Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các dạng đê bao vùng đồng tháp mười làm cơ sở đề xuất xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững (tóm tắt) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

THÁI VŨ BÌNH

“NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA
CÁC DẠNG ĐÊ BAO VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH
HỆ KINH TẾ SINH THÁI
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG”
Chuyên ngành
: Môi trường đất và nước
Mã số chuyên ngành : 62 85 02 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2017


Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Công nghệ và
Quản lý Môi trường (Trường Đại học Công nghiệp Tp. HCM)
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ HUY BÁ

Phản biện 1:

GS.TS Lê Quang Trí

Phản biện 2:

PGS.TS Võ Lê Phú


Tuyển tập Hội nghị KHCN Lần IV, Trường Đại học Công nghiệp.
[4]. Thái Vũ Bình, Lê Huy Bá, Lê Nguyễn (2013), Nhận diện diễn biến
môi trường trong các dạng đê bao vùng phía Bắc sông Tiền, Đồng Tháp
Mười. Tạp chí Đại học Công nghiệp, ISSN: 1859-3712, số 1, năm 2013.
[5]. Thái Vũ Bình, Lê Huy Bá, Ung Văn Tuyền (2013), Nhận diện khía
cạnh kinh tế của các mô hình sản xuất trong các dạng đê bao vùng phía
Bắc sông Tiền, Đồng Tháp Mười. Tạp chí Đại học Công nghiệp, ISSN:
1859-3712, số 1, năm 2013.
[6]. Thái Vũ Bình (2014), Đánh giá kinh tế sinh thái các mô hình sản
xuất trong các dạng đê bao mùa lũ Đồng Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ISSN:1859-4581, Tháng
12-2014.
[7]. Thái Vũ Bình, Lê Huy Bá (2015), Đánh giá ảnh hưởng các dạng đê
bao mùa lũ Đồng Tháp Mười đến môi trường đất và nước với các mô
hình canh tác nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp. Tạp chí Đại học Công
nghiệp, ISSN: 1859-3712, số 2, năm 2015.
[8]. Thai Vu Binh, Le Huy Ba, Truong Thi thu Huong, Le Nguyen
(2015), Ecological Economic Assessment of the production in different
forms of dikes in plain of reeds of Dong Thap Muoi area, Vietnam.
Southeast-Asian Journal of Sciences, Vol.4, No. 1 (2015) pp. 1-13.
II. Sách
[1]. Lê Huy Bá, Thái Vũ Bình và nnk, Khả năng chịu tải hệ sinh thái môi
trường lưu vực sông Vàm Cỏ. NXB Khoa học Kỹ thuật, năm 2013.
[2]. Lê Huy Bá, Thái Vũ Bình và nnk, Quản lý môi trường (phần chuyên
đề). NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM, năm 2016.


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT
Đồng Tháp Mười là vùng ngập sâu của Đồng bằng sông Cửu Long

trường) phục vụ PTBV.
2.2. Mục tiêu cụ thể
1


1. Hoàn thiện quy trình đánh giá KT-ST cho các mô hình sản xuất trong đê
bao
2. Đánh giá được ảnh hưởng của lũ và các dạng đê bao lên một số chỉ tiêu
môi trường đất và nước trong các mô hình canh tác trong đê bao
3. Đánh giá được ảnh hưởng của lũ và các dạng đê bao lên hiệu quả sản xuất
của các mô hình canh tác trong đê bao thông qua một số chỉ tiêu kinh tế
4. Đánh giá được sự hợp lý của việc bố trí các mô hình sản xuất dưới góc độ
KT-ST
5. Đề xuất định hướng phát triển các mô hình KT-ST cho các mô hình canh
tác trong các dạng đê bao phục vụ PTBV
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là:
1. Các dạng đê bao vùng phía Bắc sông Tiền
2. Các mô hình canh tác nông nghiệp trong các dạng đê bao
3. Tác động của đê bao lên môi trường đất và nước
4. Tác động của đê bao lên hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác nông
nghiệp
5. Mức độ KT-ST của các mô hình sản xuất nông nghiệp trong các dạng đê
bao
4.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 04 huyện nằm ở phía
Bắc sông Tiền thuộc tỉnh Đồng Tháp
- Trong môi trường đất, đề tài tập trung các chỉ tiêu pH, Al 3+ là hai chỉ tiêu
đặc trưng của vùng nghiên cứu

