyền chỉ là một “ca” đặc biệt. Nếu căn cứ hết cả vào Huyền để giảng giải cái dục tình
chung của tất cả các phụ nữ thì rất sai. Vì không thể căn cứ vào một việc đặc biệt để rút lấy một
phương pháp giáo dục chung được. Vả lại, vệc giáo dục con gái ở như sự gìn giữ họ, chứ không
phải ở như sự giảng giải cho họ biết việc nam nữ giao hợp. Đến thời kỳ biết họ sẽ biết, cái biết
do ở bản năng, như tôi đã nói trên. Theo sự xét nhận của các nhà giáo dục, nếu giữ gìn cho
người đàn bà được đến năm 25-26 tuổi - sự gìn giữ này phải là sự gìn giữ âu yếm của người mẹ
hay người chồng - thì không còn lo ngại mấy, vì tuổi này là tuổi thành nhân của đàn bà.

độc, coi đời như một trò múa rối và điều thú vị là ông biết chính mình cũng phải đóng một vai
trò như tất cả mọi người.
Về phần ông, tấn tuồng đã xong rồi (1), ông có thể hoàn toàn sung sướng, vì cái vai trò về
đường trí thức và tinh thần của ông, tuy ông đóng không bền, mà đã lỗi lạc hơn nhiều người
múa may từ lâu trên sân khấu.
--------
(1) La farce est jouée - Rábelais
Trích sách NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI. Quyển ba.
Nxb. Tân Dân, 1942.
Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm, Nguyễn Hoàng Khung - Lại Nguyên Ân sưu tầm và
biên soạn, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1994., tr. 140-150.
Vũ Trọng Phụng bàn về phóng sự và tiểu thuyết tả chân - Nguyễn Ngọc Thiện
Trong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trong xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc
ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm. Bước vào làng
văn bằng truyện ngắn đăng báo từ năm 1931, qua đời ở tuổi 27 với cuốn tiểu thuyết còn dang
dở, những tác phẩm tiêu biểu của văn nghiệp Vũ Trọng Phụng thuộc về 2 thể tài tiểu thuyết và
phóng sự tả chân: ông để lại 9 cuốn tiểu thuyết và 7 tập phóng sự.
Tác phẩm gây sự chú ý của dư luận đương thời đối với Vũ Trọng Phụng là phóng sự đầu tay
Cạm bẫy người - ký bút danh Thiên Hư, đăng trên báo Nhật Tân, xuất bản tại Hà Nội, từ số 1
(02/08/1933) đến số 14 (01/11/1933). Năm sau, cũng trên báo này, ông lại cho in thêm phóng
sự thứ hai Kỹ nghệ lấy Tây (từ số 69 - 5/12/1934). Và chỉ với 2 phóng sự này, cùng cây bút đàn
anh đi trước Tam Lang Vũ Đình Chí và nhà văn đồng trang lứa Vũ Bằng, ông được liệt vào
hàng vài ba “nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta” (Lê Tràng Kiều - Văn học tạp
chí, số 4/1935). Đặc biệt, ông được Mai Xuân Nhân tôn vinh là “ông vua phóng sự của đất
Bắc” (dẫn theo Việt Trung, tập san Nghiên cứu văn học, số 5/1960). Danh hiệu này sau được
nhiều người tán thành, gọi theo, vì quả thực xưng tụng như vậy là xứng đáng với văn tài nhà
văn trẻ.
