1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh đẻ là một hiện tượng sinh lý bình thường của người
phụ nữ. Tuy nhiên, trong thời kì mang thai đến khi chuyển dạ và sau đẻ có
nhiều vấn đề bất thường, nguy hiểm có thể xảy ra đối với bà mẹ và thai nhi
gây ảnh hưởng tới sức khỏe, đe dọa tính mạng của mẹ và thai, gọi chung là tai
biến sản khoa.
Tai biến sản khoa là tất cả các rối loạn bệnh lý mang tính chất nghiêm
trọng, đe dọa sự an toàn cho cả mẹ và thai trong suốt thời kỳ mang thai, trong
chuyển dạ và sau khi đẻ.
Cắt tử cung (TC) trong và sau đẻ là một phương pháp giải quyết triệt để
những trường hợp tai biến sản khoa phức tạp. Trong một số trường hợp còn
chủ động cắt TC khi mổ lấy thai (MLT), điều đó đã giúp cho các thầy thuốc
sản khoa giảm bớt nguy cơ tai biến nặng nề, nâng cao hiệu quả điều trị sau
phẫu thuật, làm giảm bớt gánh nặng cho người bệnh.
Theo cổ điển, cắt TC trong và sau đẻ được chỉ định cho những trường
hợp cấp cứu phần lớn là chảy máu như: đờ TC, rau tiền đạo, rau bong non, vỡ
TC… gây mất máu nhiều, đe dọa đến tính mạng của người mẹ mà các phương
pháp xử trí thông thường không đạt kết quả.
Hiện nay, cắt TC trong và sau đẻ còn được chỉ định trong một số trường
hợp bệnh lý của người mẹ, trường hợp ung thư buồng trứng, ung thư cổ TC,
đa nhân xơ ở những người mẹ đã có đủ con… Có thể tiến hành cắt TC ngay
sau khi MLT ở một số trường hợp do nghi ngờ có bệnh lí ở cổ TC.
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Đức Hinh từ tháng 11/1997 đến
tháng 10/1998 tại bệnh viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh có 68 trường hợp cắt tử
cung bán phần (TCBP) sau MLT chiếm 2,68%.
2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ CỦA TỬ CUNG VÀ
BÁNH RAU
1.1.1. Giải phẫu và mô học của tử cung khi chưa có thai
TC là một tạng rỗng của cơ quan sinh dục, nằm sau phúc mạc, trong
tiểu khung, thông vào ổ phúc mạc qua vòi TC, thông với bên ngoài qua âm
đạo. TC có hình nón dẹt, chia thành ba phần: thân, eo và cổ (hình 1.1) ,.
Buồng tử cung
Vòi tử cung
Buồng trứng
Thân tử cung
Cổ tử cung
Âm đạo
Hình 1.1 Sơ đồ hình tử cung cắt đứng ngang .
- Thân TC: hình thang, đáy ở trên, có hai sừng hai bên, dài khoảng
4cm, rộng khoảng 4,5cm. TC lúc không có thai nặng 50 - 60gam, chiều sâu
buồng TC đo được 6 - 8cm.
- Eo TC: một vòng nhỏ, chiều dài từ 0,5-1cm.
- Cổ TC: là phần thấp nhất của TC, hình trụ bên trong là ống cổ TC.
4
1.1.2. Thay đổi giải phẫu và sinh lý tử cung khi có thai
Khi có thai, cơ thể có nhiều thay đổi. Hai nội tiết tố ảnh hưởng trực tiếp
đến giai đoạn này là estrogen, progesteron và hormon rau thai (hCG). Những
thay đổi của nội tiết là nguyên nhân chính dẫn đến những thay đổi về cấu trúc
Lớp ngoài: là lớp cơ dọc. Lớp này vòng qua đáy TC và kéo dài tới các
dây chằng của TC.
Lớp trong: là lớp cơ vòng, nó giống như cơ thắt quanh các lỗ vòi TC và
lỗ trong cổ TC.
Giữa hai lớp cơ này là lớp cơ chéo, lớp cơ này phát triển mạnh nhất khi
có thai.
Khi có thai ở TC có hiện tượng tăng sinh cơ TC, tăng giữ nước và phì
đại các sợi cơ dẫn đến tăng dung tích TC.