- Luận điểm 3: Có thể nâng cao hiệu quả KT-ST của từng mô hình sản xuất
trên cơ sở chuyển đổi (hiệu quả, thích hợp) của từng/các yếu tố chủ đạo tác
động đến mô hình sản xuất.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bằng những cơ sở lý thuyết và những dẫn cứ thực tế, đề tài góp phần củng
cố về mặt phương pháp đánh giá KT-ST cho các mô hình canh tác trong điều
kiện lũ và giới hạn trong các dạng đê bao.
Thông qua quá trình đánh giá mức độ KT-ST, Luận án góp phần nhằm làm
sáng tỏ những ảnh hưởng của lũ, các dạng đê bao lên môi trường đất, môi
trường nước, hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, lũ vẫn về hàng năm, các đê bao đã được xây dựng
và vận hành nhiều năm qua, Luận án nhìn nhận mặt lợi, mặt hại của các dạng
đê bao từ trước, trong và sau lũ để có thể khuyến nghị những giải pháp theo
quan điểm KT-ST làm sao phát huy được mặt lợi và hạn chế của các dạng đê
bao đối với các mô hình canh tác nhằm PTBV trong điều kiện lũ.
Dưới góc độ và quan điểm KT-ST, Luận án đã phân tích và đánh giá mức độ
phù hợp KT-ST của từng mô hình canh tác, từ đó khuyến nghị các hướng
phát triển, phân bố không gian và thời gian của các mô hình canh tác sao cho
3


đạt được lợi ích về kinh tế và đảm bảo khả năng bảo vệ (sinh thái) nhằm
hướng đến PTBV.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Phát triển theo quan điểm KT- ST
1.1. 1.1. Kinh tế tài nguyên và môi trường

4


và môi trường chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích PTBV, là
hệ thống vừa bảo đảm chức năng cung cấp (kinh tế) vừa đảm bảo chức năng
bảo vệ (sinh thái) và bố trí hợp lý trên lãnh thổ.
1.1.2.
Mô hình hệ kinh tế sinh thái
1.1.2.1. Nghiên cứu kinh tế sinh thái
+ Phương pháp mô phỏng hệ KT-ST: hai nhà tóan học người Mỹ Cohen và
Newman đã phát triển thành mô hình tóan hòan chỉnh dưới dạng phương
trình vi phân. Để đảm bảo cân bằng tối ưu thì các thành phần của phương
trình phải tối ưu. Tuy nhiên để giải bài tóan này là rất phức tạp. Mỗi HST cụ
thể, chọn những yếu tố quan trọng nhất (tính đến trọng số) để thiết lập
phương trình và giải để tìm ra các nghiệm tối ưu nhất.
+ Phƣơng pháp đánh giá trọng số các thành phần của HST: Khi nghiên
cứu HST, vấn đề đặt ra là trong rất nhiều thành phần cấu tạo ta nên chọn
thành phần nào và bỏ qua thành phần nào để nghiên cứu sâu hơn. Giải quyết
vấn đề này bằng cách tiếp cận thông qua các thuật toán. Vậy phương pháp
mô phỏng HST thông qua phương trình vi phân sẽ được thiết lập trên cơ sở
các biến có trọng số lớn và bỏ qua các biến có trọng số nhỏ, như vậy lúc này
phương trình sẽ đơn giản hơn và việc giải sẽ khả thi hơn.
+ Phương pháp hệ số truyền ảnh hưởng: Trong một hệ KT-ST với rất
nhiều yếu tố tác động, trong đó, tại một hệ điển hình/đặc thù nào đó, giả sử
tồn tại hai yếu tố mà mối quan hệ của chúng quyết định chiều hướng biến
đổi của hệ, sử dụng phương pháp hệ số truyền ảnh hưởng của hai yếu tố này
để phân tích và đánh giá hệ thống.
+ Phương pháp phân loại cảnh quan và đánh giá mức độ thích hợp:
Phương pháp này dựa trên việc nghiên cứu sự phân hóa các điều kiện tự
nhiên và hình thành nên hệ thống các đơn vị cảnh quan làm đơn vị cơ sở đánh

