BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ HOÀI HƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ
TRỊ THƯƠNG HIỆU BỘT NGỌT VEDAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ HOÀI HƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ TRỊ
THƯƠNG HIỆU BỘT NGỌT VEDAN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH CÔNG KHẢI
1.1.
Thương hiệu ........................................................................................................... 5
1.2.
Giá trị thương hiệu ................................................................................................. 7
1.3.
Các thành phần của giá trị thương hiệu ................................................................. 9
1.3.1.
Mô hình đo lường giá trị thương hiệu tại thị trường Việt Nam ...................... 9
1.3.2.
Các thành phần giá trị thương hiệu bột ngọt ................................................. 12
1.3.2.1.
Nhận biết thương hiệu ............................................................................ 12
1.3.2.2.
Lòng ham muốn thương hiệu ................................................................. 13
1.3.2.3.
Thông tin của mẫu nghiên cứu............................................................................. 30
2.7.
Đặc điểm tiêu dùng của đối tượng khảo sát ......................................................... 32
2.7.1.
Thương hiệu hiện đang dùng ........................................................................ 32
2.7.2.
Lý do lựa chọn thương hiệu bột ngọt ............................................................ 32
2.7.3.
Nơi mua bột ngọt ........................................................................................... 34
2.8.
Thực trạng giá trị thương hiệu bột ngọt Vedan ................................................... 34
2.8.1.
Phân tích thị trường bột ngọt......................................................................... 34
2.8.1.1.
Về thị phần ............................................................................................. 34
2.8.2.3.
Chất lượng cảm nhận .............................................................................. 41
2.8.2.4.
Thái độ người tiêu dùng đối với quảng cáo ........................................... 43
2.8.2.5.
Thái độ người tiêu dùng đối với khuyến mãi ......................................... 44
2.8.2.6.
Hoạt động PR – truyền thông ................................................................. 44
2.8.2.7.
Hoạt động phân phối .............................................................................. 45
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU BỘT NGỌT
VEDAN .......................................................................................................................... 48
3.1.
Giải pháp nâng cao thành phần thái độ người tiêu dùng đối với quảng cáo........ 48
3.1.1.
Quảng cáo trên tivi ........................................................................................ 48
Giải pháp nâng cao lòng đam mê thương hiệu .................................................... 53
3.3.
Giải pháp nâng cao thành phần khuyến mãi ........................................................ 54
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 57
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
AD
Anova
AP
AW
BE
BI
BP
Cronbach’s
alpha
ctv
EFA
HĐQT
LY
NXB
PBI
PF
PR
QP
R
SP
Bảng 2.1 Thang đo nhận biết thương hiệu
Bảng 2.2 Thang đo lòng ham muốn thương hiệu
Bảng 2.3 Thang đo chất lượng cảm nhận
Bảng 2.4 Thang đo lòng trung thành thương hiệu
Bảng 2.5 Thang đo thái độ đối với quảng cáo
Bảng 2.6 Thang đo thái độ đối với khuyến mãi
Bảng 2.7 Thang đo giá trị thương hiệu
Bảng 2.8 Thông tin mẫu nghiên cứu
Bảng 2.9 Kết quả thương hiệu đang dùng
Bảng 2.10 Kết quả lý do lựa chọn thương hiệu bột ngọt
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát nơi mua bột ngọt
Bảng 2.12 Kết quả giá trị trung bình của thành phần nhận biết thương hiệu
Bảng 2.13 Kết quả giá trị trung bình các thành phần lòng đam mê thương hiệu
Bảng 2.14 Kết quả giá trị trung bình các thành phần chất lượng cảm nhận
Bảng 2.15 Kết quả giá trị trung bình các thành phần thái độ đối với quảng cáo
Bảng 2.16 Kết quả giá trị trung bình các thành phần thái độ đối với khuyến mãi
Bảng 2.17 Kết quả giá trị trung bình các thành phần của giá trị thương hiệu bột ngọt
Vedan
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình giá trị thương hiệu trong thị trường hàng tiêu dùng của Nguyễn
Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002)
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.2 Biểu đồ phân phối thị phần bột ngọt trên thị trường Việt Nam năm 2009
Hình 2.3 Biểu đồ phân phối thị phần bột ngọt trên thị trường Việt Nam năm 2012
1
2
chay sản phẩm Vedan. Phong trào “tẩy chay sản phẩm Vedan” không chỉ rộ lên ở
các siêu thị, chợ, cửa hàng tạp hóa mà còn diễn ra sôi nổi trên các cộng đồng mạng.
