VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN TUẤN
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
HỌC VIÊN
Vũ Văn Tuấn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung
1
BTXH
Bảo trợ xã hội
2
CTXH
Công tác xã hội
3
CTXHCN
Công tác xã hội cá nhân
4
CSSKTT
Lao động, Thương binh xã hội
10
PHCN
Phục hồi chức năng
11
UBND
Ủy Ban nhân dân
12
WTO
Tổ chức Y tế thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, các rối loạn tâm thần có tỷ lệ rất cao ở tất cả
các nước trên thế giới, tạo thành một gánh nặng không những về kinh phí mà cả về
tâm lý- xã hội.
Trên thế giới, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới, người bị tâm
thần phân liệt chiếm khoảng 1% dân số; động kinh từ 3 – 5% dân số; trầm cảm: 1 –
3% dân số - đối tượng này ngày càng tăng, diễn biến tâm lý rất phức tạp và có thể
tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm…; cơ sở vật chất, trang thiết bị
của đơn vị được đầu tư đã lâu đến nay đã xuống cấp; cán bộ còn thiếu nhiều so với
quy định, đặc biệt là thiếu cán bộ Y tế có trình độ chuyên môn cao, đa số cán bộ
trực tiếp trợ giúp người tâm thần đều thiếu kiến thức chuyên môn về tâm thần và
công tác xã hội; mặt khác gia đình các đối tượng phải chăm sóc lâu ngày nên chán
nản, cùng với khó khăn về kinh tế đã buông xuôi nên phó mặc cho Trung tâm ít
quan tâm thăm hỏi.
Chuyên ngành công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần hiện nay
được các nước trên thế giới đánh giá là một nguồn lực lớn có vai trò rất quan trọng
trong việc đảm bảo an sinh xã hội nói chung và làm giảm tái phát bệnh, giải quyết
các vấn đề trong việc chữa bệnh cho người mắc bệnh tâm thần. Ở Việt Nam nói
chung, tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định nói riêng đang trong giai đoạn
đầu của sự hình thành và phát triển; cán bộ, nhân viên trực tiếp chăm sóc, phục hồi
chức năng cho người tâm thần chưa được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn
về lĩnh vực tâm thần, về CTXH nên hiệu quả hoạt động chăm sóc và phục hồi chức
năng cho người tâm thần chưa cao và làm hạn chế rất nhiều đến chất lượng cung
cấp các dịch vụ xã hội và y tế cho người tâm thần [28].
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với
người tâm thần từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định” để làm
đề tài luận văn thạc sĩ, hy vọng sẽ góp phần vào sự phát triển toàn diện của người
khuyết tật nói chung và đối với người tâm thần tại trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh
Nam Định nói riêng, đặc biệt là sự phát triển toàn diện của xã hội nhằm hướng tới
đảm bảo an sinh xã hội và công bằng xã hội.
2
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Trên thế giới
Theo tổ chức Y tế Thế giới, chính sách về sức khỏe tâm thần (SKTT) là bộ
liên quan đến CSSKTT chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực y tế và xã hội, do Bộ Y tế
và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo triển khai thực hiện.
Bộ Y tế. Hướng dẫn quản lý và thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng
đồng. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2010 [7].
Đề án 1215 do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trình và được Thủ tướng
Chính phủ duyệt ngày 22/7/2011. Đề án này đề cập đến Trợ giúp xã hội và phục hồi
chức năng cho bệnh tâm thần và người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng, đây
chính là sự đổi mới trong tư duy người làm trong lĩnh vực về Sức khỏe tâm thần và
người làm nghề Công tác xã hội [27].
Bộ Lao động. Tài liệu tập huấn công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng, hà Nội, tháng 9 năm 2014 [3].
Giáo trình CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần, nhà xuất bản Lao động Xã hội (2013) (Giáo trình biên soạn với sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic
Philanthropies) [13].
Thân văn Quang. Phục hồi chức năng lao động và tái thích ứng xã hội ở cộng
đồng cho người bệnh tâm thần phân liệt trong tài liệu tập huấn “chăm sóc, quản lý
sức khỏe dựa vào cộng đồng” (Bệnh viện tâm thần trung ương tổ chức tại Huế,
tháng 9-1998) [17].