Mãi đến năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình
(còn có tên khác là Bởi không duyên kiếp) đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo. Với tiểu thuyết
này, ông chứng tỏ là “ngòi bút tả chân thực đã khéo léo” và tác phẩm có thể coi là “một bức

Những năm đầu bước vào làng văn, thể nghiệm các sáng tác đầu tay ở thể tài truyện ngắn và
kịch, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ khuynh hướng tìm đến với chủ nghĩa hiện thực, có cảm tình
với các nhà văn tả chân xã hội. Ông tìm đọc họ, lược dịch để truyền bá quan điểm, tư tưởng
nghệ thuật của các nhà văn phương Tây thuộc trào lưu hiện thực phê phán (thế kỷ trước hoặc
đương thời) như G. Maupassant, J. Richepin... Qua đó ông gián tiếp bộc lộ khuynh hướng sáng
tác của mình cùng đồng nhất với các nhà văn này. Từ ý kiến của các nhà văn nói trên, Vũ
Trọng Phụng tập trung nhấn mạnh các khía cạnh mà theo ông là chủ yếu đối với nhà văn tả
chân:
- “Chỉ tả sự thực, toàn một giống thực”. Nhưng sự thực ở đời và sự thực trong sách là có
khoảng cách, không giống nhau hoàn toàn. “Đó là những sự thực có ý vị, chớ chẳng cốt nêu cái
thực hoàn toàn”.
- Nhà văn tả chân phải là người từng trải cuộc đời, chú mục phơi bày những cảnh đời bình dị,
những con người bình thường. Tác phẩm của họ cần phô diễn tính tình và hành động của các
hạng người sao cho sinh động, thanh thoát, tự nhiên. Qua sự cảm nhận và kinh lịch của mình,
nhà văn tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thực của đời, chiều sâu của đời sống xã hội,
sự phồn tạp trong hoạt động tinh thần, tâm - sinh lý của các hạng người đời.
- Không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê tiện
của người đời và gọi chúng bằng tên thật của nó. Nhà văn tả chân dũng cảm đối diện với sự
thật, dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình. Anh ta khi viết không đổi
trắng ra đen, không che đậy hoặc huyễn hoặc lừa mình, dối người, cũng không cốt làm hại đến
luân lý, phong hóa cần được tôn trọng. Viết trung thực, có sao nói vậy, không thêm bớt, tô
điểm, vẽ vời, tức là tôn trọng người đọc, nêu cao tinh thần khoa học, để có thể khám phá chân
lý cuộc sống. Khuynh hướng tả chân như vậy là phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội, đáp
ứng đòi hỏi của người đọc trong một thế giới văn minh, hiện đại (1).
2. Quan điểm của Vũ Trọng Phụng trong tranh luận “Dâm hay không Dâm”.
Cuộc tranh luận từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc, kéo dài trong 3 năm, từ cuối năm 1936 đến
cuối 1939.
Chính Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn, trên số báo 25 ra ngày 01/09/1936 là người châm ngòi cho
cuộc tranh luận qua bài Văn chương dâm uế. Trong bài này, ông không nhằm vào cá nhân Vũ
Trọng Phụng, người mà ông vẫn quý mến văn tài. Ông chỉ muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo

Bắt bẻ chữ nghĩa của Thái Phỉ đã dùng, Vũ Trọng Phụng đứng ở vị trí người viết phản ứng dè
chừng trước ý đồ quy chụp thiển cận rằng ông đã miêu tả cái dâm để khiêu dâm người đọc,
khiến họ mất đi sự tỉnh táo, phê phán cần thiết. Họ Vũ tự tin với mục đích viết văn chính đáng
của mình: viết về cái xấu xa, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự
công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu
xa ấy.
Có thể thấy, trên những nét cơ bản, quan điểm của Thái Phỉ cũng như của Vũ Trọng Phụng về
đối tượng và mục đích viết về những cái xấu xa, dâm uế, nhơ bẩn của xã hội... là gần gũi, đồng
thuận nhau. Chỗ khác nhau trong quan niệm của mỗi ông chỉ là ở chỉ mức độ và cách viết như
thế nào thì là phải và có thể chấp nhận được, để không rơi vào tình trạng khiêu dâm người đọc.
Như trên đã nói, Thái Phỉ e ngại về sự miêu tả quá đà, nhồi nhét quá mức cảnh dâm uế vào bất
cứ đâu, làm cho người đọc mụ mị trong cân não mà hoặc ghê sợ hoặc “rung động” một cách
lệch lạc, bị kích thích về mặt thú tính của con người.
Còn Vũ Trọng Phụng thì sao? Ông khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả những
cảnh thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính - nhưng
lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi vào khiêu
dâm. Còn thứ dâm uế, dâm loạn - tức những hành vi xấu xa, cần lên án thì cần phải mô tả kỹ về
nó, lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có vậy mới khiến người đọc bất bình, công phẫn, lên án
nó. Vũ Trọng Phụng không tán thành lối viết nửa kín, nửa hở, che đậy bằng những câu văn
thanh nhã, bóng bẩy vì như vậy chỉ tổ làm cho người đọc tò mò mà thôi. Ông chủ trương lối
viết thẳng thắn, nói toạc ra các khía cạnh của sự thật dù có tàn nhẫn, khó coi nhưng đó sẽ là sự
thật cay nghiệt giống như liều thuốc đắng khó nuốt nhưng sẽ làm cho người bệnh mau khỏi.
Ở đây, không thể không thấy sự cực đoan trong quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng.
Bởi trong miêu tả nghệ thuật, ranh giới giữa hiệu quả gây tỉnh táo để phê phán, tố cáo với xui
khiến sự tò mò, chuộng lạ, thích thú tự nhiên, bản năng... thật khó mà phân biệt một cách khách
quan trên văn bản.
Một năm sau những ý kiến qua lại giữa Thái Phỉ và Vũ Trọng Phụng, cuộc tranh luận được đẩy
lên đến đỉnh cao khi Nhất Chi Mai viết bài: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm? đăng
trên báo Ngày nay, số 51 ra ngày 14/03/1937.
Nhất Chi Mai không ngần ngại chỉ trích đích danh Vũ Trọng Phụng là một nhà văn xã hội kỳ

nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời. Các ông muốn theo thuyết
tùy thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì
đúng sự thật, thành ra nguy hiểm, vì sự thật mất lòng”.
Vũ Trọng Phụng tiếp tục khẳng định mục đích cao đẹp của văn tả thực: cất tiếng nói phản
kháng xã hội bất công, mục nát, xấu xa, phản tiến bộ, trong đó người lao động lương thiện bị
bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa, bên cạnh đó tầng lớp trên thì ăn chơi trác táng, xa hoa,
phè phỡn, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương thời với những vết thương trầm trọng, thối rữa
đến tận xương tủy như thế thì có gì phải dấu giếm? Phải vạch trần chân tướng xấu xa của nó,
phanh phui những ung nhọt của nó, chỉ ra sự bất công và nỗi thống khổ đang tràn lan, dày vò
con người, từ đó làm cho dân chúng căm hờn, phỉ nhổ vào những tệ nạn, bất công mà đấu tranh
cho sự công bằng và những điều tốt đẹp! Đó há chẳng phải là sứ mệnh cao cả của văn chương
tả thực xã hội hay sao?
Tư tưởng nghệ thuật mà Vũ Trọng Phụng theo đuổi tâm huyết nói trên là tiến bộ, cần được ủng
hộ, nhưng cũng phải thấy những mặt phiến diện, cực đoan có phần quá khích trong kiểu tư duy
ấy. Có nên quá thiên về miêu tả trần trụi để chỉ trích, lên án những mặt xấu, mặt trái, hy vọng
tìm cách xóa bỏ chúng - chỉ thế mà thôi không? Trong khi đó cuộc sống vận động cả ở những
phương diện khác: có không ít những chồi non khỏe mạnh đang trỗi dậy, biết bao nhiêu là cái
đẹp, cái tốt tiềm ẩn trong con người lương thiện, trong các lực lượng xã hội tiên tiến - những
nhân tố mới ấy cũng cần được nhìn nhận, phát hiện, chăm sóc và khẳng định, xây dựng.
