1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) là tai biến hàng đầu trong 5 tai biến sản
khoa, là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong mẹ(31%).
Trên thế giới ước tính mỗi năm có ít nhất 100.000 trường hợp tử vong
mẹ do chảy máu sau đẻ và những con số này chỉ là phần nổi của một tảng
băng trôi, theo WHO[29] thì có tới 20 triệu phụ nữ mắc các bệnh về thể chất
và tinh thần gây ra do CMSĐ.
Tại Mỹ, tỷ lệ tử vong mẹ do CMSĐ chiếm 10,5%. Theo Nguyễn Đức
Vy[24] năm 1998 ở Việt Nam tỷ lệ CMSĐ là cao nhất trong năm tai biến sản
khoa chiếm tới 67,4%, tỷ lệ tử vong mẹ là 66,8% trong 5 tai biến sản khoa. Tỷ
lệ tử vong do CMSĐ 1997 và năm 1998 so với tổng số sản phụ đẻ là 0,011%.
Ở Viện bảo vệ bà mẹ sơ sinh (BVBMTSS) 1986-1990, tỷ lệ tử vong do
CMSĐ chiếm 27,5% trong số các trường hợp tử vong mẹ .
Tại Thanh Hóa tỷ lệ CMSĐ năm 1997 là 0,72% và năm 1998 là
0,71%[6].
Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ CMSĐ chiếm tỷ lệ 0,39% tổng số đẻ.
Tỷ lệ này cũng thay đổi theo từng nơi, từng thời kỳ phụ thuộc vào phương
pháp đề phòng, phát hiện sớm và xử trí tích cực CMSĐ.
Nguyên nhân gây ra CMSĐ rất nhiều bao gồm: Đờ tử cung, vỡ tử cung,
chấn thương đường sinh dục, rau bám chặt, rau cầm tù, rau cài răng lược, lộn
tử cung, khối máu tụ đường sinh dục và rối loạn đụng mỏu…
Nếu phát hiện kịp thời nguyên nhân gây ra CMSĐ và có biện pháp xử trí
nhanh chóng và thích hợp thì chúng ta sẽ hạ thấp được tỷ lệ tử vong mẹ do
2
CMSĐ. Những năm 90 thế kỷ 20 các nhà sản khoa đã sử dụng phựơng pháp
lượng trên 500ml sau khi sổ thai ” [52].
- Ước lượng máu mất thường hay thấp, thường chỉ được một nửa lượng
máu mất thực sự. Máu trộn lẫn với nước ối và đôi khi với nước tiểu, thấm trong
gạc, khăn trải giường, trong thựng xụ và trên sàn nhà. Một định nghĩa khác của
CMSĐ là lượng máu mất trên 15% thể tích máu toàn phần được ước tính.
Sự quan trọng của lượng máu mất thay đổi theo mức huyết sắc tố của
mỗi bệnh nhân. Sản phụ với mức huyết sắc tố bình thường sẽ chịu đựng được
việc mất một lượng máu có thể gây tử vong cho sản phụ thiếu mỏu. Ngay cả
những sản phụ có sức khỏe bình thường, không thiếu máu vẫn có thể mất máu
rất nhiều.
Chảy máu có thể xảy ra sau đẻ vài giờ và có thể không được phát hiện
cho đến khi sản phụ đột ngột bị choáng .
Đánh giá nguy cơ trong giai đoạn tiền sản không dự đoán đúng được
sản phụ nào sẽ bị chảy máu sau đẻ. Xử trí tích cực trong giai đoạn 3 của cuộc
chuyển dạ cần phải được thực hiện trên tất cả các sản phụ trong chuyển dạ để
làm giảm tỷ lệ CMSĐ do đờ tử cung. Tất cả các sản phụ sau sinh đều phải
được theo dõi sát để đề phòng CMSĐ.