Lớp cơ đan dày nhất và phát triển mạnh nhất trong khi có thai, lớp này
có nhiều mạch máu. Sau đẻ lớp cơ này co lại thành khối an toàn ép vào các
mạch máu gây tắc mạch sinh lí giúp cầm máu. Khi trương lực cơ TC giảm
hoặc mất gây ra đờ TC, các mạch máu không được chèn ép sẽ gây chảy máu
sau đẻ.
* Eo TC: khi có thai, eo TC giãn rộng dần, dài và mỏng ra biến thành
đoạn dưới TC. Cho tới khi chuyển dạ, đoạn dưới TC dài khoảng 10cm.
Về cấu trúc, đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ: cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc
ở ngoài không có lớp cơ đan ở giữa. Chính vì vậy, đoạn dưới TC là phần dễ
vỡ nhất trong cuộc đẻ, dễ chảy máu khi có rau tiền đạo vì rau tiền đạo thường
kèm theo rau cài răng lược ở các mức độ khác nhau.
* Niêm mạc TC: Niêm mạc TC khi có thai biến đổi dần thành ngoại sản
mạc. Ngoại sản mạc gồm ba phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc TC và
phần phát triển mạnh nhất là ngoại sản mạc TC – rau .
Mật độ: khi không có thai, mật độ cơ TC chắc, có tính đàn hồi.
Khi có thai TC mềm, các sợi cơ giảm trương lực, mềm đi do tác
dụng của progesteron, nhưng khả năng co bóp và co rút của TC tăng lên.
6
Trọng lượng cơ TC tăng, lớp cơ TC dày nhất là 2,5cm. Do bản thân
thường rau bám ở mặt trước, mặt sau hoặc đáy TC. Nếu rau bám xuống đoạn
dưới TC gọi là rau tiền đạo.
Bánh rau là do sự kết hợp của ngoại sản mạc (phần ngoại sản mạc TC rau) và trung sản mạc (vùng trung sản mạc phát triển tại vị trí của ngoại sản
mạc TC - rau) hay vị trí rau bám.
- Ngoại sản mạc chính là nội mạc TC. Trong trường hợp nạo, hút thai
nhiều lần, TC có sẹo mổ cũ, tiền sử rau tiền đạo…) nếu gai rau bám trực tiếp
vào cơ TC gây nên rau cài răng lược.
- Trung sản mạc: có các gai rau phát triển trong hồ huyết. Có hai loại
gai rau là gai rau bám và gai rau dinh dưỡng. Gai rau dinh dưỡng bơi lơ lửng
trong hồ huyết có nhiệm vụ lấy các chất dinh dưỡng từ máu mẹ nuôi thai. Gai
rau bám thì bám vào vách hoặc nóc hồ huyết vừa có chức năng dinh dưỡng
vừa giữ cho bánh rau bám vào TC.
1.2. LỊCH SỬ CẮT TỬ CUNG TRONG VÀ SAU ĐẺ
Trong nửa đầu thế kỷ 19 về trước, phẫu thuật cắt TC trong và sau đẻ
được coi là một phẫu thuật dũng cảm và cần thiết nhằm giải quyết những
trường hợp nhiễm trùng nặng do những tình huống sản khoa phức tạp gây ra.
Mãi đến nửa sau của thế kỷ 19, phẫu thuật mới có kết quả. Trong y văn còn kể
lại trường hợp mổ của Storer tiến hành năm 1868 trên một sản phụ u tiền đạo,
chuyển dạ đẻ 3 ngày phẫu thuật kéo dài hơn 3 giờ và sản phụ chết vào ngày
thứ 3 sau mổ.
Nhưng từ khi có phương pháp khử khuẩn và vô khuẩn tốt, những tiến
bộ của gây mê hồi sức và việc tìm ra kháng sinh thì phẫu thuật cắt TC nói
chung và phẫu thuật cắt TC trong và sau đẻ nói riêng mới được áp dụng rộng
8
rãi. Cũng nhờ đó mà giảm được tỷ lệ tử vong cho người mẹ vì chảy máu, vì
nhiễm khuẩn và vì các tai biến sản khoa khác.
Từ đầu thế kỉ thứ 20 và đặc biệt là bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ
Song có một điều khác với các nước phương tây về phương pháp, phần
lớn chúng ta cắt TCBP trong và sau đẻ và chỉ cắt TCTP trong những trường
hợp đặc biệt như: chảy máu nặng ở đoạn dưới hay cổ TC trong rau tiền đạo,
rách phức tạp đoạn dưới, rách cổ TC phức tạp không thể bảo tồn được vì các
thủ thuật sản khoa không đúng kĩ thuật hoặc không đúng chỉ định.