Nguyễn Văn Siêm. Nghiên cứu dịch tễ lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt tại
cộng đồng (luận văn tiến sĩ khoa học y dược chuyên ngành tâm thần học, mã số
301-45, bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội, 1996) [22].
Lê Chí An: Công tác xã hội cá nhân, NXB Đại học Mở - BC, TP.HCM, 2006 [1].
Nguyễn Văn Siêm. (Giáo trình quy trình chăm sóc và phục hồi chức năng cho
người tâm thần tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, 2014) [24].
Nguyễn Văn Siêm. Rối loạn trầm cảm; bệnh tâm thần phân liệt trong bách khoa
Y học phổ thông (trang 823-836). Nhà xuất bản y học, Hà Nội, 2002 [23].
Nguyễn Việt. Bệnh tâm thần phân liệt, những hiểu biết cơ bản về điều trị, chăm
sóc, quản lý và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (chương trình quốc gia về
chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng), Hà Nội, 1999-2000 [35].
Địa bàn: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
Thời gian: 02 năm (Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016).
5
Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các hoạt động trợ giúp trong
phương pháp CTXH cá nhân: Tham vấn; quản lý ca; xử lý khủng hoảng trong quá
trình trợ giúp cho người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định.
4.3. Phạm vi khách thể nghiên cứu
108 người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định. (đại diện gia
đình, người giám hộ cho đối tượng tâm thần có thể trả lời thay trong trường hợp
người tâm thần không trả lời được).
02 lãnh đạo quản lý, 02 Cán bộ nhân viên công tác xã hội, 20 nhân viên y tế tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng về
NTT, nhu cầu của họ trên cơ sở thực tiễn để đúc rút thành lý luận và những đề xuất
giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả trong trợ giúp cho NTT tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Nam Định.
Nghiên cứu vấn đề trong hệ thống: Hệ thống những lý thuyết có liên quan
trực tiếp, hệ thống các yếu tố có liên quan: dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách,
khả năng của NTT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số
liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu
những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu:
5.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 2 đối tượng chính
là:
Phỏng vấn NTT hoặc gia đình của người tâm thần (nếu có).
Phỏng vấn cán bộ NVCTXH, nhân viên Y tế.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những tài liệu tham khảo hữu ích cho những
người quan tâm đến lĩnh vực CTXH, trong đó có CTXHCN đối với NTT; cung cấp
thông tin cho các nhà nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, các nhà xây dựng chính sách
có nội dung liên quan.
7
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu “Công tác xã hội cá nhân đối với người tâm thần từ
thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định” có thể trở thành tài liệu tham
khảo tốt đối với các cá nhân, tổ chức hữu quan trong quá trình nghiên cứu, thực
hiện phát triển CTXH, trong đó có CTXHCN đối với NTT tại Trung tâm Bảo trợ xã
hội tỉnh Nam Định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người
tâm thần.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người tâm thần từ thực
tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo thực
hiện công tác xã hội cá nhân đối với người tâm thần từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Nam Định.
một đường ranh giới rõ ràng giữa lành mạnh và rối loạn. Mỗi cá nhân đều có những
lúc có hành vi lệch chuẩn, có khi lại cảm thấy đau buồn, hoặc có những hành vi
kém thích nghi. Những người được nhìn nhận có rối loạn tâm thần khi các biểu hiện
này ở quá mức. Nhưng thế nào là quá thì cũng không có tiêu chuẩn rõ ràng. Do đó,
9
rối loạn tâm thần ngày nay được coi là một phổ liên tục từ nhẹ đến nặng. Cũng
chính vì lí do này mà gần đây thuật ngữ “có vấn đề về sức khỏe tâm thần” được sử
dụng nhiều hơn vì nó biểu đạt được hàm ý từ nhẹ đến nặng, và khi chưa xác định
được chẩn đoán rõ ràng.
1.1.2. Phân loại rối loạn tâm thần
Phân loại các vấn đề sức khỏe tâm thần là một trong những vấn đề trọng yếu.
Hiện nay trên thế giới có hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử dụng
rộng rãi. Đó là Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ tư của
Hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ 4 (DSM- IV) và Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần
thứ 10 (ICD-10). Sự ra đời của hai loại bảng phân loại này được đánh giá là mang
lại nhiều lợi ích với những tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng và hợp lý của chúng, được
đánh giá nền tảng cho sự tiến bộ lớn về phương pháp cho các nghiên cứu dịch tễ
học (Henderson, 2000).
Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) được WHO xuất bản và
được đưa vào sử dụng từ năm 1994. Phiên bản đầu tiên của ICD được công bố vào
năm 1900. ICD- 10 là hệ thống phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế cho tất cả các
lĩnh vực liên quan đến y tế nói chung, mục đích quản lý sức khỏe và sử dụng trong
lâm sàng. Phần các vấn đề về sức khỏe tâm thần thuộc chương 5 của Bảng phân
loại bệnh quốc tế lần thứ 10. Nó gồm các mảng sau đây:
Rối loạn tâm thần thực thể bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần
Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và rối loạn hoang tưởng
thể nói mục đích của CTXH cá nhân với người tâm thần là nhằm hỗ trợ bản thân
người tâm thần và gia đình của họ; quản lý ca đối với người tâm thần; tham gia vào
xây dựng phản biện chính sách, pháp luật đối với người tâm thần; Biện hộ cho
quyền và lợi ích của người tâm thần.
1.2.3. Các hoạt động của công tác xã hội cá nhân với người tâm thần bao
gồm: tham vấn, quản lý trường hợp, hỗ trợ kỹ năng xử lý khủng hoảng, stress,
biện hộ… cho người tâm thần và gia đình họ.
1.2.4. Nguyên tắc công tác xã hội cá nhân với người tâm thần
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH
người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ. Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành động
11
tương tác của NVCTXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp. Sau đây là những
nguyên tắc ứng xử của NVCTXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp
người tâm thần.
Chấp nhận thân chủ: NVCTXH chấp nhận thân chủ với mọi phẩm chất tốt và
sấu của người ấy, những điểm mạnh và điểm yếu, không xem xét hành vi của họ.
Chấp nhận đòi hỏi tiếp nhận một thân chủ theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, không
tính toán, không điều kiện hạn chế nào cả và không đưa ra bất cứ sự tuyên án nào về
hành vi của họ.
Thái độ không kết án: Thái độ không kết án, không phê phán có nghĩa là
không tỏ vẻ bất bình với thân chủ; không đổ lỗi bằng cách tranh luận về nguyên
nhân – kết quả hoặc đưa ra lời phê phán cho rằng người ấy đáng bị trừng phạt do
hành vi của họ. Tuy nhiên nó không có nghĩa là NVCTXH biện hộ chạy tội cho
phạm nhân. Khi NVCTXH nói chuyện và đối xử với cung cách như thế thì thân chủ
thấy họ được chấp nhận hoàn toàn và thân chủ sẽ bộc lộ vấn đề của họ.
Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ: Sự công nhận quyền thân chủ tự quyết
thân chủ nói với NVCTXH. Điều cần thiết là chúng không được tiết lộ cho những
người khác, ngoại trừ khi thân chủ cho phép khi mà tình thế bảo đảm chia sẻ thông
tin với người thứ ba như là các thành viên của gia đình hoặc một chuyên gia khác,...
Can thiệp có sự kiểm soát: NVCTXH khởi đầu mối quan hệ với thân chủ,
biểu thị bằng sự chấp nhận và sự khẳng định, vô tư với những lời bóng gió kết án
hoặc sửa chữa lỗi lầm. Một mối quan hệ như thế có vẻ quá máy móc. Nó phải được
xây dựng nên thông qua sự xúc cammr của NVCTXH. Sự xúc cảm được cần đến tới
mức mà NVCTXH có thể cảm nhận mức độ xúc cảm của thân chủ và nhìn tình thế như
người ấy nhìn nó. Tuy nhiên, NVCTXH phải có cái nhìn khách quan để khỏi bị mù
quáng bởi cảm xúc quá độ về tình huống. NVCTXH có thể giúp cho thân chủ nhìn vấn
đề của người ấy một cách khách quan và vạch kế hoạch một cách thực tế. Từ đây, ý
tưởng về một sự can dự có kiểm soát bởi NVCTXH trở thành một nguyên tắc.
1.2.5. Tiến trình giải quyết vấn đề trong công tác xã hội cá nhân đối với
người tâm thần
Tiếp nhận thân chủ: NVCTXH gặp gỡ thân chủ, xác định đúng đối tượng giúp
đỡ
Nhận diện vấn đề: Thông qua các tài liệu, hồ sơ cá nhân của NTT, quan sát
tính cách, hành động, cử chỉ, lời nói, cách ăn mặc,..; vấn đàm với NTT và những
người có liên quan đến NTT; đến thăm gia đình NTT; tổng kết, chuẩn đoán.