4
1.2. Một số đặc điểm về giải phẫu và sinh lý liên quan với chảy máu sau đẻ
1.2.1. Giải phẫu sinh lý cơ tử cung:
Tử cung là một khối cơ trơn rỗng, ở giữa tạo thành buồng tử cung. Tử
cung gồm 3 lớp tính từ trong ra ngoài đó là niêm mạc, cơ tử cung, phúc mạc.
Cơ tử cung có vai trò quan trọng tham gia vào việc cầm máu sau đẻ.
Cơ tử cung có 3 lớp: lớp ngoài là cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ đan, đây là
lớp dầy nhất chỉ có ở thân tử cung, đan chéo bao quanh các mạch máu ở tử
cung. Sau khi sổ rau lớp cơ này co lại chèn vào các mạch máu làm cho máu tự
cầm. Khi cơ tử cung giảm hoặc mất trương lực (đờ tử cung) thì sẽ gây ra
- Thì sổ rau: dưới ảnh hưởng của cơn co tử cung, rau đã bong sẽ được
tống xuống đoạn dưới, ra âm đạo và sau đó sẽ được sổ ra ngoài âm hộ.
- Thì cầm máu: sau khi rau bong, các sợi cơ đan chéo ở thân tử cung sẽ
co thắt lại giúp cầm máu. Hiện tượng cầm máu sẽ được hoàn chỉnh bởi cơ chế
đụng mỏu tạo thành các cục máu đông bớt cỏc đầu mạch máu.
1.2.4. Những bất thường trong thời kỳ sổ rau:
CMSĐ sẽ sảy ra nếu có những rối loạn ở cỏc thỡ ở giai đoạn sổ rau:
- Thì bong rau: do cơn co tử cung yếu làm rau không bong hoàn toàn
hoặc do rau bỏm quỏ chặt, do nội mạc tử cung có sẹo (do phẫu thuật, nạo
thai…) hay do viêm nội mạc tử cung, u xơ tử cung, tử cung dị dạng.
- Thì sổ rau: do cơn co tử cung yếu hoặc tử cung co thắt quá chặt làm
rau bị kẹt lại trong buồng tử cung không sổ ra ngoài được.
6
- Thì cầm máu: do có rối loạn cơn co khiến cơ tử cung không bóp chặt
vào các mạch máu hoặc do có rối loạn đụng mỏu gây nên CMSĐ. Tử cung co
hồi không tốt có thể do cũn sút rau hoặc rau kẹt trong buồng tử cung hoặc do
chất lượng cơ tử cung kém (đa thai, đa ối, thai to, u xơ tử cung, đẻ nhiều
lần…) hoặc do ảnh hưởng của các loại thuốc mê, thuốc giãn cơ dùng trong
chuyển dạ.
1.2.5. Cấu tạo âm đạo và mạch máu âm đạo
1.2.5.1. Cấu tạo : Đi từ ngoài vào trong ÂĐ gồm 3 lớp
- Lớp cơ trơn có thớ dọc ở nông và thớ vòng ở sâu.
- Lớp niêm mạc ÂĐ trước và sau đội lên thành cột trước và cột sau, vị trí
lệch nhau.
1.2.5.2. Mạch máu : Động mạch nuôi dưỡng âm đạo được tách từ 3 nguồn.
+ Động mạch CTC – ÂĐ, tách từ ĐMTC, cấp máu cho 1/3 trên ÂĐ.
+ Động mạch ÂĐ dài, tách ở động mạch hạ vị ( hoặc ở động mạch tử
•
Nhiễm trùng ối. Dựng cỏc thuốc giãn cơ gây mê sâu.
•
Sản phụ bị suy nhược, suy dinh dưỡng, thiếu máu nặng,
huyết áp cao trong thai kỳ.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Phượng[18] thì tỷ lệ CMSĐ ở những người
mang thai trên 4 lần cao gấp 3 lần so với những người con so. Tỷ lệ CMSĐ ở
nhóm đẻ song thai (1,08%) cao hơn ở nhóm đẻ 1 thai (0,39%) và những
trường hợp sinh trẻ có trọng lượng ≥ 4000g có tỷ lệ CMSĐ chiếm 0,69% tổng
số đẻ, cao hơn so với trường hợp sinh trẻ thấp cân hơn.