phù hợp với chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và điều kiện sinh thái ở Trung
Quốc (Tian Shi, 2002).
Cho đến nay, nghiên cứu về kinh tế - sinh thái đã phát triển mạnh
mẽ tại hầu hết các quốc gia. Lĩnh vực này đã mang lại một quan điểm mới
trong vài năm gần đây trong hoạch định chính sách phát triển cũng như đánh
giá mức độ phát triển bền vững tại một số quốc gia. Quan điểm này được
biết đến đó là tích hợp các chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
- sinh thái mà vốn trước đây được xây dựng một cách riêng biệt về kinh tế và
về sinh thái môi trường.
1.2.1.2. Các nghiên cứu kinh tế - sinh thái bằng mô hình hóa
Martin (2007) đã hệ thống hóa khoảng 60 nghiên cứu về mô hình
hóa về kinh tế và mô hình hóa về sinh thái và đã chỉ ra có sự khác biệt giữa
các phương pháp tiếp cận mô hình hóa trong kinh tế và sinh thái. Từ việc
phân tích này, Martin đề nghị phát triển một mô hình tích hợp kinh tế - sinh
thái và điều đáng để đề cập đó là mô hình tích hợp thì lại đơn giản hơn, trực
quan hơn và dễ ứng dụng hơn.
Bockstael (1995) đã phát triển mô hình toán kinh tế sinh thái nhằm
làm công cụ lượng hóa các gía trị, dịch vụ của hệ sinh thái. Tiếp theo đó,
6


Alexey và cộng sự (1999) đã phát triển mô hình GEM bằng cách tích hợp
mô-đun kinh tế và mô-đun sinh thái để nghiên cứu kinh tế sinh thái Lưu vực
Patuxent, Maryland, Mỹ. Cũng với cách tiếp cận này, Di Jin (2003) đã xây
dựng mô hình kinh tế sinh thái trên cơ sở hợp nhất giữa mô hình kinh tế với
mô hình sinh thái, được đặc trưng bởi các thông số đầu vào - đầu ra của vùng
đới bờ và mạng lưới thức ăn trong HST biển. Tương tự vậy, các nghiên cứu
của Monica (1998), Robert (2001), Roberta (2002), Erickson (2005),
Münier (2006), …đều xây dựng mô hình tích hợp để giải quyết các bài toán
kinh tế - sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái nông nghiệp, lưu vực sông,

quy hoạch phát triển theo quan điểm KT-ST.
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU TRONG BỐI
CẢNH LŨ VÀ XÂY DỰNG, VẬN HÀNH CÁC DẠNG ĐÊ BAO
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1.1. Vị trí địa lý
Vùng nghiên cứu gồm 04 huyện: Tam Nông, Tân Hồng, Hồng Ngự và
Thanh Bình, nằm phía Bắc sông Tiền thuộc tỉnh Đồng Tháp. Đây được xem
là vùng đầu nguồn sông Tiền (lãnh thổ Việt Nam), với hệ thống kênh rạch
chằng chịt. Lũ về vùng nghiên cứu có phần sớm hơn các vùng khác và mức
độ ngập cũng sâu hơn.
2.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình toàn vùng mang tính chất của vùng ĐBSCL tương đối bằng phẳng,
không có chênh lệch lớn về độ cao. Vùng nghiên cứu nằm trong vùng trũng
ĐTM nên địa hình tương đối thấp.
2.2.3. Phát triển kinh tế
Nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng cao của vùng nghiên
cứu. Trong đó cây lúa là cây trồng chủ yếu trên địa bàn nghiên cứu. Nuôi
trồng thủy sản cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng lũ nói chung và
vùng nghiên cứu nói riêng.
2.2.4. Vấn đề xã hội
Tổng dân số vùng nghiên cứu năm 2011 là 575.184 người. Mật độ dân số là
394 người/km2. Phần lớn cư dân sống ở nông thôn và được hình thành theo
hai dạng chủ yếu: (1). Điểm dân cư hình thành theo các tổ chức sản xuất,
như làng cá bè trên sông; làng ruộng, rẫy; làng vườn; làng rừng; làng tiểu thủ
công nghiệp; (2). Điểm dân cư hình thành theo các cụm, tuyến dọc theo các
kênh, rạch, các trục đường giao thông và mô hình tập trung theo cụm dân cư.
2.3. CÁC VẤN ĐỀ THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN ĐỒNG THÁP MƢỜI
2.3.1. Lũ lụt
Hằng năm, lũ vào theo hai hướng: (1). Từ sông Tiền theo các kênh vào vùng