Nhiều trang diễn đàn, forum, facebook được lập lên và cùng nhau kêu gọi tẩy chay
sản phẩm Vedan. Phong trào này còn thâm nhập vào nhiều gia đình Việt Nam khi
những người nội trợ từ chối sử dụng bột ngọt Vedan mà thay thế bằng sản phẩm của
thương hiệu khác hoặc sản phẩm khác. Đó chính là những thiệt hại không gì có thể
bù đắp lại cho doanh nghiệp.
Hiện nay, thị phần của Vedan đang dần được cải thiện nhưng vẫn còn thấp
hơn nhiều so với thị phần của Ajinomoto. Ngoài ra, thị trường bột ngọt hiện nay các
đối thủ khác như Miwon, Aone đang ngày càng lớn mạnh. Bên cạnh đó, sản phẩm
bột ngọt đang dần được người tiêu dùng thay thế bằng sản phẩm khác như hạt nêm,
nước hầm thịt… Do đó, thị trường bột ngọt Việt Nam đang ngày càng cạnh tranh
khốc liệt và Vedan Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc chơi đó. Trích lời của
ông Yang Kun Hsiang, Tổng Giám đốc Vedan Việt Nam, bày tỏ cam kết: “Sau khi
trải qua tất cả khó khăn và trở ngại, chúng tôi đã và đang cố gắng dần khôi phục vị
trí, thiết lập lại hình ảnh thương hiệu, đồng thời luôn cam kết cung cấp các sản
phẩm có chất lượng tốt nhất, đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và không ngừng
đầu tư nghiên cứu, phát triển thêm nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu đa
dạng của thị trường và thị hiếu khách hàng”1. Với mục tiêu thiết lập lại vị trí hàng
đầu trong thị trường bột ngọt Việt Nam và khôi phục các giá trị, hình ảnh thương
hiệu thì việc khảo sát nhằm xem xét người tiêu dùng đánh giá các thành phần của
giá trị thương hiệu bột ngọt Vedan để qua đó giúp công ty Vedan Việt Nam xác
định vị trí thương hiệu Vedan trên thị trường, cung cấp cơ sở vững chắc để đề xuất
các chiến lược, biện pháp hiệu quả nhằm phát triển thương hiệu bột ngọt Vedan là
rất cần thiết.
1
giữa các phát biểu trong thang đo.