Theo Combs-C.A[30] và cộng sự nghiên cứu 9598 trường hợp đẻ thường
có 374 trường hợp CMSĐ (chiếm 3,9%) tác giả nhận thấy các yếu tố nguy cơ
của CMSĐ sau đẻ là giai đoạn 3 kéo dài (OR = 7,56). Tiền sản giật (OR = 5,02),
tiền sử CMSĐ (OR = 3,55) song thai (OR = 3,31) rách phần mềm (OR = 2,05)
đầu không lọt (OR = 2,91) Forceps hoặc giỏc hỳt (OR = 1,66)…
Theo Gilber-L và cộng sự [34] thì chuyển dạ kéo dài là yếu tố nguy cơ
của CMSĐ. Nếu giai đoạn 1 kéo dài > 12 giờ thì tỷ lệ CMSĐ gấp 3 lần.
Theo Tsu-V.D [48] thì giai đoan 2 kéo dài trên 20 phút có liên quan
đến CMSĐ do rau chậm bong là 4,2 lần, do đờ tử cung là 2,7 lần.
Theo Combs-C.A[30] giai đoạn 3 kéo dài ≥ 30 phỳt thỡ nguy cơ
CMSĐ tăng lên hơn 4 lần.
8
Nếu nghi ngờ sót rau thì kiểm soát tử cung là biện pháp phù hợp.
1.3.3.2. Rau tiền đạo
Rau tiền đạo là rau khụng bỏm hoàn toàn vào thõn tử cung mà 1 phần
hay toàn bộ bánh rau bám vào đoạn dưới tử cung.
Cơ tử cung đoạn dưới mỏng chỉ có 2 lớp cơ vòng và cơ dọc không có
lớp cơ chộo nờn khi rau bong thì tác dụng cầm máu do co cơ sẽ kém. Hơn nữa
các gai rau bám ở đoạn dưới tử cung thường ăn sâu vào lớp cơ tử cung do
niêm mạc ở đây kém phát triển dẫn tới rau cài răng lược. Theo Nguyễn Đức
Hinh [11] có 5,3% rau cài răng lược trên tổng số rau tiền đạo.
1.3.3.3. Rau cài răng lược
Là trường hợp gai rau bám trực tiếp vào cơ tử cung, giữa các gai rau và
cơ tử cung không có lớp xốp của ngoại sản mạc do đó bánh rau bỏm sõu vào
lớp cơ tử cung có khi xuyên tới thanh mạc tử cung. Đây là bệnh hiếm gặp và
thường gặp ở người đẻ nhiều lần, nạo thai nhiều lần, tiền sử cú viờm niêm
mạc tử cung. Theo Anderson-H.F[27] thì rau cài răng lược thường liờn quan
đến tiền sử mổ đẻ, sảy, nạo thai. Theo Pernoll-M.L[46] thì tỷ lệ rau cài răng
lược gặp từ 1/2000-1/7000 ca đẻ.
Có 2 cách phân loại rau cài răng lược.
- Phân loại theo mức độ bám của rau vào cơ tử cung theo chiều sâu:
+ Placenta acreta: gai rau bám tới bề mặt tử cung.
+ Placenta increta: gai rau xâm lấn vào cơ tử cung.
+ Placenta percreta: gai rau xuyên qua cơ tử cung tới lớp thanh mạc.
- Phân loại theo số lượng gai rau bám vào cơ tử cung.
10
+ Rau cài răng lược toàn phần: là toàn bộ bánh rau bám vào cơ tử cung,
do đó không thể bóc được và gây chảy máu.
+ Rau cài răng lược bán phần: là chỉ có một số múi rau bám vào cơ tử cung,
Các động tác đẩy ép tử cung hoặc kéo mạnh vào dây rốn khi rau chưa
bong có thể làm rối loạn cơ chế bình thường của thời kỳ sổ rau gây CMSĐ,
đôi khi cũn gây lộn tử cung và choáng nặng. Ngày nay tai biến này ít gặp.