13
Thu thập thông tin: Thông tin về vấn đề hiện nay cần giải quyết của NTT;
thông tin tổng quát về NTT và những người có liên quan; tiểu sử gia đình, trình độ
văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội, tính tình, tiêm năng,...
Đánh giá chuẩn đoán: Đánh giá tất cả các vấn đề mà NTT cần phải được giải
quyết như: mối quan hệ, các nhu cầu, tiềm năng, những giải pháp đã được NTT sử
dụng để giải quyết vấn đề, hiệu quả và hạn chế của chúng,...
Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề: Xác định mục đích, thân chủ mong muốn
mẹ đặc biệt khi ốm đau, già yếu, tần tật. Luật cũng đồng thời quy định một số quyền
quản lý tài sản đối với con/cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự [19].
Luật người cao tuổi năm 2009, quy định phụng dưỡng người cao tuổi về thể chất,
tinh thần và quy định các chế độ, chính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bao
gồm cả người cao tuổi bị khuyết tật thể chất và có mắc chứng tâm thần [20].
Luật người khuyết tật 2010, quy định NCVĐTT, người có khuyết tật thần kinh
là nhóm thân chủ khuyết tật. Đây là cơ sở để NCVĐTT được hưởng một số chính
sách hỗ trợ của Nhà nước [21].
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách
trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội [12].
Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ
về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Trong đó có quy định chính
sách và chế độ trợ giúp cho người tâm thần nặng mãn tính [9].
Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 quy định điều kiện, thủ tục thành
lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó bao gồm cả các cơ
sở bảo trợ xã hội có chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc và phục hồi chức năng cho
người tâm thần [8].
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
việc Phê duyệt Đề án phát triển Nghề công tác xã hội giai đoạn 2011-2020. Đề án là
một bước tiến lớn với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển CTXH trở thành một nghề ở
Việt Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ
cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu càu về
chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp,
góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [26].
15
Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ban hành
sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ
nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH
và nhà xã hội [11].
1.3.2. Các chế độ, chính sách của tỉnh Nam Định
Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 29/8/2013 của UBND tỉnh Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm Bảo trợ xã hội
tỉnh Nam Định. Theo đó bổ sung nhiệm vụ cho Trung tâm, đặc biệt là bổ sung
nhiệm vụ cung cấp dịch vụ về công tác xã hội; trợ giúp xã hội và phục hồi chức
năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí trên địa bàn tỉnh Nam Định theo
quy định của pháp luật [34].
Kế hoạch số 27/KH-UBND ngày 20/7/2011 của UBND tỉnh Nam Định về việc
Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2011-2020 tỉnh Nam Định. Mục tiêu của
Kế hoạch là tuyên truyền để nâng cao nhận thức của xã hội về nghề CTXH, hình
thành hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; phát triển và nâng cao năng lực đội
ngũ NVCTXH [29].
Kế hoạch số 05/KH-UBND ngày 16/ 01/2012 của UBND tỉnh Nam Định về việc
trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí
giai đoạn 2011 – 2020. Nhằm triển khai thực hiện 1215; truyền thông, nâng cao
nhận thức về trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội về chăm sóc và
phục hồi chức năng cho đối tượng; phát triển cơ sở Bảo trợ xã hội (BTXH) chăm sóc
và phục hồi chức năng cho người tâm thần, các cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm
trí; phát triển nguồn nhân lực trong trợ giúp xã hội [33].
Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 19/04/1012 của UBND tỉnh Nam Định:
Theo đó điều chỉnh chế độ trợ cấp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội đang quản lý,
nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm dạy nghề cho trẻ khuyết tật
thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội [30].