Chỉ định mổ cắt TC trong và sau đẻ từ trước tới nay vẫn là những
trường hợp chảy máu không cầm được bằng các biện pháp thông thường
trong các trường hợp như: đờ TC, rau bong non, rau tiền đạo, vỡ TC… gây
mất máu nhiều, đe dọa tính mạng người mẹ.
Kĩ thuật cắt TCBP được tiến hành dễ dàng hơn về mặt kĩ thuật đặc biệt
cho các phẫu thuật sâu ở vùng đáy chậu, đồng thời giảm được những sang
chấn cho bộ phận lân cận như: niệu quản, trực tràng…. Do đó, trong thời kỳ
hậu phẫu tránh được những tai biến nặng nề. Chính vì thế, phẫu thuật cắt
TCBP đã được tiến hành ở ngay cả bệnh viện tuyến huyện.
1.3. CÁC CHỈ ĐỊNH CẮT TỬ CUNG TRONG VÀ SAU ĐẺ
1.3.1. Chỉ định cắt tử cung do nguyên nhân chảy máu
1.3.1.1 Đờ tử cung
Đờ TC là tình trạng cơ TC không co chặt thành khối an toàn sau khi
sinh thực hiện tắc mạch sinh lý do đó gây chảy máu.
Đờ TC có thể xảy ra ngay sau khi MLT hoặc sau khi đẻ trong các
trường hợp như: chuyển dạ kéo dài, thai to, đa ối, đẻ nhiều lần…
Đờ TC chỉ có chỉ định cắt TC khi không còn khả năng khôi phục chức
năng co bóp của TC, nghĩa là sau khi đã dùng các biện pháp vật lí và dược lí
hoàn toàn không có hiệu quả, TC vẫn nhão, máu vẫn tiếp tục chảy và khi mổ
ra chúng ta có thể nhìn thấy mặt ngoài TC nhẵn bóng, không có nếp nhăn.
10
Theo nghiên cứu Goffinet F tỉ lệ này là 59%.
lần ở những sản phụ đẻ lần 2 so với những sản phụ đẻ lần 1 (OR = 1,96), tăng
gấp 3,14 lần so với những sản phụ đẻ lần 3 (OR = 3,14). Những sản phụ đẻ từ
lần thứ tư trở lên, nguy cơ cao gấp 3,57 lần (OR = 3,57).
Theo Reyal F. và cộng sự trong 6 năm (1992- 1998) đã nhận thấy các yếu
tố nguy cơ chảy máu sau đẻ là: rau tiền đạo (OR = 7,2), nhiễm độc thai nghén
(tiền sản giật) (OR = 2,9), đẻ song thai (OR = 3,2), MLT (OR = 5,8).
Theo nghiên cứu của Akpadza K cho biết tỉ lệ đờ TC là 44,73% trong
chảy máu sau đẻ trong đó có 6,85% đẻ song thai, 6,6% có sử dụng một cách
lạm dụng thuốc giảm co.
Theo Rouse JD và cộng sự cũng thấy rằng ở những sản phụ đẻ nhiều
lần nguy cơ đờ TC cao gấp 2,4 lần so với những sản phụ đẻ lần đầu (OR =
2,4), gây chuyển dạ hoặc chuyển dạ kéo dài trên 18 giờ nguy cơ đờ TC cao
gấp 2,23 lần (OR = 2,23), trọng lượng thai trên 4500gam nguy cơ đờ TC cao
gấp 2,05 lần (OR = 2,05), nhiễm trùng ối nguy cơ đờ TC cao gấp 1,8 lần (OR
= 1,8).
Theo nghiên cứu của Trần Chân Hà nguy cơ đờ TC ở những người đẻ
từ lần thứ 3 trở lên cao gấp 2,4 lần so với người đẻ con so và cao gấp 1,4 lần
so với người đẻ con thứ 2.
Trong đờ TC sau đẻ có một trường hợp hiếm gặp là lộn TC. Lộn TC là
khi đáy TC bị lộn vào trong buồng TC hay trong âm đạo. Mặc dù đây là một
biến chứng rất hiếm gặp trong chảy máu sau đẻ (tỷ lệ 1/15000) nhưng phải
đặc biệt quan tâm vì nó có thể gây nên tình trạng chảy máu rất nặng và
choáng. Phần lớn lộn TC gây ra ngay sau khi sổ rau và có thể được chẩn đoán
một cách dễ dàng. Tuy nhiên, có thể gặp lộn TC một vài ngày sau đẻ.