- Lộn tử cung: Tỷ lệ hiếm gặp từ 1/2000 – 1/20.000 ca đẻ trong 10 năm
từ 1970 – 1980 tại Đại học Michigan có 10 trường hợp lộn tử cung, tỷ lệ là
1/1770 ca đẻ, lượng máu mất từ 500 – 2500ml kèm theo là tình trạng choáng
nặng. Mức độ choáng liên quan đến mức độ CMSĐ.
1.4. Chẩn đoán CMSĐ
1.4.1. Lâm sàng:
Chảy máu ra ngoài âm đạo là triệu chứng thường gặp nhất của CMSĐ,
hầu hết những trường hợp CMSĐ nặng khó có thể ước tính chính xác lượng
máu mất.
Hơn nữa các cục máu được tống ra ngoài, nếu đem cân, chỉ đại diện
cho 50% lượng máu chảy thực sự, chưa kể đến lượng mỏu cũn đang đọng lại
trong buồng tử cung. Trước một trường hợp bị chảy máu nhiều sau đẻ nên ấn
đáy tử cung để xem có nhiều máu đọng lại trong buồng tử cung không, từ đó
mới đánh giá chính xác được mức độ nguy hiểm của CMSĐ.
Biểu hiện lâm sàng của CMSĐ phụ thuộc vào lượng máu mất: Các
triệu chứng thể hiện một tình trạng thiếu máu cấp tính: da xanh, niêm mạc
nhợt, những trường hợp nặng thì có thể biểu hiện choáng như mạch nhanh,
12
huyết áp tụt, vã mồ hôi, da lạnh, thiểu niệu,… Tùy theo nguyên nhân mà cú
cỏc triệu chứng thực thể khác nhau.
1.4.2. Phân loại CMSĐ:
* Phân loại CMSĐ theo khối lượng máu mất theo Gable-S.G (1991)
[33] có 4 độ CMSĐ.
Loại
40
- CMSĐ loại 1: lượng máu mất ≤ 900ml, ít thay đổi về các dấu hiệu
lâm sàng.
- CMSĐ loại 2: lượng máu mất từ 1200 – 1500ml, bắt đầu có những
dấu hiệu lâm sàng. Đầu tiên là mạch tăng, có thể có nhịp thở tăng, tuy nhiên
tăng nhịp thở không phải là dấu hiệu đại diện của mất máu.
- CMSĐ loại 3: Huyết áp tụt, mạch nhanh, rét run, nhịp thở tăng (30
-50 lần/phỳt)
- CMSĐ loại 4: người bệnh trong tình trạng choáng và thường không
đo được mạch và huyết áp, thiểu hoặc vô niệu. Nếu không bù khối lượng tuần
hoàn ngay thì bệnh nhân sẽ bị trụy tim mạch.
Theo tác giả này thì thể tích máu của sản phụ 60kg ở tuổi thai 30 tuần
là 6000ml. Bình thường máu mất sau cuộc đẻ đường âm đạo là từ 400 - 500ml
13
và mổ lấy thai là 1000ml. Theo Gilstrap L.C and al[35] mổ lấy thai, đặc biệt
là khi phải gây mê sẽ làm tăng lượng máu mất.
* Phân loại CMSĐ dựa vào thời điểm chảy máu.
- CMSĐ sớm: Xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau đẻ thường do các
nguyên nhân đó nờu ở trên.
- CMSĐ muộn: Xảy ra sau 24 giờ. Theo Visscher-H.C [49] thì nguyên
nhân thường gặp nhất của CMSĐ muộn là do thoái triển bất thường vùng rau
bám (abnormal involution of the placental), sót rau, bao gồm polip rau thường
gặp từ 10% - 15% CMSĐ muộn. Theo Newton.M[40] CMSĐ hay gặp ở tuần
12 sau đẻ, chiếm 1 - 3%.