Khu vực ĐBTĐ có chất lượng nước ô nhiễm và kém hơn các khu vực khác.
Ô nhiễm hữu cơ đã xuất hiện tại vùng trong đê bao và phần lớn các điểm kết
quả ghi nhận trước lũ có xu hướng ô nhiễm cao hơn trong lũ và vùng trong
ĐBTĐ ô nhiễm cao hơn vùng trong ĐBL. Ô nhiễm do các chỉ tiêu khác như
Nitrate, Nitrite và Ammonia cũng đã xuất hiện một vài nơi và cũng theo quy
luật tương tự. Trong khi đó lượng Coliform trong lũ thường cao hơn trước lũ
và nhiều điểm vượt tiêu chuẩn từ 2 đến 3 lần.
2.3.4.2. Môi trường đất
Các hệ thống canh tác, đê bao và lũ chính là nguyên nhân làm thay đổi, lan
truyền chất trong đất theo các quy luật phức tạp. Đánh giá môi trường đất và
ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên, nhân tác lên môi trường đất vùng
ĐTM đến nay đã có nhiều nghiên cứu bước đầu chỉ ra. Lượng phù sa và dinh
dưỡng tầng mặt sau đê bao thường thấp hơn trước đê bao và vùng trong
ĐBL cao hơn vùng đê ĐBTĐ.
9


2.3.5. Hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất
Hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất theo các loại đất cũ và đất mới
khai hoang cho thấy vùng đất mới khai hoang hiệu quả còn khá thấp. So với
các mô hình canh tác lúa thì mô hình 3 vụ lúa có hiệu quả thấp nhất. Trong
vùng đất mới khai hoang, do các yếu tố đất, nước và kinh nghiệm canh tác
còn hạn chế nên hiệu quả kinh tế nhìn chung thấp hơn nhiều so với vùng đất
thuộc. Trong vùng đất này, mô hình 2 vụ lúa HT-Mùa có hiệu quả cao nhất,
kế đến là mô hình 1 vụ ĐX, tiếp đến là mô hình chuyên màu và mô hình 2
vụ ĐX-HT.
Vùng ĐBL có hiệu quả hơn vùng không đê bao và vùng ĐBTĐ. Trong vùng
ĐBTĐ hiệu quả canh tác trước khi xây dựng đê bao cao hơn sau khi xây
dựng đê bao và chênh lệch về hiệu quả kinh tế giữa trước và sau khi xây
dựng đê bao triệt để càng lớn khi thời gian hoạt động của đê càng dài. Trong

môi trường, hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất trong bối cảnh nước
nổi về từ đó làm cơ sở xem xét tích hợp của cả 3 yếu tố (đất, môi trường,
hiệu quả kinh tế) theo các mức độ KT-ST khác nhau của từng mô hình sản
xuất. Từ kết quả của đánh giá này tiếp tục xem xét vai trò đóng góp (tầm
quan trọng) của từng yếu tố trong mỗi loại mô hình sản xuất trong từng dạng
đê bao quyết định lên mức độ KT-ST của mô hình sản xuất để có cơ sở điều
chỉnh các yếu tố đó nhằm hướng đến tính KT-ST cao hơn của mô hình sản
xuất.
3.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Phương pháp lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu môi trường: Lấy 588 mẫu đất,
597 mẫu nước qua 04 đợt với 50-70% số mẫu lặp lại.
- Phương pháp xử lý số liệu thống kê
- Phương pháp điều tra theo phiếu mẫu: Điều tra tổng hợp cấp xã 47 phiếu,
điều tra nông hộ 303 phiếu và kiểm định kết quả bằng theo dõi qua Sổ tay tại
các mô hình (50 Sổ tay)
- Phương pháp đánh giá thích hợp về đất của các mô hình canh tác: Ứng
dụng phương pháp đánh giá định tính của FAO cho đặc thù của vùng nghiên
cứu.
- Phương pháp tính hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản xuất: Đề tài xử lý số
liệu và phân tích qua các thông số: Giá trị sản xuất trên chi phí vật chất
(HCGO = GO/DC) và Lợi nhuận trên lao động (HLPr = Pr/LĐ)
- Phương pháp bản đồ, GIS