Quyết định số 1776/QĐ-UBND ngày 07 tháng 09 năm 2015 của UBND tỉnh
Nam Định: Theo đó quy định chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng được
c. Nhu cầu về tình cảm của con người là có thật, chúng không thể được đáp
ứng hay bị loại trừ bằng sự lý giải của lý trí
18
Khi một người cảm thấy khó chịu hoặc có những cảm xúc bất an trong một
tình huống cụ thể nào đó, những lý giải mang tính lý trí của người thứ hai không thể
giúp người kia vơi bớt cảm xúc khó chịu hay bất an. Những giải thích theo kiểu có
thể hoặc không thể trợ giúp người đó được
d. Hành vi của con người thường có mục đích và hành vi này là sự thể hiện
những nhu cẩu về thể lý và tình cảm của cá nhân
Có những hành vi của con người mà chúng ta có thể nhận biết hay giải thích
được khi các nhu cầu về vật chất và tình cảm có thể quan sát được. Nhưng cũng có
những nhu cầu về tình cảm mà chúng ta không thể nhận thấy dễ dàng, vì thế khó có
thể thiết lập mối liên hệ giữa nhu cầu và hành vi. Khi hành vi của một người không
dễ để nhận thấy được, chúng ta cần tìm hiểu và xác định các yếu tố xã hội và tình
cảm liên quan đến hành vi đó, trước khi chúng ta đưa ra sự giải thích.
Công tác xã hội sử dụng ý tưởng về việc điều chỉnh hành vi thông qua việc tạo
ra những củng cố tích cực đối với những hành vi mong đợi và củng cố tiêu cực đối
với những hành vi không hợp lý. Cách giải quyết vấn đề theo mô hình này tập trung
vào tiến trình lập kế hoạch thay đổi hành vi thông qua việc tạo ra môi trường cho cá
nhân tăng cường hành vi tốt và hạn chế hành vi chưa tốt. Phương pháp này được
đánh giá là hiệu quả nếu áp dụng cho những đối tượng cần thay đổi hành vi cũ.
Quan điểm hành vi quan tâm nhiều đến các khuôn mẫu và tìm cách để con
người lặp lại các khuôn mẫu đó bằng việc tác động vào nhận thức hay sử dụng các
củng cố. Tuy nhiên quan điểm này không đặt trọng tâm vào việc thân chủ thật sự
cảm nhận như thế nào về những khuôn mẫu đó. Không thực sự quan tâm đến những
quy trình cảm xúc diễn ra trong tâm trí thân chủ, điểm này khiến các nhà nhân văn
hiện sinh không đồng tình. Nặt khác, quan điểm hành vi chủ yếu sửa chữa những
lẫn nhau và những ranh giới dễ nhận biết. Hệ thống có thể mang tính vật chất, cơ
học, sinh động vã xã hội, hoặc kết hợp nhiều yếu tố này. Ví dụ: Hệ thống gia đình
bao gồm các nhân tố là các thành viên trong gia đình đó.
Lý thuyết sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống đã có nhiều đóng góp
quan trọng cho ngành công tác xã hội. Một trong những đóng góp đó là định nghĩa
ba cấp độ hệ thống: cấp vi mô, cấp trung mô và cấp vĩ mô.
Cấp vi mô: Hệ thống này đề cập đến một cá nhân và kết hợp các hệ thống sinh
học, tâm lý và xã hội tác động lên cá nhân đấy.
Cấp trung mô: Hệ thống này đề cập đến các nhóm nhỏ ảnh hưởng đến cá nhân
như gia đình, nhóm làm việc, và những nhóm xã hội khác.
20
Cấp vĩ mô: Hệ thống này nói đến các nhóm và những hệ thống lớn hơn gia
đình. Bốn hệ thống vĩ mô quan trọng tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết
chế, cộng đồng và nền văn hóa.
Một mục đích của công tác xã hội là thúc đẩy công bằng xã hội để con người
mở rộng các cơ hội tạo ra chỗ đứng cho mình trong xã hội. Lý thuyết hệ thống sinh
thái đặt cá nhân vào vị trí tương tác liên tục với những người khác và với những hệ
thống khác trong môi trường và những con người và hệ thống khác nhau này tác
động hỗ tương với nhau.
Hơn nữa mỗi hệt hống là độc nhất, khác nhau về đặc tính và cách thức tương
tác (không có hai cá nhân, hai gia đình, hai nhóm giống hệt nhau). Vì thế con người
không chỉ là những tác nhân phản ứng với các lực môi trường. Đúng ra họ tác động
vào môi trường từ đó hình thành những đáp ứng của người khác, nhóm khác và các
thiết chế khác và của cả môi trường vật chất.
Vì vậy, việc đánh giá đúng đắn những vấn đề của con người và những kế
hoạch can thiệp cần xem xét tác động hỗ tương giữa con người và hệ thống môi
trường. Tầm quan trọng của việc xem xét sự tương tác qua lại giữa con người và hệ