1.4.3. Các xét nghiệm cần thực hiện trong chẩn đoán và xử trí CMSĐ:
Các xét nghiệm cần làm khi CMSĐ là: Hồng cầu, hemoglobin,
thể trạng sản phụ lên, rồi kiểm tra đường sinh dục.
- Bóc rau còn chẩn đoán xác định rau cài răng lược toàn phần thì phải
tiến hành mổ cắt tử cung bán phần ngay. Nếu là rau cài răng lược bán phần thì
tùy theo số lượng múi rau bị bám chặt nhiều hay ít mà phẫu thuật cắt tử cung
bán phần hoặc bóc bằng tay.
- Nếu rau đã sổ thì nguyên nhân gây chảy máu thường do đờ tử cung,
chấn thương đường sinh dục, sót rau hoặc do rối loạn đụng mỏu.
- Chẩn đoán sót rau phải quan sát và kiểm tra cẩn thận bánh rau. Nếu
thấy thiếu hoặc nghi ngờ sót rau hay cú bỏnh rau phụ thì phải kiểm tra tử cung
bằng tay.
15
- Chẩn đoán đờ tử cung: sờ thấy tử cung mềm nhóo, đỏy tử cung cao
trên rốn, tử cung không co chắc để thành khối an toàn. Để giúp tử cung co
chắc hơn ta có thể dùng oxytocin tiêm bắp, truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp
ergometrin sau khi đã kiểm soát tử cung. Những năm gần đây Prostaglandin
được sử dụng rất hiệu quả với điều trị đờ tử cung, ngậm dưới lưỡi hoặc đặt
hậu môn.
- Chẩn đoán chấn thương đường sinh dục ta phải kiểm soát tử cung,
kiểm tra CTC, AĐ, TSM để đánh giá mức độ tổn thương và có hướng xử trí
phù hợp.
- Rối loạn đụng mỏu cần phải được nghĩ đến trong những trường hợp
thai chết lưu, rau bong non, tác mạch ối, hay sau khi chảy máu cấp với số
lượng nhiều. CMSĐ do rối loạn đụng mỏu hay gặp trên sản phụ sau đẻ có
bệnh gan và tình trạng thường rất nặng.
Nếu sau khi đã loại trừ và điều trị các nguyên nhân khỏc gõy băng
huyết mà máu vẫn tiếp tục chảy, nhất là khi thấy máu chảy ra không đông
hoặc đụng kộm, cỏc vết chích bị tụ máu thì phải nghĩ đến nguyên nhân rối
- PGE1: (biệt dược là misoprostol) O’Brien P và cộng sự [42] đã nghiên
cứu sử dụng misoprostol đặt trực tràng để điều trị CMSĐ trong những trường
hợp không đáp ứng với oxytocin và ergometrine. Các tác giả nhận thấy với
liều 1000μg misoprostol (5 viên) đặt trực tràng, thuốc dễ hấp thu, có hiệu quả
tạo cơn co tử cung trong vòng 3 phút.
17
Các trường hợp thất bại được các tác giả ghi nhận là có liên quan với
nhiễm khuẩn ối.
- PGE2: Hertz-R.H [37]. và cộng sự đã sử dụng PGE 2 đặt âm đạo để
điều trị CMSĐ. Tuy nhiên các tác giả chỉ mới nêu một vài trường hợp.
1.5.3.4. Thắt động mạch tử cung
Từ 1952 Waters-E.G [52]. đã báo cáo nghiên cứu thắt động mạch tử
cung 2 bên có hiệu quả điều trị CMSĐ, bởi vì 90% lượng máu đến tử cung là
từ 2 động mạch tử cung, phần còn lại là từ mạch máu của buồng trứng, cổ tử
cung, âm đạo. O’Leary-J.L. và cộng sự [43] đã nghiên cứu 90 trường hợp
CMSĐ sau mổ lấy thai ở bệnh viện Brooklyn (New York – Hoa Kỳ) từ 1964
đến 1972 được xử trí bằng thắt nhỏnh lờn của hai động mạch tử cung, chỉ có 6
trường hợp bị thất bại phải cắt tử cung. Nguyên nhân thất bại là những trường
hợp rau tiền đạo trung tâm, rau cài răng lược, đờ tử cung, nhiễm khuẩn ối.