Liền ít ngày sau bài đáp lại Nhất Chi Mai, Vũ Trọng Phụng lại nhấn rõ thêm quan điểm của ông
trong bài trả lời phỏng vấn Lê Thanh về những tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ, trên báo Bắc Hà
ngày 03/04/1937 (3).
Vũ Trọng Phụng xếp các tiểu thuyết của ông thuộc dòng tiểu thuyết tả chân xã hội, nó “phản
ánh cái xã hội hiện thực”, chứ không phải là quay lưng lại hiện thực hoặc hư cấu, phóng túng,
tùy tiện mà làm sai sự thực. Mà xã hội hiện thời sặc sụa những mùi mục nát, đầy rẫy những cái
xấu xa, nhơ bẩn, không thể không thất vọng, bi quan về nó. Viết các tiểu thuyết nói trên, ông
“có ý chụp ảnh lấy cái xã hội hiện thời” trong đó không thể không tả những cảnh dâm đãng. Tả
như thế không có nghĩa là khiêu dâm, mà chỉ là tả những điều có thực, tuyệt không “khiêu cái
lòng dâm dục của ta lên”. Trái lại, cách miêu tả này làm cho “người ta thấy ghê tởm, ghê tởm vì
trông thấy nhãn tiền cái sự thật nó xấu xa... đến nỗi phải tức tối lên... quên mất cái dâm dục” đi.

hiếm hoi các nhà văn có đủ tư cách và thời gian để viết về lĩnh vực này của đời sống hiện thực
lúc đó. Ở Ngô Tất Tố có một định hướng rõ rệt cho ngòi bút và trong lựa chọn tâm thế sáng tác;
ông được trang bị một vốn sống phong phú, sâu sắc về nông thôn; ngòi bút của ông vốn giàu
nghị lực, bản lĩnh. Tiểu thuyết của ông được cấu trúc theo một kết cấu mở, hiện đại, căng
thẳng, giàu kịch tính.
Vũ Trọng Phụng đề cao Ngô Tất Tố khi ông viết nhằm mục đích phụng sự thôn quê, nêu lên
những luận đề xã hội bênh vực phái nhà nông. Là một người từng trải "được sống nhiều với đời
thôn quê", nên Ngô Tất Tố có được sự hiểu biết kỹ càng về tâm tính, lời ăn tiếng nói của đám
dân quê nghèo khổ. Xuất thân Nho học, từng làm nghề báo, tiếp xúc nhiều, lại chịu khó mở
rộng kiến văn, cầu thị thâu thái những thành tựu mới của kỹ thuật tự sự phương Tây, nên trong
Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã không đi theo lối mòn của cách kể chuyện cũ. Ông kết hợp giữa kể và
tả, đứng ở địa vị khách quan trong khi mô tả và thuật chuyện, biểu lộ năng khiếu quan sát tinh
tường, chu đáo về cảnh và người, về tâm lý, hành động của họ, khéo léo khêu gợi những tư
tưởng cải tạo xã hội, phê bình sự vật của người đọc.
Những điều nói trên, theo Vũ Trọng Phụng, đã dẫn đến những thành công cơ bản của tiểu
thuyết hiện thực Tắt đèn. Tính đến thời điểm đó Tắt đèn xứng đáng là một "kiệt tác, tùng lai
chưa từng thấy".
Với những ý kiến phê bình ngắn gọn về Tắt đèn, Vũ Trọng Phụng đã đề xuất những yêu cầu cơ
bản đối với nhà văn hiện thực trong việc tích lũy vốn sống trực tiếp, bồi bổ vốn tri thức, văn
hóa và không thể xem nhẹ khâu trau dồi, nâng cao kỹ thuật viết sao cho câu chuyện được kể
một cách sinh động, hấp dẫn người đọc. Làm được như vậy, nhà văn sẽ dành được thế chủ
động, dẫn tác phẩm đi tới đích tả thực thành công.
