22
Héi nghÞ s¶n phô khoa ViÖt - Ph¸p
THÁI ĐỘ XỬ TRÍ SẢN PHỤ VÀ THAI NHI Ở NHỮNG BÀ MẸ
Rh(-) ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
TỪ 2011 ĐẾN 2013
(1)
Đoàn Thị Thu Trang ,
(1)
(2)
Vũ Văn Khanh , Nguyễn Viết Tiến
(1)
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương,
(2)
Trường Đại học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhận xét thái độ xử trí đối với sản phụ và thai nhi các trường hợp Rh(-) đẻ
tại BVPSTW.
Phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: nhóm sản
phụ chỉ tiêm 1 mũi Anti D sau đẻ trong vòng 72 giờ chiếm nhiều nhất 57,9%; Biến chứng:
trong số 61 sản phụ từng có can thiệp sản khoa, có 32,7% sản phụ sinh con có biến chứng
vàng da, thiếu máu; Các trẻ vàng da phải chiếu đèn chiếm 18,9%, 5 trẻ phải chuyển viện
khác xét thay máu và phẫu thuật. Kết luận: Anti-D có vai trò quan trọng trong dự phòng
biến chứng cho trẻ sơ sinh của các bà mẹ Rh(-).
Từ khóa: bất đồng nhóm máu Rh, dự phòng Anti - D
REVIEW OF THE MANAGEMENT ATTITUDE OF MOTHER
AND FETUS FOR THE CASE RH (-) DELIVERY IN NATIONAL
thai để vào hệ tuần hoàn của mẹ và kích thích hệ miễn dịch của mẹ sản xuất kháng thể
kháng Rh. Kháng thể do mẹ sản xuất có thể đi qua bánh rau vào máu thai nhi, gắn lên hồng
cầu của thai gây ra hiện tượng kết tụ làm cho hồng cầu của bào thai bị phá hủy, dẫn đến thai
nhi thiếu máu từ mức độ từ nhẹ đến nặng thậm chí tử vong. Mức độ này tùy thuộc vào
lượng kháng thể cơ thể mẹ sản xuất, mà lượng kháng thể này lại phụ thuộc vào số lần tiếp
xúc với kháng nguyên Rh trên hồng cầu của con ở cơ thể mẹ [1].
Hậu quả là những trẻ này có thể chết lưu do phù thai rau, thiếu máu nặng, vàng da tăng
billirubin rất sớm sau sinh hoặc vàng da nhân. Tình trạng này dẫn tới hoặc trẻ tử vong
trong giai đoạn chu sinh hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề khi trẻ lớn (bại não, chậm phát
triển trí tuệ…). Đối với người mẹ, lượng kháng thể Anti D trong máu cao có thể dẫn tới vô
sinh do thai lưu liên tiếp mỗi lần mang thai Rh(+).
Nhằm đưa ra cái nhìn toàn cảnh về các trường hợp mẹ Rh(-) đẻ tại viện, đồng thời nâng
cao chất lượng quản lý thai giảm các biến chứng với trẻ sơ sinh chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài với mục tiêu: Nhận xét thái độ xử trí sản phụ và thai nhi đối với các trường hợp
Rh(-) đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Tunrg ương.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Toàn bộ các sản phụ đẻ tại BVPSTW có xét nghiệm máu Rh trong thời gian từ
01/01/2011 tới 30/06/2013 với tiêu chuẩn vàng là xét nghiệm Rh(-).
Chúng tôi thu thập được 95 sản phụ đủ tiêu chuẩn của nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
-
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
3. KẾT QUẢ
Bảng 1. Tình hình dự phòng Anti D ở lần có thai này
Tình hình dự phòng Anti D
ở lần có thai này
95
100,0
Kû yÕu héi NghÞ - 2014
24
Héi nghÞ s¶n phô khoa ViÖt - Ph¸p
Nhận xét: không tiêm có 18 trường hợp chiếm 18,9%, chỉ tiêm 1 mũi sau đẻ trong vòng
72 giờ có 55 trường hợp chiếm 57,9%, ở cả hai thời điểm có 18 trường hợp chiếm 18,9%.
Bảng 2. Cách đẻ
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Đẻ thường
53
55,8
Forcef
6
6,3
97
Không có biến chứng
41
Tỷ lệ (%)
67,3
Vàng da
19
31,1
0
0
Thiếu máu
Tử vong
1
1,6
0
0
Theo dõi
73
76,8
Chiếu đèn
17
17,9
Chuyển viện
5
5,3
Tổng
95
100,0
Can thiệp trên trẻ sơ sinh
Nhận xét: có 73 trẻ sơ sinh( 76,8%) không cần can thiệp
4. BÀN LUẬN
Nghiên cứu cho thấy tình hình tiêm dự phòng Anti D tại BVPSTW: không tiêm có 18
trường hợp chiếm 18,9%, chỉ tiêm 1 mũi giữa 28 và 34 tuần có 4 trường hợp chiếm 4,2%,
phải yếu tố quyết định để chỉ định mổ lấy thai.
Trên thế giới hiện nay cũng chưa có nghiên cứu nào so sánh giữa mổ lấy thai và đẻ
đường dưới ở sản phụ Rh(-) thì nguy cơ số lượng máu của con tràn vào tuần hoàn mẹ ít
hơn.
Trong nghiên cứu chúng tôi thấy có 17 trường hợp chiếu đèn do vàng da, trong 5 trẻ
phải chuyển viện có 2 trường hợp chuyển viện xét thay máu vì vàng da sớm đậm và 2
trường hợp trẻ thiếu máu nặng. Có 73 trường hợp trong 74 trẻ không biến chứng không cần
can thiệp gì, và 1 trẻ chuyển viện để phẫu thuật do khối u lớn vùng cùng cụt. Hai trường
hợp trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trẻ thiếu máu nặng sau đẻ với chỉ số huyết sắc
tố lần lượt 40g/l và 75g/l chuyển viện Nhi Trung ương điều trị. Tuy nhiên một trẻ đã tử
vong sau 3 ngày điều trị vì vàng da tan máu thiếu máu nặng.
Trong số 6 trường hợp từng được tiêm Anti D dự phòng từ lần sinh trước thì 6 trẻ sơ
sinh đều không có biến chứng mặc dù không phải sản phụ nào cũng được tiêm dự phòng
đầy đủ cả hai thời điểm giữa 28 và 34 tuần và trong vòng sau đẻ 72 giờ như khuyến cáo.
Nhưng kết quả cũng đã cho thấy vai trò của Anti D trong việc hạn chế biến chứng ở trẻ
trong lần sinh sau.
5. KẾT LUẬN
- Trong lần sinh này, nhóm sản phụ chỉ tiêm 1 mũi Anti D sau đẻ trong vòng 72 giờ
chiếm nhiều nhất 57,9%.
Kû yÕu héi NghÞ - 2014
26
Héi nghÞ s¶n phô khoa ViÖt - Ph¸p
- Anti-D có vai trò quan trọng trong dự phòng biến chứng cho trẻ sơ sinh của các bà
mẹ Rh(-)
TÀI LIỆU THAM KHẢO