11


Hình 3.1. Tiếp cận đánh giá kinh tế sinh thái cho các mô hình sản xuất trong
đê bao
Bối cảnh phát triển của

CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÊ BAO ĐẾN MÔI TRƢỜNG ĐẤT
4.1.1. Môi trƣờng đất thời điểm trƣớc lũ trong các dạng đê bao
Chất lượng đất trong ĐBTĐ tốt hơn trong vùng ĐBL. Điều này thể hiện qua
tần suất xuất hiện các giá trị pH và Al3+ thuận lợi cho cây trồng ở ĐBTĐ lần
lượt là 45% và 32,4% tổng số điểm khảo sát, trong khi ở ĐBL tần suất tương
ứng là 40% và 24,5%.
4.1.2. Môi trƣờng đất thời điểm sau lũ trong các dạng đê bao
Thời điểm sau lũ, đánh giá đất qua các chỉ tiêu pH và nhôm trao đổi (Al3+) cho
thấy, ĐBL có nồng độ Al3+ cao hơn trong ĐBTĐ và vượt ngưỡng thích hợp
cho cây trồng. Trong khi pH đất vùng ĐBL có xu hướng tốt hơn vùng ĐBTĐ
12


với nhiều điểm khảo sát có pH tăng lên và đạt ngưỡng thích hợp cho cây trồng
phát triển.
Nhận xét: Thời điểm trước lũ môi trường đất trong vùng ĐBTĐ tốt hơn
trong ĐBL. Vào thời điểm sau lũ, pH đất trong ĐBL được cải thiện tốt hơn
vùng ĐBTĐ, trong khi Al3+ được cải thiện tốt hơn trong ĐBTĐ với số lượng
vị trí khảo sát có nồng độ Al3+< 0,5mg/100g đất (nồng độ thích hợp cho cây
trồng) tăng lên.
4.1.3. Kiểm định kết quả đánh giá môi trƣờng đất
Kết quả kiểm định cho 2 nhóm các chỉ tiêu pH, Al3+ trong đất, vào các thời
điểm quan sát cho thấy (mức ý nghĩa 95%): Qua hai thời điểm quan sát, các
chỉ tiêu theo dõi tại vùng ĐBL có giá trị cao hơn so với ĐBTĐ, và thời điểm
sau lũ giá trị của các chỉ số có tăng nhẹ so với thời điểm quan sát trước đó.
Về mặt thống kê 2 nhóm chỉ tiêu này có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai thời
điểm quan sát (Sig. (2-tailed) < 0,05).
4.2. ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÊ BAO ĐẾN MÔI TRƢỜNG NƢỚC
4.2.1. Môi trƣờng nƣớc trong các dạng đê bao thời điểm trƣớc lũ

hơn. Hay nói cách khác, ĐBTĐ để ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước khi
nghiên cứu từ giai đoạn trước lũ đến sau lũ.
Cũng với kết quả đó, nếu nhìn nhận ở quá trình lũ có thể kết luận lũ có khả
năng cải thiện môi trường nước tốt lên. Tuy nhiên do giới hạn trong các
dạng đê bao nên mức độ cải thiện là không nhiều và tùy thuộc vào quá trình
vận hành đê bao. Trong khi ĐBL chỉ ngăn lũ đến đầu vụ nên mức cải thiện
chất lượng nước tốt hơn ĐBTĐ.
4.2.3. Kiểm định kết quả đánh giá môi trƣờng nƣớc
Kết quả cho từng cặp – dãy số liệu cho thấy: Thời điểm trước lũ, pH, BOD
vùng ĐBL có giá trị cao hơn vùng ĐBTĐ. Thời điểm sau lũ, giá trị pH
không thay đổi đáng kể (6,5015/6,3822) giữa 2 vùng đê bao. Tuy nhiên, có
thể nhận định, giá trị COD và BOD tại vùng ĐBL thấp hơn so với vùng
ĐBTĐ. Trong kết quả này, có thể khẳng định vào thời điểm sau lũ với độ tin
cậy 95% giá trị của BOD của ĐBTĐ cao hơn BOD vùng ĐBL. Thời điểm và
các giá trị còn lại mức ý nghĩa thấp hơn 95%.
4.3. ẢNH HƢỞNG CỦA ĐÊ BAO ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA
CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC
4.3.1. Hiệu quả kinh tế thời điểm trƣớc lũ
Khu vực ĐBL tần suất xuất hiện giá trị GO/DC> 2 trong các điểm khảo sát
là 32,1% và ở ĐBTĐ là 40,8%. Giá trị Pr/LĐ> 1 xuất hiện với tần suất
97,6% trong đê bao lửng và 25% trong ĐBTĐ.
Trong khu vực ĐBL, nhiều điểm khảo sát có giá trị GO/DC và Pr/LĐ tương
đồng nhau, trong khi vùng ĐBTĐ hầu hết các điểm đều có giá trị GO/DC
cao hơn Pr/LĐ. Như vậy kết quả cho thấy, nếu xét về thu nhập thì canh tác
trong vùng ĐBTĐ có hiệu quả hơn vùng ĐBL, nhưng nếu xét về lợi nhuận
thì mô hình canh tác trong ĐBL hiệu quả hơn.
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của đê bao vào thời điểm trước lũ cho phép
nhận định: Lợi nhuận trên chi phí vật chất tại ĐBTĐ tốt hơn ĐBL, nhưng
14