Thường hay gặp lộn TC trong những trường hợp con rạ đẻ nhiều lần, đẻ
nhanh, đặc biệt là sản phụ đẻ ở tư thế đứng, dây rau ngắn, lấy rau không đúng
12
TCTP mà không cầm máu được, thì phải tiến hành thắt động mạch hạ vị hai
bên. Phẫu thuật kết hợp này mang lại kết quả tốt.
Theo nghiên cứu của Awan N và cộng sự tỉ lệ cắt TC do rau tiền đạo là
19,4%.
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Xuân Minh tỉ lệ chảy máu sau đẻ do
rau tiền đạo chiếm 14,2%, trong đó có 42,55% phải cắt TC để cầm máu.
Theo nghiên cứu của Ngô Thị Quỳnh Giao tỉ lệ cắt TC trong rau tiền
đạo ở giai đoạn 1997 – 2000 là 6,8%, giai đoạn 2007 – 2008 là 4,5%.
1.3.1.3. Rau cài răng lược
Rau cài răng lược là rau bám trực tiếp vào cơ TC, giữa các gai rau và cơ
TC không có lớp xốp của ngoại sản mạc, do đó bánh rau ăn sâu vào lớp cơ
TC, đôi khi xuyên thủng cơ TC, có khi tới tận thanh mạc TC, thậm chí xuyên
thủng TC gây chảy máu trong ổ bụng, các gai rau còn có thể đâm xuyên sang
các tạng lân cận như bàng quang, trực tràng…
Đây là bệnh lí hiếm gặp và thường gặp ở những sản phụ đẻ nhiều lần,
nạo, hút, sẩy thai nhiều lần, tiền sử có viêm niêm mạc TC.
Rau cài răng lược có thể chỉ một phần hay toàn bộ bánh rau bám vào
lớp cơ TC, do đó không bong ra được. Rau cài răng lược toàn phần thì không
chảy máu, nhưng rau cài răng lược bán phần thì rau bong một phần, gây chảy
máu, lượng máu chảy ra nhiều hay ít tùy thuộc vào tình trạng co rút của lớp
cơ TC và mức độ rau bong.
Cắt TC là biện pháp cầm máu cuối cùng nhằm cứu sống bệnh nhân
thoát khỏi tình trạng chảy máu, mất máu nặng nề khi mà các biện pháp cầm
máu khác không có kết quả.
Trong trường hợp rau cài răng lược thường chỉ định cắt TCBP là đủ.
Tuy nhiên những trường hợp rau cài răng lược lan xuống cổ TC thì phải tiến
hành cắt TCTP.
15
khoa phải tỉnh táo và ra quyết định nhanh chóng chính xác để nhằm giảm
thiểu tối đa nguy cơ có thể xảy đến với người bệnh.
Hầu hết bệnh nhân rau bong non đến viện với những triệu chứng chảy máu,
triệu chứng co cứng TC liên tục kèm theo tiền sản giật nặng chiếm 55,8% .
Vấn đề bảo tồn TC trong rau bong non ngay cả trong thể phong huyết
TC rau đều được đề cập nếu không phải cắt TC để tránh biến chứng: chảy
máu lại, nhiễm trùng TC...
Trong các trường hợp phong huyết TC rau, người ta cũng thường gặp cả
những bệnh chảy máu vì thiếu sinh sợi huyết và cả vì thiếu sự co bóp tốt của
TC. Trên thân TC và có khi ở cả cơ quan tiếp cận TC cũng có những tổn
thương nhồi huyết, cho nên chỉ định cắt TC rộng rãi khi tiên lượng khó có thể
bảo tồn được TC.
Sự liên quan số lần có thai với tỉ lệ rau bong non đã gặp nhiều ở những
phụ nữ mang thai > 3lần. Gặp nhiều ở những phụ nữ có điều kiện kinh tế
thấp, dân nghèo nuôi dưỡng kém, thiếu hiểu biết về lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe thai sản.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh có 21,8% trường hợp
bệnh nhân rau bong non từ 40 tuổi trở lên, 23,6% trường hợp đẻ lần thứ 3 trở
lên.