Bước 2: nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định
lượng. Bảng câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu chính thức được hoàn thiện từ bảng
câu hỏi trong nghiên cứu sơ bộ. Bảng câu hỏi được phát trực tiếp cho các đáp
viên.Sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Đối tượng khảo sát là những khách
hàng mua sản phẩm bột ngọt. Đầu tiên, tác giả thực hiện phân tích Cronbach’s
alpha, phân tích EFA, phân tích hồi quy. Sau đó, sử dụng thống kê mô tả để đánh
giá các thành phần tạo nên giá trị thương hiệu bột ngọt Vedan. Số liệu sau khi được
4
xử lý kết hợp với những ý kiến thảo luận tay đôi với người tiêu dùng để làm rõ
nguyên nhân và đưa ra những giải pháp cơ bản.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào nghiên cứu giá trị thương hiệu,
các thành phần tạo nên giá trị thương hiệu
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu vào sản phẩm bột ngọt, bởi
vì đây là sản phẩm chính của thương hiệu Vedan và phổ biến đối với người
tiêu dùng. Bên cạnh đó, đề tài được thực hiện tại thị trường thành phố Hồ
Chí Minh, do đây là thị trường tiêu thụ bột ngọt lớn ở khu vực phía Nam
5. Kết cấu đề tài
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao giá trị thương hiệu bột ngọt Vedan”, có
kết cấu như sau:
Phần mở đầu gồm những nội dung sau: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 1, Cơ sở lý thuyết về thương hiệu, giá trị thương hiệu, các thành
phần giá trị thương hiệu
Chương 2, Phân tích thực trạng giá trị thương hiệu bột ngọt Vedan
Chương 3, Đề xuất những giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu giá trị
Đến những 80 của thế kỷ trước thì Philip Kotler đề cập đến thương hiệu
trong cuốn sách Quản trị tiếp thị, theo Philip Kotler “Thương hiệu là một cái
tên, thuật ngữ, chữ ký, dấu hiệu hay một sự kết hợp các yếu tố trên có tác
dụng định vị sản phẩm/ dịch vụ của một người bán/ nhóm người bán và khác
biệt hóa họ so với đối thủ cạnh tranh.” (Philip Kotler, 2012, trang 286 )
Nhìn chung, đối với quan điểm truyền thống thì thương hiệu là một thành
phần của sản phẩm. Các yếu tố của thương hiệu chỉ gồm những thành phần hữu
hình như tên gọi, kiểu dáng, biểu tượng,…mà không xem xét đến các thành phần vô
hình như danh tiếng, uy tín,…của sản phẩm, nhà sản xuất. Và theo quan điểm này
thì chức năng chính của thương hiệu là phân biệt sản phẩm của mình so với sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh (Arnold, 1992)
6
Ta thấy có rất nhiều những hiện tượng thương hiệu rất khó lý giải nếu sử
dụng lý thuyết thương hiệu theo quan điểm truyền thống, ví dụ như: tại sao giá trị
thương hiệu thay đổi theo thời gian ngay khi các yếu tố hữu hình của thương hiệu
lại không thay đổi? Hay nhượng quyền thương hiệu có giá khác nhau với các khách
hàng khác nhau và mức độ thành công của họ cũng khác nhau. Do đó, cuối thế kỷ
20 quan điểm tổng hợp ra đời và được áp dụng vào thực tiễn cho đến ngày nay. Với
quan điểm tổng hợp thì thương hiệu không đơn giản chỉ là một cái tên hay một biểu
tượng mà thực sự nó còn phức tạp hơn rất nhiều. “Thương hiệu là tập hợp các yếu
tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm,
bao gồm chính sản phẩm đó, tên gọi, logo, biểu tượng và mọi sự thể hiện hình ảnh,
dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng nhằm thiết lập một vị trí trong tâm trí của
khách hàng” (Richard Moore, 2003, trang 7). Thương hiệu là tổng hợp các đặc điểm
cung cấp cho khách hàng mục tiêu những giá trị mà họ mong muốn (Tuominen và
ctv, 1999). Các thuộc tính này bao gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình để phân biệt
Srivastava và Shocker (1991), Keller (1993, 1998) vẫn tiếp tục nghiên cứu vấn đề
này.
Đối với lĩnh vực marketing, giá trị thương hiệu là khái niệm quan trọng và
được xem xét như là tài sản vô hình có giá trị đối với công ty (Erenkol và Duygun,
2010). Theo Kotler (2012), giá trị thương hiệu có ảnh hưởng đặc biệt mà việc biết
tên thương hiệu tác động lên phản ứng của người tiêu dùng đối với sản phẩm và
việc tiếp thị sản phẩm đó. Nó là thước đo khả năng của thương hiệu trong việc nắm
bắt sở thích và lòng trung thành của người tiêu dùng. Một thương hiệu có giá trị
thương hiệu cao là tài sản rất có giá trị đối với công ty. Giá trị thương hiệu cao cung
cấp cho doanh nghiệp nhiều cơ hội cạnh tranh. Một thương hiệu mạnh có được độ
nhận biết thương hiệu và lòng trung thành cao từ người tiêu dùng. Khi đó doanh
nghiệp có được đòn bẩy mạnh hơn trong việc thương lượng giá cả với đại lý bán lại.