Một số tác giả ghi nhận tỷ lệ thất bại của thắt động mạch tử cung từ 8 - 20%,
khi đó phải cắt tử cung.
Theo nghiên cứu của Lê Công Tước[23] tại BVPSTW trong 5 năm
2000 – 2004 có 230 trường hợp thắt ĐMTC để điều trị CMSĐ cho kết quả
thành công 83,5%. Trong đó tỷ lệ thành công cao nhất (100%) với nguyên
nhân do rau bong non, tỷ lệ thành công thấp nhất (57%) với loại nguyên nhân
CMSĐ do RTĐ.
Cũng theo tác giả này thì thắt ĐMTC thực hiện chủ yếu trong mổ lấy
gây hoại tử chi dưới.
1.5.3.6. Cắt tử cung
Đây là phương pháp chắc chắn để xử trí triệt để CMSĐ.
19
Clark-S.L. và cộng sự [29] đã nghiên cứu hồi cứu 70 trường hợp cắt tử
cung vì CMSĐ ở Los Angeles và ở California từ 1978 – 1982, trong đó 60
trường hợp cắt tử cung sau mổ lấy thai (86%) 10 trường hợp sau đẻ đường âm
đạo (14%). Các chỉ định thường gặp nhất cho cắt tử cung là:
- Đờ tử cung (43%).
- Rau cài răng lược (30%).
- Vỡ tử cung (13%).
- Rách rộng vết mổ ngay đoạn dưới (10%).
- U xơ tử cung (4%).
Các tác giả nhận thấy các yếu tố nguy cơ với đờ tử cung bao gồm:
- Nhiễm khuẩn ối.
- Mổ đẻ vì chuyển dạ ngừng tiến triển.
- Truyền Oxytocin.
- Truyền MgSO4.
- Thai to.
Có 57% trường hợp cắt tử cung do rau cài răng lược liên quan đến tiền sử
mổ đẻ.
Tỷ lệ mổ cắt tử cung vì CMSĐ là 0,02% các trường hợp đẻ đường âm
đạo và 0,7% và các trường hợp mổ lấy thai. 32 trường hợp (46%) cắt tử cung
toàn phần và 38 trường hợp (54%) cắt tử cung bán phần là do đờ tử cung
(77%), còn chỉ định cắt tử cung toàn phần chủ yếu là do rau cài răng lược
(71%) mà diện chảy máu có nguồn gốc từ nhánh cổ tử cung của động mạch tử
cung cấp máu cho đoạn dưới.
21
Theo Pelage-J.P và cộng sự [45] gây tắc nghẽn động mạch tử cung cho
51 sản phụ bị CMSĐ nặng (1994 - 1997), sau khi đã thực hiện các biện pháp
thích hợp mà không cầm được mỏu, cỏc tác giả nhận thấy kết quả gây tắc
động mạch tử cung thành công 89% cho 37 trường hợp CMSĐ sớm, và 97%
cho 14 trường hợp CMSĐ muộn. Các tác giả cho rằng gây tắc nghẽn động
mạch tử cung là biện pháp an toàn và hiệu quả để điều trị CMSĐ muộn.
1.5.4. Hồi sức
- Khi có CMSĐ thì phải cho sản phụ nằm đầu thấp, thở oxy, sưởi ấm,
bù lại thể tích máu đã mất, bù lại khối lượng tuần hoàn. Trong khi chờ mỏu
thỡ thường bù dung dịch gelafundin, haesterile, ringer lactat, NaCl 9%. Tốc
độ truyền phụ thuộc vào tình trạng sản phụ, mạch, huyết áp, lượng máu mất.
1.6 Các hậu quả của CMSĐ
1.6.1. Tử vong mẹ
- Ở Hoa Kỳ, CMSĐ là nguyên nhân đứng hàng thứ 3, chiếm 10,5%
trường hợp tử vong mẹ.
- Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì tử vong mẹ do
CMSĐ đứng hàng đầu. Theo GS. Nguyễn Đức Vy (1998) [24] thì tử vong mẹ
do CMSĐ là 66,8% cao nhất trong 5 tai biến sản khoa.
1.6.2. Hội chứng Sheehan
Tụt huyết áp sau đẻ có thể dẫn tới hoại tử một phần hoặc hoặc toàn bộ
thùy trước tuyến yên gây nên suy tuyến yên biểu hiện bằng vô kinh, rụng tóc,
rụng lông, mất sữa, suy tuyến giáp, suy tuyến thượng thận.
1.6.3. Các hậu quả khác
- Sự mất máu quá nhiều sẽ dẫn tới suy thận, rối loạn đụng mỏu, CMSĐ
còn là một yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn hậu sản.
- Ngoài ra cũn cú cỏc hậu quả của việc truyền máu (viêm gan, HIV…)
23
giữa 2 phương pháp này. Nhưng thời điểm dùng thuốc sau khi sổ đầu thai nhi
thì tỷ lệ CMSĐ thấp hơn có ý nghĩa so với cho thuốc sau khi sổ rau ở cả hai
phương pháp.
* Với misoprostol (PGE1) Huỳnh Thị Ngọc Thủy [20] và cộng sự đã
nghiên cứu sử dụng misoprostol liều 400μg đặt trực tràng ngay sau khi sổ đầu
thai nhi với nhũng đối tượng có nguy cơ CMSĐ hoặc không có nguy cơ
CMSĐ, tác giả nhận thấy misoprostol làm giảm lượng mất và làm ngắn thời
gian giai đoạn III.
Bamigboye-A.A. và cộng sự [28] đã nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
có đối chứng đánh giá hiệu quả của misoprostol 400 μg đặt trực tràng để
phòng ngừa ngay sau khi sổ thai, tỷ lệ CMSĐ thấp hơn tuy nhiên không có ý
nghĩa thống kê.
EL-Refaey H. và cộng sự [31] nghiên cứu sử dụng đường uống
misoprostol liều 600μg ngay sau khi sổ thai. Các tác giả nhận thấy misoprostol
có hiệu quả phòng ngừa CMSĐ và ít gây ra tác dụng phụ.
* Với duratocin: gần đây tại Việt Nam bắt đầu sử dụng trong rút ngắn
giai đoạn 3 và dự phòng CMSĐ. Duratocin là chất đồng vận của oxytocin, có
tác dụng kéo dài, với một liều duy nhất được chỉ định trong ngăn ngừa mất
trương lực tử cung và CMSĐ, làm giảm lượng máu mất và ít cần các biện
pháp khỏc vỡ nó duy trì thời gian co bóp tử cung tới 120 phút [5]
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu hồi cứu các trường hợp điều trị chảy máu sớm sau
đẻ tại BVPSTW 1998 – 1999 và 2008 – 2009 .
Các biến số nghiên cứu :
1. Tuổi của sản phụ.
2. Tổng số đẻ hàng năm trong 2 giai đoạn 1998 – 1999 và 2008 - 2009
tại BVPSTW bao gồm:
● Đẻ thường.
● Đẻ can thiệp: Forceps, giỏc hỳt.
● Mổ lấy thai.
3. Tổng số CMSĐ 2 giai đoạn 1998 – 1999 và 2008 – 2009.
4. Tổng số CMSĐ sinh tại BVPSTW 2 giai đoạn 1998 – 1999 và 2008
– 2009
5. Số lần đẻ: nguy cơ CMSĐ của người con rạ so với người con so.
6. Phương pháp đẻ.
Phân tích liên quan giữa CMSĐ và phương pháp đẻ:
● Đẻ thường.