Theo nghiên cứu của Cohen R.W thì tỉ lệ này là 60,3% trong đó 45,5%
có tổn thương TC mức độ nhẹ, 23,5% có tổn thương nặng và 15% tổn thương
lan sang dây chằng rộng.
Theo nghiên cứu của Ngô Văn Quỳnh tỉ lệ cắt TC trong rau bong
non trên tổng số MLT là 21,2%, tỉ lệ cắt TC trên tổng số đẻ đường dưới là
20%. Trong đó chỉ định cắt TC chủ yếu do tổn thương tại TC, tỉ lệ chung
cho 10 năm (từ 01/01/1994 -31/12/2003) là 90,3%, do các nguyên nhân
phối hợp là 9,7%.
Theo Trần Chân Hà vỡ TC chiếm 1,9% trong tổng số chảy máu sau
đẻ.
17
Tỉ lệ chảy máu sau đẻ do chấn thương đường sinh dục theo Phạm Thị
Xuân Minh là 13,8%, trong đó vỡ TC là 3%.
Trước kia nếu đã vỡ TC thường tiến hành phẫu thuật cắt TC. Trong
những năm gần đây người ta đã tiến hành khâu phục hồi và bảo tồn TC trong
những trường hợp người mẹ còn trẻ và còn muốn sinh con. Hội nghị chuyên
đề vỡ TC năm 1979 đã thống nhất những chỉ định giữ lại TC trong những
trường hợp vỡ TC có thể tóm tắt như sau :
- Sản phụ còn trẻ < 35 tuổi và mới đẻ ít < 2 lần.
- Thời gian chuyển dạ ngắn, từ lúc vỡ ối đến lúc vỡ TC không quá 6 giờ
và từ lúc vỡ TC cho đến lúc mổ không lâu quá nghĩa là chưa có tình trạng
nhiễm khuẩn.
- Chỗ vỡ gọn và tổn thương không quá phức tạp, nghĩa là không làm
tổn thương các bộ phận lân cận và không có tụ máu.
Đó là điều kiện đủ, ngoài ra cần phải có phẫu thuật viên có kinh nghiệm
và khả năng chăm sóc sau mổ tốt.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tú tỉ lệ cắt TC chiếm 43,4% trong
tổng số vỡ TC.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Vy tỉ lệ cắt TC do vỡ TC chiếm
0,02% trong tổng số đẻ chung.
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Xuân Minh mổ cắt TC do vỡ TC trong
chảy máu sau đẻ chiếm 66,67%.
1.3.1.6. Rối loạn đông máu
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Chung rối loạn đông máu
chiếm 1,4% trong tổng số nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ.
Đặc biệt những sản phụ chuyển dạ đẻ trong khi đang có triệu chứng
viêm gan tiến triển sẽ có nguy cơ chảy máu sau đẻ và tử vong mẹ rất cao.
Theo Nguyễn Dư Dậu nghiên cứu các thai phụ bị viêm gan chuyển dạ
đẻ trong 10 năm tại BVPSTƯ thấy tỉ lệ viêm gan trên tổng số đẻ thường là
19
0,13%. Trong số sản phụ viêm gan chuyển dạ có 30,1% có biến chứng sinh
sợi huyết giảm
- Thực hiện các thủ thuật: forceps, giác hút, bóc rau nhân tạo, kiểm soát
TC không đảm bảo qui trình vô khuẩn.
* Các yếu tố nguy cơ sau đẻ:
- Do vệ sinh cơ quan sinh dục không đảm bảo.
- Bế sản dịch.
21
Trong những trường hợp viêm niêm mạc TC nặng khi điều trị nội khoa
không kết quả, có biến chứng như: viêm phúc mạc, chảy máu, nhiễm trùng
huyết thì phải chỉ định cắt TC phối hợp dùng kháng sinh liều cao để loại trừ
nhiễm khuẩn nguyên phát, phòng nhiễm khuẩn thứ phát.
Theo nghiên cứu của Lê Thị Hương Trà tỉ lệ cắt TC trong rau cài răng
lược là 76,0%. Trong đó rau cài răng lược chiếm 72,4%, rau đâm xuyên
chiếm 21%, rau bám chặt chiếm 6,6%. Phần lớn các trường hợp này là những
trường hợp nhiễm trùng huyết, viêm phúc mạc sau mổ hoặc sau đẻ.
Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Chương tỉ lệ cắt TC do
nhiễm khuẩn sau đẻ và sau mổ là 0,7%.