Bên cạnh đó, một thương hiệu có giá trị thương hiệu cao sẽ sở hữu độ tin cậy cao,
doanh nghiệp có thể dễ dàng triển khai dòng sản phẩm và mở rộng thương hiệu,
giúp doanh nghiệp chống lại cuộc chiến giá cả. Nhưng trên tất cả, giá tri thương
hiệu tạo nền tảng trong việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng.
Tương tự như thương hiệu thì giá trị thương hiệu cũng có nhiều quan điểm
và cách đánh giá khác nhau.Lassar và ctv (1995) cho rằng có hai quan điểm đánh
8
giá về giá trị thương hiệu. Thứ nhất là đánh giá theo quan điểm đầu tư (tài chính) và
thứ hai là đánh giá theo quan điểm người tiêu dùng.
-
Theo quan điểm đầu tư (tài chính) thì giá trị thương hiệu là thu nhập mong
đợi trong tương lai nhờ có thương hiệu được quy về hiện tại (Interbrand,
2001). Theo đó, giá trị tài sản thương hiệu được tách ra khỏi giá trị các tài
sản khác. Qua đó, giá trị cổ phần của công ty được tách thành các tài sản hữu
giá trị thương hiệu dựa vào người tiêu dùng (theo lý thuyết tâm lý học nhận
thức) sẽ phù hợp và khách quan hơn.
1.3.
Các thành phần của giá trị thương hiệu
1.3.1. Mô hình đo lường giá trị thương hiệu tại thị trường Việt Nam
Ta thấy giá trị thương hiệu là khái niệm phức tạp, có nhiều thành phần và
trong những thành phần đó lại có nhiều thành phần con khác. Ví dụ như mô hình
của Keller (1993, 1998) đưa ra hai thành phần giá trị thương hiệu gồm: nhận biết
thương hiệu và ấn tượng thương hiệu. Trong nhận biết thương hiệu thì gồm hai
thành phần: nhớ đến thương hiệu, nhận ra thương hiệu. Tương tự, thành phần ấn
tượng thương hiệu gồm các thành phần: thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu,
khả năng chấp nhận các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu, tính độc đáo của
các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu. Trong thành phần thuộc tính đồng hành
cùng thương hiệu thì gồm nhiều thành phần con khác như: thuộc tính, lợi ích, thái
độ,… Điều này sẽ gây khó khăn trong việc đo lường và không phù hợp với thị
trường Việt Nam khi người tiêu dùng khó có thể phân biệt và nhận biết các thành
phần. Các mô hình của Aaker (1991), Keller (1993, 1998) hay của Lassar và ctv
(1995) “tuy có mức độ biểu thị giá trị thương hiệu cao nhưng mức độ thực tế không
cao lắm cho các nước mà mức độ phát triển về thương hiệu chưa cao và mức độ
phức tạp trong mua sắm và tiêu dùng còn thấp” (Thọ, 2002, trang 15 - 16). Nhìn
chung, khái niệm về giá trị thương hiệu vẫn chưa có sự thống nhất dẫn đến sẽ có sự
khác nhau giữa các thành phần tạo nên giá trị thương hiệu. Thế nên, trên thế giới
vẫn chưa có một mô hình chuẩn về giá trị thương hiệu và các thành phần tạo nên giá
trị thương hiệu cho các loại hình sản phẩm và dịch vụ.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, mô hình giá trị thương hiệu trong thị trường hàng
tiêu dùng của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002) kế thừa các
nghiên cứu trên thế giới và đã được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt
Nam. Mô hình cũng đã được tác giả ứng dụng thành công trong thị trường dầu gội
Nguồn: Thọ, 2002
Tác giả sử dụng thị trường dầu gội đầu để kiểm định mô hình lý thuyết chứ
không phải mô hình này chỉ phù hợp với thị trường dầu gội đầu. Qua nghiên cứu,
sau đây là những kết luận của tác giả:
-
Lòng ham muốn thương hiệu được giả thuyết gồm hai thành phần là thích
thú và xu hướng tiêu dùng. Tuy nhiên, theo kết quả EFA thì hai thành phần
thích thú và xu hướng tiêu dùng về khía cạnh lý thuyết thì phân biệt nhưng
về khía cạnh thực tiễn thì có tính đơn hướng. Do đó, khái niệm lòng ham
muốn thương hiệu là một khái niệm đơn hướng trong thực tiễn.