này có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai thời điểm quan sát. Thời điểm sau lũ,
giá trị sản xuất trên chi phí vật chất (GO/DC) của vùng ĐBL thấp hơn so với
vùng ĐBTĐ (Mean (pair 3) = - 0,51236, với Sig.(2-tailed) = 0,001 < 0,05).
Về mặt thống kê 2 nhóm chỉ tiêu kính tế này có sự khác biệt có ý nghĩa giữa
hai thời điểm quan sát. Song đó, chỉ tiêu lợi nhuận trên một đơn vị lao động
15


(PR/LD) ở vùng ĐBL cao hơn vùng ĐBTĐ (Mean (pair 4) = 0,67939, với
Sig.(2-tailed) = 0,004 < 0,05). Từ kết quả này (với mức ý nghĩa 95%), có thể
kết luận lợi nhuận trên một đơn vị lao động ở vùng ĐBL có lợi ích về mặt
kinh tế hơn so với vùng ĐBTĐ.
4.4. ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC TRONG CÁC
DẠNG ĐÊ BAO DƢỚI GÓC ĐỘ KINH TẾ - SINH THÁI
4.4.1.
Mức độ thích hợp về đất đai tại các mô hình canh tác
trong các dạng đê bao
4.4.1.1. Mức độ thích hợp về đất đai tại các mô hình canh tác trong
Vùng ĐBL
Vào vụ trước lũ, 44,23% số ô bao có mức thích hợp cao, 21,15% thích hợp
trung bình, 17,31% ít thích hợp và 17,31% không thích hợp. Vụ trong lũ, số ô
bao thích hợp cao chiếm 84,62% và còn lại 15,38% là không thích hợp, không
có ô bao ở mức thích hợp trung bình hay ít thích hợp. Vụ sau lũ, có 46,15%
thích hợp cao, 28,85% thích hợp trung bình và 25% ô bao ít thích hợp, không
có ô bao ở mức không thích hợp.
4.4.1.2. Mức độ thích hợp về đất đai của các mô hình canh tác trong
Vùng ĐBTĐ
Vụ trong lũ có số ô bao ở mức thích hợp cao chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với vụ
trước và sau lũ. Vào vụ trước lũ, có 36% số ô bao thích hợp cao, 46% ô bao
thích hợp trung bình, 6% ô bao ít thích hợp và 12% ô bao không thích hợp.