Trong nhiều năm gần đây đã chỉ định mổ cắt TC trong trường hợp
nhiễm khuẩn huyết sau mổ, sau đẻ. Do đó tỉ lệ tử vong đã giảm đi đáng kể.
1.3.3. Chỉ định cắt tử cung do nguyên nhân khác
1.3.3.1. Do u xơ tử cung
U xơ TC là những khối u lành tính ở cơ TC, còn được gọi là u xơ cơ TC
vì được cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của TC.
Khi có thai, u xơ TC và thai nghén có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn
nhau biểu hiện:
- Thai dễ bị sảy hoặc đẻ non, vị trí rau bám bất thường có thể gây ra rau
tiền đạo hoặc rau cài răng lược, ngôi thế bất thường, u tiền đạo, gây băng
huyết do đờ TC và sót rau sau đẻ.
Không phải tất cả các trường hợp u xơ TC khi chuyển dạ đều phải cắt
TC, có thể bóc các nhân xơ nếu không quá to, không nhiều và bóc được…
1.3.3.2. Do yếu tố khác
Chỉ định này chúng ta cho rằng có thể kể các loại lớn như sau:
- Những trường hợp có nghi ngờ tổn thương ác tính hoặc là ung thư cổ
TC, ung thư buồng trứng… khi có thai được chỉ định MLT và cắt TC để điều trị.
- Những trường hợp cắt TC vì bệnh lí nặng nề của người mẹ (tim, gan,
thận…), khi tuổi thai ≥ 22 tuần.
- Do yêu cầu, nguyện vọng của bệnh nhân với nhiều lí do như cắt TC để
không mang thai và không còn có kinh nguyệt, vì u xơ TC nhưng chưa có chỉ
23
định cắt TC trong sản khoa trong một số trường hợp đặc biệt…, tiến hành cắt
TC cả khối khi tuổi thai từ 22 tuần trở lên khi kết hợp MLT.
1.4. THỜI ĐIỂM CHỈ ĐỊNH CẮT TỬ CUNG TRONG VÀ SAU ĐẺ
1.4.1. Chỉ định cắt tử cung sau đẻ đường âm đạo
Cắt TC sau đẻ đường âm đạo thường gặp trong các trường hợp có chảy
máu sau đẻ như: đờ TC, vỡ TC, sang chấn đường sinh dục lan tới đoạn dưới
TC, rối loạn đông máu, rau cài răng lược…. Trong những trường hợp đẻ khó
phải can thiệp thủ thuật như forceps, giác hút, nội xoay thai có thể gây sang
chấn đường sinh dục mất sự toàn vẹn của TC, thậm chí tổn thương các tạng
lân cận mà xét thấy không thể giữ được TC phải tiến hành cắt TC đảm bảo an
toàn cho người mẹ. Ngoài ra còn các trường hợp nhiễm khuẩn trong thời kì
hậu sản gây viêm TC toàn bộ, viêm phúc mạc… mà xét thấy không thể điều
trị bảo tồn TC.
1.4.2. Chỉ định cắt tử cung trong và sau mổ lấy thai
1.4.2.1. Chỉ định cắt tử cung trong mổ lấy thai
Cắt TC ngay trong khi MLT có thể gặp trong các trường hợp MLT cấp
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các bệnh án của các sản phụ được chỉ định cắt TC trong và sau
MLT hoặc sau đẻ (tuổi thai ≥ 22tuần đến hết thời kì hậu sản 42ngày) tại
BVPSTƯ trong 2 giai đoạn 2003-2004 và 2013-2014.
- Tuổi thai ≥ 22tuần (dựa vào ngày đầu tiên của kì kinh cuối cùng hoặc
kết quả siêu âm thai có đường kính lưỡng đỉnh ≥ 52mm).
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những trường hợp cắt TC không phải trong và sau MLT hoặc sau đẻ.
- Những trường hợp cắt TC có tuổi thai < 22tuần.
- Những trường hợp cắt TC trong và sau đẻ không được thực hiện tại
BVPSTƯ.
- Bệnh án không đầy đủ thông tin để thu thập số liệu nghiên cứu.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Tất cả các bệnh án của sản phụ phải cắt TC trong và sau đẻ, sau MLT
trong hai giai đoạn 2003-2004 và 2013-2014 sẽ được nghiên cứu từ tháng
10/2014 đến tháng 04/2015.
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại BVPSTƯ.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang, có so sánh 2 giai
đoạn nghiên cứu.