HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
CHU TUN ANH
VậN DụNG MốI QUAN Hệ GIữA KINH Tế Và ĐạO ĐứC
TRONG VIệC NÂNG CAO Y ĐứC CHO CáN Bộ
NGàNH Y Tế ở VIệT NAM HIệN NAY
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
H NI - 2017
Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN THẾ THẮNG
2. TS. TRẦN SỸ DƯƠNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
sáng trong bản đồ y học thế giới, v.v.. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
tích cực đó thì một số tiêu cực trong ngành y tế trong thời gian qua đã
ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận những người làm công tác y tế
như cửa quyền, tắc trách, tiêu cực trong khám, chữa bệnh đã làm giảm
sút lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ này.
Sự biến đổi đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay đang diễn biến phức tạp có cả tích cực và tiêu cực.
Đạo đức của đội ngũ cán bộ ngành y tế cũng nằm trong cái chung đó. Đây là tình
huống có vấn đề mà trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải
tiếp tục nghiên cứu, lý giải thêm để có cơ sở khoa học đề ra phương hướng
và giải pháp nâng cao y đức cho đội ngũ cán bộ thuộc lĩnh vực này. Vì thế
tác giả chọn đề tài “Vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong
việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề
tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng vận dụng mối quan hệ kinh tế và đạo
đức trong việc nâng cao y đức của cán bộ ngành y tế trong thời gian qua,
luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng có hiệu quả mối
quan hệ này trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về việc vận dụng mối quan hệ
giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế
trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay và
những mâu thuẫn nảy sinh.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng
có hiệu quả mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức
cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy đạo đức, y đức của người cán bộ y tế, v.v..
- Luận án là tài liệu tham khảo góp phần vào việc đề ra các chính sách
về cán bộ, về xây dựng đạo đức cho cán bộ ngành y tế trong điều kiện kinh
tế thị trường ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC, VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ
GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO
CÁN BỘ NGÀNH Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức là một trong những
vấn đề trung tâm thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học
nước ngoài, tiêu biểu như Nguyên lý đạo đức cộng sản của tác giả
A.Siskin, Nxb Sự thật, Hà Nội, năm 1960; Đạo đức học tập 1, tập 2 của tác
giả G.Bandzeladze, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1985; Những vấn đề lý
luận đạo đức của tác giả A.I.Côchêlốp, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1995.
4
Khánh Bật, Nguyễn Cao Thâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
1999; Đạo đức y học của tác giả Hoàng Đình Cầu, Trường Đại học Y xuất
bản, Hà Nội, 1991; Y đức và đức sinh học - nguồn gốc và sự phát triển của
tác giả Ngô Gia Hy, Nxb Y học, Hà Nội, 1999; Mối quan hệ giữa lợi ích
5
và y đức trong chăm sóc sức khỏe của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm và
Nguyễn Hiền Lương, Tạp chí Triết học, (3), năm 1999; Đạo đức và y học
của tác giả Nguyễn Văn Lê, Nxb Y học, Hà Nội, năm 1999.
Các công trình khoa học trên đề cập tới một số khía cạnh: Thứ nhất, các
quan điểm về y đức của các bậc danh y, tư tưởng y đức Hồ Chí Minh. Thứ
hai, vị trí, vai trò của ngành y tế trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Thứ ba, thành
tựu, hạn chế và yêu cầu đổi mới ngành y tế trong sự phát triển đất nước.
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN PHƯƠNG HƯỚNG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA
KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO CÁN BỘ
NGÀNH Y TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Việc nghiên cứu và thực hành y đức dưới góc độ học thuật đã được
nhiều cơ quan, tổ chức và nhiều nhà khoa học nghiêm túc thực hiện và
nhiều công trình khoa học được công bố như:
- Y đức và vấn đề nâng cao y đức của tác giả Phạm Mạnh Hùng
(2002), Tạp chí cộng sản, (7), năm 2002; Nâng cao đạo đức người thầy
thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta của tác giả Lê Thị Lý, Luận án
tiến sĩ Triết học, Học viện Khoa học xã hội, năm 2011; Phát huy vai trò
của trí thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới của tác giả
Nguyễn Thị Hòa Bình, Luận án tiến sĩ chuyên ngành chủ nghĩa xã hội
trạng và một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng quan hệ giữa kinh tế và
đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện
nay. Ba là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả
mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ
ngành y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2
VẬN DỤNG QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG
VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO CÁN BỘ NGÀNH Y TẾ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1. MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC, XÂY DỰNG ĐẠO
ĐỨC MỚI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1. Khái niệm kinh tế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đạo đức
* Khái niệm kinh tế
“Kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia... Một hệ
7
thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối
các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế
truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp. Đây là
các mô hình một mặt được dùng để mô tả các nền kinh tế đã và đang tồn tại,
mặt khác được chọn dùng để dẫn dắt, điều hành các nền kinh tế”.
* Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây
dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế
Sự tác động của kinh tế đối với đạo đức không tác động trực tiếp mà
thông qua nhiều “khâu trung gian”.
2.1.2.2. Tính độc lập tương đối và vai trò của đạo đức đối với kinh tế
Đạo đức không phải là một kết quả phản ánh giản đơn, máy móc, hoàn
toàn thụ động vào cơ sở kinh tế, mà nó có tính độc lập tương đối vì đạo
đức cũng có những quy luật phát triển nội tại, có tính năng động, có mối
liên hệ và tác động lẫn nhau.v.v.. trong quá trình phát triển của mình. Tính
độc lập tương đối được thể hiện ở tính lạc hậu, tính vượt trước, tính kế
thừa, tác động qua lại lẫn nhau và vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm của đạo đức
đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội.
2.1.3. Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
2.1.3.1. Sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đối với đạo đức mới
Thứ nhất, tác động tích cực:
Các chính sách mới và cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
thực sự đã khơi dậy, làm sống lại và nâng cao vai trò chủ động sáng tạo của
cả người quản lý, người điều hành lẫn người sản xuất trực tiếp. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa góp phần khẳng định tài năng, nhân
cách, nhân phẩm của cá nhân, tạo ra môi trường thuận lợi để con người
hướng tới các giá trị nhân văn cao đẹp phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.
Thứ hai, tác động tiêu cực
Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố lợi ích cá nhân được đề cao, lợi
nhuận được xem như là động lực, mục đích cho sự phát triển đã kích thích
cá nhân lao vào bất chấp thủ đoạn, pháp luật, lương tâm con người. Chủ
nghĩa cá nhân ích kỷ trong kinh tế thị trường đã làm xói mòn đạo lý tốt đẹp
của dân tộc; là nguồn gốc của tham ô, tham nhũng mà Đảng ta khẳng định
9
lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của con người.
Y đức bao gồm những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa
nhận, quy định hành vi người thầy thuốc trong quan hệ với bệnh nhân,
đồng nghiệp, với công việc, với khoa học.
10
2.2.2. Mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong ngành y tế ở Việt
Nam hiện nay
2.2.2.1. Kinh tế trong ngành y tế và y đức
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các
dịch vụ được coi là loại hàng hóa vô hình và dịch vụ y tế cũng là một loại
hàng hóa thì đòi hỏi người cán bộ y tế cũng phải được trả công theo mức
độ và chất lượng dịch vụ cung cấp cho người sử dụng dịch vụ. Việc tính
đúng, tính đủ dịch vụ y tế gắn với chất lượng dịch vụ sẽ tạo ra nguồn lực
tài chính cần thiết từ đó tạo ra thu nhập ổn định, tương xứng với lao động
trí tuệ cho cán bộ y tế. Khi thu nhập có thể sánh ngang với thu nhập bình
quân của người lao động trong xã hội sẽ tạo ra một tâm lý yên tâm trong
công tác và cống hiến theo mục đích, tôn chỉ nghề nghiệp mà họ theo đuổi.
2.2.2.2. Vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong y tế đối với y đức
Thứ nhất, nhân tố kinh tế đảm bảo giúp cho việc hoạch định đường
lối, chính sách của Đảng về y tế một cách rõ nét và có nguồn lực để thực
hiện (từ cơ sở vật chất, tài chính, đào tạo cán bộ y tế, v.v..).
Thứ hai, nhân tố kinh tế đảm bảo cho việc xây dựng kế hoạch, chương
trình, chiến lược của Nhà nước về phát triển ngành y tế một cách tổng thể
cũng như chi tiết trong từng nội dung chuyên môn cụ thể.
Thứ ba, nhân tố kinh tế đảm bảo cơ sở thực tiễn để tham mưu cho
Đảng và Nhà nước; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao
cơ chế chính sách nhằm nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế
Xét ở góc độ lợi ích và y đức của cán bộ y tế, sự cần thiết phải xây
dựng cơ chế chính sách bắt nguồn từ yêu cầu phát triển nội tại của ngành y
tế trong sự vận động nói chung của xã hội. Thực hiện song song với công
tác giáo dục y đức cần đặc biệt chú ý đến yếu tố đãi ngộ như hệ thống
bảng lương, chế độ phụ cấp độc hại, phụ cấp ưu đãi, v.v.. Nhà nước cần
tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính, xóa bỏ dần cơ chế xin cho, xóa bỏ dần
chủ nghĩa bình quân, cào bằng trong hệ thống lương của ngành y tế.
2.2.3.3. Nâng cao nhận thức của lãnh đạo ngành y tế về tầm quan
trọng của mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức đối với việc nâng cao y
đức cho cán bộ ngành y tế
Cần vận dụng một cách biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo
đức trong xây dựng mục tiêu ngắn hạn, chiến lược dài hạn, đề án cụ thể
phải chú ý đúng mức đến yếu tố lợi ích của người cán bộ y tế. Mặt khác,
phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn cụ thể về y đức cho từng
nhóm cán bộ y tế để họ phấn đấu, rèn luyện.
12
2.2.3.4. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức để
nâng cao y đức trong hoạt động nghề nghiệp của cán bộ ngành y tế
Mỗi cán bộ ngành y tế với tư cách là đối tượng nâng cao y đức với tư
cách là chủ thể tích cực tự giác thực hành y đức. Quá trình nhận thức, vận
dụng mối quan hệ này nhằm nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế là quá
trình lâu dài, liên tục với nhiều hình thức thiết thực, đa dạng trong ngành
và ngoài ngành. Cụ thể: Thứ nhất, trong quan hệ với bệnh nhân. Thứ hai,
trong quan hệ với đồng nghiệp. Thứ ba, trong quan hệ với khoa học. Thứ
tư, trong quan hệ với bản thân.
2.2.4. Tầm quan trọng của việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế
về chuyên môn, về quản lý mà mặt khác cũng phải thật sự coi trọng việc
nâng cao y đức cho cán bộ y tế để chiến thắng chủ nghĩa cá nhân nhằm
giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với tập thể và
với xã hội. Chỉ có như vậy, sự phát triển của ngành y tế nói chung và đội
ngũ cán bộ y tế nói riêng mới theo kịp và đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội.
Chương 3
VẬN DỤNG QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG
VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO CÁN BỘ NGÀNH Y TẾ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ
ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO CÁN BỘ NGÀNH Y TẾ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN
3.1.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân
3.1.1.1. Những thành tựu đạt được trong việc vận dụng mối quan hệ
giữa kinh tế và đạo đức trong nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế
Một là, những thành tựu trong lãnh đạo, chỉ đạo việc vận dụng mối
quan hệ giữa kinh tế và đạo đức để nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế
Với tư cách là chủ thể lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới đất nước
trong đó có ngành y tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt chú trọng
giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo
đức thể hiện trong chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng vừa chú trọng
đầu tư phát triển ngành y tế vừa quan tâm một cách đúng mức đến các cơ
chế chính sách, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ y tế.
Hai là, những thành tựu trong vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và
đạo đức để xác định cơ chế chính sách nhằm nâng cao y đức cho cán bộ
ngành y tế
14
với khoa học. Thứ tư, trong quan hệ với bản thân. Thứ năm, trong quan hệ
với xã hội.
15
3.1.1.2. Nguyên nhân của thành tựu
Một là, sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về công tác y tế
Các cấp ủy đảng luôn coi công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo
đức, lối sống cho cán bộ, nhân viên trong ngành y tế. Việc tổ chức học tập,
quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của ngành y tế được thực hiện
nghiêm túc.
Đảng và Nhà nước đã đầu tư nhiều vào lĩnh vực y tế. Ngân sách Nhà
nước cung cấp cho ngành liên tục tăng qua các năm do đó ngành y tế có
điều kiện xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ, cải thiện điều kiện
sống cho cán bộ nhân viên.
Hai là, hoạt động trực tiếp lãnh đạo, quản lý của ngành y tế
Lãnh đạo ngành y tế đã thực hiện tốt công tác tham mưu, lãnh đạo,
phối hợp, đã có sự trăn trở tìm tòi các hướng đi phù hợp với sự phát triển
của ngành trong tình hình mới.
Các đơn vị y tế đã thực hiện công khai các thủ tục hành chính, công
khai bảng giá các loại dịch vụ, thường xuyên tổ chức các hoạt động thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo làm cho hoạt động của ngành
lành mạnh hơn từ đó hạn chế những tiêu cực về y đức.
Ba là, hoạt động tự giáo dục rèn luyện
Người cán bộ y tế luôn có một tâm nguyện đem tài năng, sức lực của
mình để cứu chữa người bệnh, bởi vì tính mạng của con người là quan
trọng nhất. Đã có sự chuyển biến về nhận thức của người cán bộ y tế về
nghề nghiệp của mình trong nền kinh tế thị trường. Họ trở nên tự giác,
năng động, hình thành nên con người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
tế và đạo đức. Hoặc là chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà bỏ qua vấn
đề đạo đức hoặc là chỉ quan tâm đến y đức của người cán bộ y tế mà chưa
có sự đầu tư thích đáng về kinh tế. Công tác quản lý hoạt động chuyên
môn còn nhiều yếu kém, có tình trạng buông lỏng trong quản lý dẫn đến
bức xúc trong dư luận xã hội gần đây.
Bốn là, những hạn chế trong nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa
kinh tế và đạo đức để nâng cao y đức của chính cán bộ ngành y tế
Trong chuyên môn, một số thầy thuốc do không chấp hành nguyên tắc
của bệnh viện, quy chế của chuyên môn đã để xảy ra những sai sót về kỹ
thuật gây tai biến cho người bệnh, thái độ phục vụ còn quan liêu và thiếu
tôn trọng với người bệnh.
Trong quan hệ với đồng nghiệp, sự suy thoái của y đức biểu hiện ở
tinh thần thiếu hợp tác vì mục đích chung, ở sự thiếu tôn trọng chuyên
17
môn và sự đóng góp của đồng nghiệp trong thăm khám, điều trị, ở sự ít
chia sẻ thông tin với đồng nghiệp về chuyên môn.
Trong quan hệ với xã hội, sự suy thoái của y đức biểu hiện ở sự thiếu
nhiệt tình trong hỗ trợ tuyến dưới. Trong hoạt động truyền thông giáo dục
sức khỏe còn mang tính hình thức, thiếu gương mẫu trong nếp sống, trong
sinh hoạt tập thể, v.v..
3.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế
Một là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý còn nhiều yếu kém
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có sự đầu tư lớn cho ngành y
tế nhưng đôi lúc còn chưa đúng đối tượng, đúng trọng điểm, việc đầu tư
chưa thực sự tương xứng so với nhu cầu của sự phát triển của ngành.
Cơ chế quản lý tài chính, dịch vụ còn chậm đổi mới, chưa tính đúng,
tính đủ các dịch vụ y tế. Công tác thanh tra, kiểm tra của ngành y tế ở các cấp
bản thân và gia đình. Một bộ phận cán bộ y tế lại lợi dụng những kẽ hở
trong cơ chế, chính sách để làm giàu bất chính, đi ngược lại lời thề đạo đức
nghề nghiệp của mình.
3.2.2. Mâu thuẫn giữa nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức
khỏe của nhân dân ngày càng cao với khả năng đáp ứng về kinh tế, cơ
sở vật chất, kỹ thuật, chế độ lương, phụ cấp của ngành y tế còn thấp
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao, đối tượng
chăm sóc sức khỏe của ngành y tế rất đa dạng đòi hỏi ngành y tế phải cải
cách một cách tích cực. Vì thế, bên cạnh nguồn ngân sách của nhà nước
các đơn vị y tế phải đẩy mạnh việc tự chủ tài chính, huy động nhiều nguồn
lực xã hội để đầu tư nhiều hơn cho cơ sở vật chất, kỹ thuật, con người. Để
tăng nguồn thu, vấn đề thu phí ngầm, lạm dụng chụp chiếu để trục lợi bảo
hiểm y tế cũng nảy sinh và tác động trực tiếp đến bệnh nhân và gia đình
người bệnh gây phản ứng không tốt trong xã hội.
3.2.3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có một hệ chính sách đồng bộ
để giải quyết hài hòa giữa kinh tế và đạo đức với hệ thống chính sách
chưa đồng bộ trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay
Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống chính sách về y tế. Hệ
thống chính sách này đã bao quát khá toàn diện nhiều đối tượng khác nhau
nhờ đó công tác y tế của nước ta trong những năm qua có nhiều đổi mới.
Tuy vậy, các chính sách còn có sự chồng chéo, phân tán vừa gây lãng phí
nguồn lực, vừa thừa vừa thiếu nên không phát huy được hết năng lực của
cán bộ y tế.
Chính sách và cơ chế giám sát chưa thật sự chặt chẽ, chưa tạo ra tính
tự chủ trong hoạt động của các đơn vị, tạo ra những rào cản trong quản lý,
chuyên môn cũng như thực hành y đức.
19
y tế.
20
Mối quan hệ hữu cơ giữa chính sách kinh tế và chính sách y tế ở đây
biểu hiện: nếu có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn sẽ tạo điều kiện,
tiền để vật chất để giải quyết các vấn đề y tế. Ngược lại, giải quyết tốt các
vấn đề y tế bằng những chính sách phù hợp sẽ góp phần tạo ra sự ổn định
xã hội để phát triển kinh tế.
4.1.3. Bảo đảm đồng bộ, từng bước vận dụng mối quan hệ giữa
kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở
nước ta hiện nay
Sự cần thiết phải vận dụng đồng bộ mối quan hệ trên bởi vì, nếu
không có sự đồng bộ trong vận dụng mối quan hệ này để tạo ra sự nhịp
nhàng, ăn khớp trong tiến trình vận động thì chúng lại cản trở, hạn chế
nhau. Tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế tách rời sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy kinh
tế, chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của mọi khuyết tật về y đức. Ngược lại,
tuyệt đối hóa yếu tố đạo đức tách rời yếu tố kinh tế sẽ dẫn đến chủ nghĩa
duy ý chí, không có mảnh đất hiện thực cho y đức phát triển lành mạnh
theo quy luật.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ
GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO
CÁN BỘ NGÀNH Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.2.1. Nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của
việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng
cao y đức cho cán bộ y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa
Cần phải đổi mới nhận thức của các chủ thể: cấp ủy, chính quyền, lãnh
Hai là, ban hành các chính sách hỗ trợ về tài chính như: hỗ trợ kinh phí
đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn; hỗ trợ thu nhập tăng thêm, ưu tiên
nâng lương sớm; hỗ trợ mua đất hoặc nhà ở cho cán bộ công tác tại các
lĩnh vực ít lợi thế.
4.2.4. Hoàn thiện hệ thông văn bản về y đức, pháp chế xã hội chủ
nghĩa, đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, kiên quyết chống quan liêu,
tham nhũng, vi phạm y đức đi đôi với tăng cường giáo dục, rèn luyện
nâng cao y đức của cán bộ y tế bằng các hình thức phong phú
4.2.4.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản về y đức gắn với đẩy mạnh
công tác thanh tra, kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng trong y tế
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những văn bản thực hành y đức cho
từng nhóm đối tượng cán bộ y tế, đưa y đức vào tiêu chuẩn đánh giá thi
22
đua của cá nhân, tập thể. Tiếp tục rà soát các văn bản liên quan đến việc
thực hiện các chính sách y tế để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Thường xuyên kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chuyên
môn, giao tiếp và thực hiện y đức trong các cơ sở y tế. Đẩy mạnh cải cách
hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các
lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí.
4.2.4.2. Tăng cường giáo dục, rèn luyện nâng cao y đức của cán bộ
y tế bằng các hình thức phong phú
Một là, giáo dục y đức ở các trường y dược
Đổi mới và tăng cường bồi dưỡng kiến thức các ngành khoa học
Mác - Lênin cho sinh viên các trường y dược góp phần quan trọng trong
việc hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản cho
sinh viên. Từ đó, giúp cho sinh viên tiếp cận một cách có hệ thống
những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và thời đại góp phần làm cho
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
Học và làm theo gương đạo đức của Người từ những điều lớn lao, vĩ đại
cho đến những điều gần gũi, gắn bó mật thiết với cuộc sống, với công việc
hàng ngày của người thầy thuốc. Mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận
dụng y đức vào từng vị trí công tác của mình để hoàn thành tốt nhất nhiệm
vụ được giao.
Ba là, nâng cao tính tự giác rèn luyện của cán bộ y tế trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay
Người cán bộ y tế phải gắn liền quá trình giáo dục của tập thể, tổ chức
với quá trình tự giáo dục của bản thân. Chỉ có tính tự giác rèn luyện mới
chuyển hóa một cách tự giác hệ giá trị y đức chung thành hệ giá trị y đức
cá nhân của họ. Cùng với quá trình giáo dục là quá trình tự giáo dục, quá
trình tự giáo dục là một quá trình tự thân vận động, đòi hỏi phải có một
nghị lực, một ý chí và quyết tâm cao để chiến thắng chính bản thân mình.
KẾT LUẬN
Y tế là một ngành quan trọng bởi vì nó liên quan trực tiếp đến tương
lai nòi giống, đến sức khỏe và sự cường thịnh của dân tộc, của toàn xã hội.
Do vậy, nghề y đòi hỏi người cán bộ y tế không những phải có tài mà còn
phải có đức, hơn nữa đạo đức còn là cái gốc của người thầy thuốc. Đạo
đức của người cán bộ y tế góp một phần không nhỏ vào thành công của