ĐBL và ĐBTĐ.
4.4.3. Mức độ kinh tế - sinh thái của các mô hình sản xuất trong
các dạng đê bao
Kết quả phân hạng có 7 ô bao có mức độ KT-ST kém, 90 ô bao có mức độ KTST trung bình và 25 ô bao có mức độ KT-ST cao. Trong đó, có 6 ô bao là
ĐBTĐ (chiếm 85,7%) và 1 ô bao là ĐBL. Cũng vậy, trong 7 mô hình có hiệu
quả KT-ST kém thì có 6 mô hình là canh tác 3 vụ trong 1 năm (chiếm
85,7%).
Có 90 ô bao (ô bao) có hiệu quả KT-ST trung bình, trong đó có 57 ô bao trong
ĐBL (chiếm 63%) và 33 ô bao trong ĐBTĐ.
Có 25 mô hình canh tác được đánh giá có hiệu quả KT-ST cao. Trong đó có
đến 21 mô hình nằm trong ĐBL (chiếm 84%). Các mô hình canh tác 3 vụ chỉ
có 4 mô hình (chiếm 16%), còn lại 84% các mô hình canh tác được đánh gía
hiệu quả cao về KT-ST là canh tác 2 vụ.
4.5. ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƢỚNG KINH TẾ – SINH THÁI CỦA
CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT TRONG CÁC DẠNG ĐÊ BAO
Cách tiếp cận xuyên suốt của đề tài đi từ đặc tính đất của khu vực, các hoạt
động làm biến đổi/dẫn đến kết quả là mức chất lượng môi trường và hiệu quả
kinh tế của mỗi loại ô bao, đây là 3 nhóm yếu tố đặc trưng nhất cho mỗi loại
ô bao. Có thể xem mỗi mô hình canh tác trong mỗi loại đê bao là một hàm
số, hàm số này được miêu tả như sau:
F (ô bao) = {đặc tính đất; quá trình lũ; môi trường; kinh tế; sự can
thiệp của con người}
17


Quá trình lũ và sự can thiệp của con người qua từng giai đoạn, mùa vụ là có
sự biến động rất lớn. Các yếu tố còn lại đã được đề tài đánh giá thực trạng và
xu hướng biến đổi trong mỗi loại mô hình canh tác và sắp xếp, phân hạng
theo mức độ thích hợp thấp – trung bình – cao.
Với cách tiếp cận và nhìn nhận hiện thực khách quan như trên, Đề tài tiến tới

trung bình, chúng ta tiếp tục chuyển đổi mô hình canh tác của các ô bao có
18


mức độ KT-ST trung bình và sự thích hợp của đất trung bình. Có tất cả 10 ô
bao được chuyển đổi sang mô hình canh tác phù hợp với sự thích hợp về đất cao
(trong đó: 3 ô bao ở ĐBL, 7 ô bao ở ĐBTĐ). Bên cạnh đó còn một số ô bao có
mức độ KT-ST là trung bình nhưng sự thích hợp với đất là cao ứng với các dạng
đê bao, nên ta không thể chuyển đổi mô hình canh tác. Để các ô bao này nâng cao
mức độ KT-ST chúng ta tăng cường các kỹ thuật canh tác mới đồng thời quản trị
tốt các dạng đê bao và có giải pháp bảo vệ môi trường hợp lý từ đó sẽ tăng hiệu
quả kinh tế của các mô hình.
Như vậy, Tác giả đã khuyến nghị lựa chọn 3 kịch bản ứng với phát triển
thấp, trung bình và cao từ đó đưa ra giải pháp chuyển đổi các mô hình canh
tác trong các dạng đê bao hướng đến nền KT-ST nông nghiệp. Không có
kịch bản nào là có thể ứng dụng hoàn toàn và duy nhất. Tùy điều kiện của
từng địa phương, điều kiện của nông hộ mà nên chọn một cách dung hòa
và/hoặc lần lượt đi từ kịch bản thấp, kịch bản trung bình đến kịch bản cao
cho từng ô bao cụ thể. Những ô bao có mức độ KT-ST thấp chuyển đổi dần
sang mức KT-ST trung bình và tiếp tục sang mức cao. Các ô bao có mức độ
KT-ST trung bình có thể duy trì hoặc chuyển đổi sang mức KT-ST cao tùy
điều kiện địa phương nông hộ. Các ô bao có mức độ KT-ST cao tiếp tục duy
trì mô hình sản xuất hiện tại và lưu ý đến các giải pháp kinh tế kỹ thuật, bảo
vệ môi trường. Tuy nhiên, xuyên suốt quan điểm này, các ô bao đang có mô
hình canh tác với mức độ KT-ST thấp cần nhanh chóng chuyển đổi sang mô
hình canh tác có mức độ KT-ST trung bình. Các giải pháp bổ trợ cần được
duy trì và triển khai thống nhất trong vùng đê bao, đó là: giải pháp vận hành
các ô bao hợp lý (điều tiết nước và tính toán vận hành một cách đồng bộ,
xem xét các ảnh hưởng liên ô bao, liên vùng…) và các giải pháp kỹ thuật
canh tác tiên tiến, thân thiện môi trường tại các mô hình canh tác). Trên tất