-
Tương tự như trường hợp hai khái niệm thành phần của lòng ham muốn
thương hiệu (thành phần thích thú và xu hướng tiêu dùng) thì kết quả EFA
cho thấy hai khái niệm lòng ham muốn thương hiệu và lòng trung thành
11
thương hiệu về mặt lý thuyết thì phân biệt nhưng về mặt thực tiễn có thể là
một thành phần đơn hướng. Vì vậy, hai thang đo lòng ham muốn thương
hiệu và lòng trung thành thương hiệu được gộp chung lại thành một yếu tố và
được gọi tên là lòng đam mê thương hiệu.
-
Mức độ nhận biết thương hiệu là một yếu tố tạo nên lòng đam mê thương
hiệu. Khi một người tiêu dùng nhận biết được thương hiệu, so sánh và phân
biệt được với các thương hiệu cạnh tranh thì họ có xu hướng đam mê thương
Tóm lại, những thành phần của giá trị thương hiệu gồm: lòng đam mê
thương hiệu, nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận. Yếu tố chính tạo nên
lòng đam mê thương hiệu là chất lượng cảm nhận và sau đó mới đến nhận biết
thương hiệu. Chất lượng cảm nhận thương hiệu là yếu tố chính tạo nên giá trị
thương hiệu. Hai yếu tố góp phần làm tăng chất lượng cảm nhận của người tiêu
dùng về thương hiệu là nhận biết thương hiệu và thái độ đối với chiêu thị (quảng
cáo và khuyến mãi). Ngoài ra, thái độ đối với chiêu thị là yếu tố chính gia tăng mức
độ nhận biết thương hiệu.
1.3.2. Các thành phần giá trị thương hiệu bột ngọt
Do đó, đối với sản phẩm bột ngọt, một mặt hàng tiêu dùng quen thuộc đối
với mọi người nên tác giả đề xuất các thành phần giá trị thương hiệu dựa trên cơ sở
kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai
Trang gồm năm thành phần: nhận biết thương hiệu, lòng ham muốn thương hiệu,
chất lượng cảm nhận, lòng trung thành thương hiệu và thái độ đối với chiêu thị gồm
hai công cụ là quảng cáo và khuyến mãi.
1.3.2.1.
Nhận biết thương hiệu
Ta thấy các mô hình Aaker (1991), Keller (1993, 1998) và Thọ (2002) đều
cho rằng thành phần nhận biết thương hiệu là một trong những thành phần chính tạo
nên giá trị thương hiệu. Nhận biết thương hiệu đề cập đến khả năng người tiêu dùng
có thể phân biệt và nhận biết những đặc tính của một thương hiệu trong một tập các
thương hiệu cạnh tranh trên thị trường (Thọ, 2002). Theo Aaker (1991) nhận biết
thương hiệu là khả năng một khách hàng nhận ra và nhớ đến thương hiệu và đóng
vai trò quan trọng trong quyết định tiêu dùng của khách hàng (Keller, 1993, 1998).
Ở giai đoạn nhận biết thương hiệu, tên thương hiệu có vai trò rất quan trọng.
Tên thương hiệu giúp khách hàng biết được sự tồn tại của thương hiệu và cung cấp
cho khách hàng những nhận biết ban đầu về thương hiệu và thông tin về sản phẩm
Lòng ham muốn thương hiệu
“Một người tiêu dùng ham muốn sở hữu một thương hiệu khi họ thích thú về
nó và muốn tiêu dùng nó. Vì vậy, lòng ham muốn về thương hiệu nói lên mức độ
thích thú và xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng đó.