*
Sinh thời, những ý kiến của Vũ Trọng Phụng về văn học tả chân qua tiểu thuyết, phóng sự, về
việc mô tả cái dâm phải như thế nào để không sa vào khiêu dâm, khêu gợi bản năng tình dục
tầm thường... ngoại trừ một số rất ít người phản bác, còn lại phần lớn Vũ Trọng Phụng nhận
được sự hưởng ứng của văn nghệ sĩ tiến bộ, cách mạng. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là bằng
chứng sinh động về việc ông đã thể hiện trung thực những quan điểm nghệ thuật về chủ nghĩa
tả chân trong sáng tạo văn chương. Ngay sau khi ông mất, số Tao đàn đặc biệt đã ra mắt, với
nhiều bài viết của các nhà văn có tên tuổi. Họ là bạn bè của Vũ Trọng Phụng, bộc lộ niềm

Nguyên Ân sưu tầm, giới thiệu, Nxb. Hội Nhà văn, 2001.
(2) (3) Xem: Một bài phỏng vấn Vũ Trọng Phụng mới tìm được do Lại Nguyên Ân sưu tầm,
giới thiệu. Tia sáng số 5/2002, tr.47-50.
(4) Trích suy nghĩ của các nhân vật khi cầm bút đi vào nghề văn, trong các truyện ngắn Giăng
sáng, Đời thừa của Nam Cao.
__________________
Vương Trí Nhàn: Nghĩ lại về Vũ Trọng Phụng - Bước đi tự phát ở một ngòi bút ghi chép
lịch sử
Ấn tượng sâu sắc nhất mà có lẽ tất cả bạn đọc đều chia sẻ khi đọc Số đỏ, ấy là cái sự nhố nhăng
nhảm nhí của đời sống được nhà văn phác họa theo lối châm biếm. Nói như Lưu Trọng Lư,
ngòi bút Vũ Trọng Phụng đã “chế nhạo tất cả những cái rởm cái xấu cái bần tiện cái đồi bại của
một hạng người một thời đại”. Hiện đại ở đây đồng nghĩa với sự tàn phá nhân cách, làm hỏng
con người. Hiện đại là một bước đi không thể chấp nhận được. Thế nhưng liệu đã có thể nói đó
là tất cả cái cuộc sống trên đường hiện đại hóa được nói tới trong tác phẩm Số đỏ? Có phải xã
hội đương thời chỉ có tàn lụi mục nát vô phương cứu vãn, hay thực ra nó đang vận động theo
một phương hướng đầy triển vọng và chính ngòi bút Vũ Trọng Phụng cũng đã tham gia vào
việc ghi chép lại cái quá trình đổi khác đó - một việc chắc chắn là chính ông cũng không ngờ
tới?
Hiện đại hóa là gì và ý nghĩa lịch sử của nó
Đặt xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 trong toàn bộ sự vận động chung của lịch sử dân tộc,
chúng ta thấy nó là một bước rẽ ngoặt mà nội dung căn bản là hình thành nên một xã hội kiểu
mới khác hẳn xã hội Việt Nam từ đó về trước. Trong cả sử học lẫn các bộ môn khác của khoa
học xã hội, trong đó có lịch sử văn học, người ta thường gọi đó là quá trình hiện đại hóa.
Trong một bài viết mang tên Tìm nghĩa khái niệm hiện đại (có in trong sách Nhìn lại một thế kỷ
văn học, NXB Chính trị quốc gia, H.2002) chúng tôi đã có dịp trình bày cách hiểu về quá trình
này, dưới đây là mấy nét tóm tắt:
- Đó là sự chuyển biến từ kiểu xã hội phong kiến trung đại sang một xã hội công nghiệp hóa, có
đô thị phát triển. Bắt đầu từ cơ sở kinh tế, cuộc chuyển biến này kéo theo hàng loạt biến động,
nhiều quan niệm của con người về bản thân mình cũng như về thế giới có thay đổi. Đồng thời
với sự trưởng thành của ý thức xã hội thì con người cá nhân trong họ cũng được giải phóng.

chí…, mà cũng không có sự tiếp xúc bình thường giữa VN và thế giới. Nói cho hết lẽ, phải thấy
không có quá trình hiện đại hóa thì không có luôn cả sự phân hóa giai cấp như các nhà nghiên
cứu lịch sử thường phân tích, không có giai cấp công nhân và một bộ phận trí thức kiểu mới,
không có sự du nhập của ý thức hệ Mác Lê-nin, dẫn đến những biến động có tính chất bước
ngoặt từ sau Tháng Tám 1945.
Hiện đại hóa đã tự phát có mặt trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như thế nào?
Hãy bắt đầu bằng một chi tiết nhỏ trong chương II của Số đỏ, cái đoạn tả cảnh xảy ra tại một
bót cảnh sát khi một viên quản ngồi than thở sự đời với một thày cảnh sát dưới quyền, thày min
đơ:
- Thày có tiếc cái thời buổi ngày xưa, cách đây mười năm không?
- Tiếc lắm! Mười năm trước đây, dân ta còn ngu..
- Ngày nay dân ta văn minh mất rồi, rõ thảm hại! Thày phải biết là xưa kia, xã hội tinh nhứng
du côn với nặc nô, tinh những người bất lịch sự chỗ nào cũng phóng uế, cũng đánh nhau. Hồi
ấy có khi bốn người ngồi một xe! Họ chửi nhau hàng nửa giờ, đánh nhau vỡ đầu, nhà cửa của
họ thì rác rưởi, nước cống nước rãnh tung toé, ngập lụt. Chó của họ cũng chạy ra ngoài đường
nhông nhông... Xe đi đèo, hay không đèn là nhan nhản. Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả (tr. 22)
(2)
Điều bất ngờ là ở chỗ đằng sau câu chuyện mà tác giả thuật lại để chế giễu tự nó có một ý
nghĩa khác. Không gì khác, cái thời buổi ngày xưa mà hai nhân vật nói ở đây chính là xã hội
VN trước hiện đại hóa, với một nếp sống phải nói là lạc hậu và chẳng có gì là đáng ước ao, nếu
không nói rằng đáng từ bỏ. Còn thay thế nó lại là xã hội nền nếp quy củ. Và sự thay đổi mà các
viên cảnh sát than phiền là hỏng là đáng chê trách thì theo lương tri thông thường, lại là một sự
thay đổi theo hướng tiến bộ hợp với tinh thần của nhân văn và đạo lý.
Nếu tiếp tục khảo sát tác phẩm theo hướng này, người ta sẽ thấy Số đỏ vô hình trung đã phác
họa một khuôn mặt khác của xã hội trong một giai đoạn lịch sử có những đảo lộn hàng trăm
năm chưa từng có. Từ đầu thế kỷ 20, trong lòng xã hội phong kiến, những nhân tố của một xã
hội theo kiểu phương Tây đã nảy sinh và tới những năm ba mươi có thể nói cái nền nếp mới ấy
đã trở nên ổn định thay cho nền nếp xưa “thế là hết nhẵn nhụi” (tr. 22). Đóng vai trò đầu tàu
cho lịch sử là những đô thị mới vừa hình thành. Trong kiến trúc, trong đường xá cầu cống,
trong kiểu ăn ở đi lại... của con người, chúng khác hẳn so với cái gọi là đô thị thời trung đại.

- Thưa bà, những nguyên tắc về y phục đã thay đổi. Chúng tôi mà có chế ra kiểu này cũng là vì
theo cái quan niệm y phục của các nhà thợ may lớn ở Tây phương. Quần áo để tô điểm, để làm
tăng sắc đẹp chứ không phải để che đậy …(tr. 48)
Đặt trong mạch chung của tác phẩm thì đây có vẻ như lời lẽ mòn sáo của một kẻ học đòi.
Nhưng thử tách nó ra như một văn bản độc lập, chúng ta thấy đây là những ý tưởng nghiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status