sinh thái khác tại ĐBSCL nhằm đánh giá được tích hợp lý của các mô hình
sản xuất trên quan điểm KT-ST và có được các hướng điều chỉnh các mô
hình sản xuất theo hướng KT-ST phục vụ phát triển bền vững.
2. Trong bối cảnh nước nổi về hàng năm, đê bao Vùng ĐTM đã được xây
dựng hàng chục năm qua, một mặt giúp ổn định sản xuất, ổn định đời sống
và phát triển hạ tầng cơ sở, nhưng mặt trái của nó là ngăn cản sự cải thiện
môi trường của nước nổi. Có thể kết luận rằng đê bao có tác động tiêu cực
đến môi trường sinh thái, hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất trong đê
bao:
- Đối với môi trường đất: Giai đoạn trước lũ ở ĐBTĐ có môi trường đất
(thể hiện qua pH và Nhôm trao đổi) tốt hơn ĐBL. Sau khi lũ về, môi trường
đất trong các dạng đê bao được cải thiện tốt, trong đó mức cải thiện trong
ĐBL cao hơn ĐBTĐ (mức tin cậy 95%). Có thể nói lũ giúp cải thiện điều
kiện môi trường đất.
- Đối với môi trường nước: Giai đoạn trước lũ các chỉ tiêu môi trường trong
ĐBL cao hơn ĐBTĐ. Sau khi lũ về chất lượng môi trường nước trong ĐBL
được cải thiện tốt hơn. ĐBTĐ mang lại ô nhiễm hữu cơ (BOD5) với mức độ lớn
hơn ĐBL (độ tin cậy 95%).
20


- Về hiệu qủa kinh tế: Nếu xét về hiệu quả trên chi phí đầu tư thì ĐBTĐ
hiệu quả hơn ĐBL, nhưng nếu xét về hiệu quả trên chi phí lao động thì
ngược lại. Ngoài ra, trong ĐBTĐ hiệu quả trên chi phí vượt trội so với hiệu
quả trên lao động, điều này ở ĐBL là tương đồng. Lũ mang lại hiệu quả kinh
tế (cả về chi phí và lao động).
3. Trong bối cảnh đê bao chằng chịt và nước nổi về hàng năm, việc bố trí các
mô hình sản xuất nông nghiệp trong đê bao vùng ĐTM còn thiếu hợp lý. Đề
tài đã đánh giá tính thích hợp về đất đai của các mô hình sản xuất nông
nghiệp cho kết quả như sau:

sinh thái, càng có nhiều giải pháp công trình để can thiệp (đê bao, cống
bọng, kênh mương…) thì càng bộc lộ những hạn chế của dòng nước về đối
với môi trường sinh thái, kinh tế... Đã đến lúc khái niệm này cần được gọi là
“nước nổi” để phát huy, tận dụng những lợi thế của nó. Với quan điểm này,
Luận án kiến nghị hạn chế tiếp tục bao đê triệt để và tiếp tục nghiên cứu
chuyển đổi đê bao triệt để thành đê bao lửng để tận dụng ưu điểm của nước
nổi.
2. Trong nhiều yếu tố quyết định đến phát triển bền vững vùng đê bao thông
qua các mô hình canh tác, yếu tố can thiệp của con người (kỹ thuật canh tác)
cũng là một yếu tố cần nghiên cứu và ứng dụng một cách khoa học, hiệu quả
với từng chủng loại cây trồng, từng loại mô hình canh tác trong từng vùng
đất đai, từng loại đê bao và theo diễn biến của lũ.
3. Biến đổi khí hậu mang lại những tác động tiêu cực, trong bối cảnh nước
nổi về ĐBSCL hàng năm, cần nghiên cứu một cách sâu sắc các tác động của
biến đổi khí hậu đến đặc điểm, chu kỳ và tác động của nước nổi, từ đó đánh
giá lại hiệu quả của các công trình ngăn lũ hiện nay để có cơ sở điều chỉnh,
thích ứng với biến đổi khí hậu trong điều kiện đặc thù của vùng.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status