14
Sự thích thú của một người tiêu dùng đối với một thương hiệu đo lường sự
đánh giá của người tiêu dùng đối với thương hiệu đó. Kết quả của sự đánh giá được
thể hiện qua cảm xúc của con người như thích thú, cảm mến. Khi ra quyết định tiêu
dùng, khách hàng nhận biết nhiều thương hiệu khác nhau, họ thường so sánh các
thương hiệu với nhau. Khi đó, họ thường có xu hướng tiêu dùng những thương hiệu
mà mình thích thú. Như vậy, sự thích thú về một thương hiệu là kết quả của quá
trình đánh giá một thương hiệu so với các thương hiệu khác trong cùng một tập
cạnh tranh.
Nhận biết thương hiệu là điều cần thiết nhưng chưa đủ. Người tiêu dùng có
thể nhận biết nhiều thương hiệu trong một tập các thương hiệu cạnh tranh.Trong
quá trình đánh giá, người tiêu dùng sẽ thể hiện cảm xúc của mình. Thương hiệu nào
nhận được cảm xúc tích cực của người tiêu dùng sẽ có được một lợi thế cạnh tranh.
Xu hướng tiêu dùng thương hiệu được thể hiện qua xu hướng hành vi của
người tiêu dùng: họ có thể có xu hướng tiêu dùng hay không tiêu dùng một thương
hiệu nào đó. Xu hướng tiêu dùng thương hiệu là một yếu tố quyết định hành vi tiêu
dùng thương hiệu (Ajzen và Fishbein, 1980).
Khi một người thể hiện sự thích thú và xu hướng hành vi về một đối tượng
nào đó, thì họ thường có biểu hiện hành vi đối với đối tượng đó (Ajzen và Fishbein,
1980). Như vậy, khi một người tiêu dùng thể hiện lòng ham muốn của họ về một
thương hiệu nào đó thì họ thường có hành vi tiêu dùng thương hiệu đó. Như vậy,
lòng ham muốn thương hiệu là một thành phần quan trọng của giá trị thương
đó so với các thương hiệu cạnh tranh. Khi khách hàng cảm nhận chất lượng của
thương hiệu cao thì họ sẽ có khuynh hướng thể hiện lòng ham muốn thương hiệu đó
(Thọ, 2002). Như vậy, chất lượng cảm nhận của khách hàng là thành phần của giá
trị thương hiệu.
1.3.2.4.
Lòng trung thành thương hiệu
Thành phần quan trọng của giá trị thương hiệu là lòng trung thành thương
hiệu, nó được xem như là sự gắn kết giữa khách hàng với một thương hiệu (Aaker,
1991). Theo Chaudhuri (1999), lòng trung thành thương hiệu là hành vi người tiêu
dùng lựa chọn và sử dụng một thương hiệu trong một tập các thương hiệu cạnh
tranh và lặp lại hành vi này.
16
Có hai cách phân loại lòng trung thành thương hiệu, đó là lòng trung thành
theo thái độ và trung thành theo hành vi (Keller, 1998). Trong đó, lòng trung thành
theo hành vi thể hiện mức độ qua hành vi mua lặp lại một sản phẩm của một công ty
trong nhiều năm (Andreasen và Lindestad, 1998). Còn lòng trung thành theo thái độ
thể hiện xu hướng tâm lý qua việc đánh giá một đối tượng với thái độ thích hay
không thích (Eagle và Chaiken, 1993).
Có nhiều cách để đo lường lòng trung thành thương hiệu chẳng hạn như
được đo thông qua ý định tiếp tục mua, niềm tin vào thương hiệu và sự giới thiệu
cho người khác về thương hiệu mà họ đang sử dụng. Lòng trung thành thương hiệu
cũng có thể được đo lường dựa trên mức độ khách hàng lựa chọn giữa các thương
hiệu cạnh tranh với nhau (Brown, 1952) hay lòng trung thành thương hiệu thể hiện
qua số lần mua lại sản phẩm (Farley, 1962).
Có rất nhiều lợi ích mà lòng trung thành thương hiệu đem lại công ty, đó là: