ĐẶT VẤN ĐỀ
Chửa ngoài tử cung là một bệnh thường gặp trong cấp cứu sản phụ khoa
với tỷ lệ: 1/200-1/250 phụ nữ mang thai [5], là nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong mẹ trong ba tháng đầu của thai kỳ. CNTC luôn là một thách thức đối với
công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại cộng đồng, không chỉ riêng ở Việt
Nam mà trên toàn thế giới vì ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, khả năng sinh
sản thậm chí đến tính mạng của người phụ nữ. Bệnh có chiều hướng gia tăng,
tại Mỹ trong thời gian 17 năm (1972-1989), CNTC tăng gấp 4 lần, tuy nhiên
tử vong mẹ giảm từ 35/1000 xuống còn 9,4/1000 do được chẩn đoán và xử trí
sớm. Tại Việt Nam, theo Dương Thị Cương năm 1991, tỷ lệ CNTC dao động
từ 0,25% đến 0,35% thực tế còn cao hơn. Theo thống kê tại Bệnh viện phụ
sản Trung ương, năm 1990 có 193 trường hợp CNTC, năm 1995 đã tăng lên
397 trường hợp. Năm 2000 có 661 ca (5,5%). Năm 2002 chiếm 9,7% tổng số
đẻ. Tại Từ Dũ thành phố HCM trong 3 năm liên tục (1991- 1994) trung bình
mỗi năm có khoảng 500 trường hợp CNTC [22]. Tại các nước Châu Âu và
khu vực Bắc Mỹ ở thập niên 70-80 tỷ lệ CNTC tăng rất nhanh giao động
khoảng 25% trên tổng số trẻ đẻ ra sống – ở Anh tỷ lệ CNTC từ năm 1966-
1996 cũng tăng từ 0,3% đến 1,6% Mỹ trong mười năm (từ 1981- 1991) tỷ lệ
CNTC tăng từ 1,9 đến 2,2% [81].
Sự gia tăng tần suất bệnh được nhiều tác giả cho rằng có nhiều yếu tố
như viêm nhiễm tiểu khung, tiền sử mổ vùng tiểu khung. Các biện pháp sinh
đẻ kế hoạch, các tiến bộ trong điều trị vô sinh, hỗ trợ sinh sản và các kỹ thuật
tiến bộ trong y học can thiệp nhiều hơn vào vòi tử cung đều góp phần làm
tăng tần suất bệnh [86],[87].
Tại bệnh viện phụ sản Trung ương, số bệnh nhân CNTC không ngừng
tăng lên hàng năm từ 673 trờng hợp năm 2000 tăng lên 1272 năm 2005 [35].
1
- Các triệu trứng bệnh khi chưa có biến chứng thường nghèo nàn.
Không đặc hiệu và không rầm rộ nên bệnh nhân vào viện thường trong tình
trạng muộn, đã có biến chứng chảy máu trong ổ bụng đôi lúc rất trầm trọng
nên việc điều trị mang tính chất sống còn của bệnh nhân là chủ yếu. Chẩn
- 1812 Heim là người đầu tiên chẩn đoán được CNTC trên phụ nữ còn
sống tuy nhiên chưa tìm ra được các tiêu chuẩn thích hợp cho chẩn đoán [76].
- Năm 1884 Schroder.M đã thực hiện phẫu thuật trong điều trị CNTC.
- Năm 1937 Hope. M là người đầu tiên khởi xướng soi ổ bụng trong chẩn
đoán nghi ngờ là CNTC [76].
Năm 1955 Lund lần đầu tiên mô tả 119 ca CNTC được điều trị bằng
phương pháp theo dõi, khối chửa tự thoái triển và tỷ lệ thành công là 57%.
3
- Năm 1957 Strome. N mô tả phương pháp cắt dọc một phần vòi tử cung
là một bịên pháp bảo tồn vòi TC trong chữa ngoài tử cung chưa vỡ.
- Năm 1973 Shapiro và Adler đã điều trị thành công CNTC bằng soi ổ
bụng và ngày nay soi ổ bụng là phương pháp điều trị chuẩn mực CNTC [80]
[58].
- Năm 1977 Braunch và Manhes công bố kết quả đầu tiên điều trị CNTC
bằng phương pháp phẫu thuật nội soi [76].
- Năm 1982 lần đầu tiên các nhà khoa học Nhật bản đã điều trị thành
công CNTC bằng Methotrexate (MTX) [37],[65],[66],[77].
Một số nghiên cứu trong nước
Năm (2002), Vương Tiến Hoà nghiên cứu ở 120 trường hợp CNTC về
một số yếu tố góp phần chẩn đoán sớm CNTC sớm cho thấy 92% người
bệnh CNTC được chẩn đoán sớm khi thăm khám có máu ở âm đạo, 65%
người bệnh có triệu chứng đau bụng. β hCG huyết thanh tất cả các trường
hợp CNTC > 25 mUI/ml. Nồng độ βhCG rất phân tán, thay đổi, không theo
quy luật chuẩn, độ lệch lớn hơn giá trị trung bình, nên giá trị tuyệt đối
không có ý nghĩa trên lâm sàng [24].
- Năm (2003), Nguyễn Thị Hoà nghiên cứu các yếu tố liên quan và giá trị
của triệu chứng lâm sàng trong chẩn đoán sớm chửa CNTC tại bệnh viện phụ
sản trung ương 2003, tỷ lệ CNTC là 4,4% CNTC trên tổng số có thai vào
viện. Triệu chứng lâm sàng rất có giá trị gợi ý để chẩn đoán, siêu âm đầu dò
âm đạo rất có giá trị trong chẩn đoán CNTC. Nội soi là tiêu chuẩn vàng để
+ on loa: L on tn cựng ca tai vũi t cung, di 2cm, to hỡnh phu
cú khong 10-12 tua vũi, mi tua vũi di 1 - 1,5 cm, di nht l tua Richard
dớnh vo dõy chng vũi - bung trng. Cú nhim v hng ly noón khi ó
c phúng ra khi bung trng vo vũi t cung [5].
* Cu to mụ hc: Thnh vũi t cung c cu to 4 lp t ngoi vo
- Ngoi cựng l lp thanh mc, nhn búng to bi lỏ tng ca phỳc mc
- Lp 2 l mụ liờn kt lng v mng trong ú cú mch mỏu, thn kinh
- Lp th 3 gi l ỏo c gm 2 lp, lp c dc ngoi, th c vũng
trong lm cho vũi cú nhu ng theo hng v phớa t cung hoc v phớa
bung trng tu theo tng thi im thớch hp.
- Trong cựng l lp niờm mc: cú cỏc np gp thay i tu theo tng on
phõn chia gii phu gm 3 loi t bo:
6
+ Tế bào hình trụ có những lông dài 8 - 9 µm cắm vào thể đáy và chuyển
động theo một hướng nhất định về phía tử cung.
+ Tế bào chế tiết: chế tiết dịch để nuôi dưỡng trứng và góp phần vận
chuyển trứng về buồng tử cung.
+ Tế bào hình thoi: ở lớp đệm có tiềm năng phát triển giống như những tế
bào ở lớp đệm của nội mạc tử cung, do đó có thể biệt hoá thành những tế bào
màng rụng trong những trường hợp CNTC [26],[78].
- Động mạch vòi tử cung: xuất phát từ 2 nguồn đó là động mạch buồng
trứng và động mạch tử cung tiếp nối với nhau ở mạc treo vòi tử cung tạo
thành những vòng nối cung cấp máu phong phú cho vòi tử cung [77], [28].
1.2.2. Sinh lý và chức năng vòi tử cung
- Sự thụ tinh thường xẩy ra ở bóng vòi tử cung quá trình di chuyển của
phôi qua vòi từ 6 đến 7 ngày. Những cản trở xảy ra tại thời điểm này có thể
dẫn đến hậu quả CNTC tức phôi làm tổ tại vòi tử cung.
- Tinh trùng, noãn, phôi được vận chuyển qua vòi tử cung nhờ 3 yếu tố:
+ Sự co bóp của áo cơ vòi tử cung là chủ yếu.
+ Sự chuyển động của vòi các lông ở bờ tự do của tế bào có lông đã đẩy
- Do phôi phát triển nhanh trong lòng vòi, hoặc chửa nhiều thai lên
đường kính của nó lớn hơn vòi tử cung và bị giữ lại làm tổ trong VTC.
1.3.3. Những nguyên nhân CNTC có liên quan đến kỹ thuật
* Sinh sản hỗ trợ
8
- Các phương pháp sinh sản hỗ trợ làm tăng tỷ lệ CNTC như thụ tinh
trong ống nghịêm, chuyển phôi qua vòi tử cung theo nhóm nghiên cứu của
Australia về thụ tinh trong ống nghiệm năm 1985 có 5% số bệnh nhân bị
CNTC sau khi làm thủ thuật này.
* Tiền sử phẫu thuật vòi tử cung
- Một số phẫu thuật vòi tử cung hay tạo hình và những người có tiền sử
phẫu thụât ở bụng trước đây là nguyên nhân gây CNTC [61], [75].
- Theo Greenhill, theo dõi 405 tổng hợp phẫu thuật vòi tử cung cả phẫu
thuật bằng nội soi và mổ mở thì tỷ lệ CNTC là 15% trong tổng số có thai [56].
- CNTC sau triệt sản: vẫn có một tỷ lệ có thai lại trong tử cung và
CNTC sau phẫu thuật triệt sản, nhất là triệt sản qua phẫu thuật nội soi ổ
bụng, đốt điện đơn cực hoặc lưỡng cực. Theo Cauland (1980) trong số
những trường hợp thất bại sau triệt sản bằng đốt điện VTC khi soi ổ bụng
có 16 - 50% là CNTC.
Kleppinger nghiên cứu 2300 trường hợp đốt điện đơn cực để triệt sản thì
có 5 trường hợp thất bại. 4 trong 5 trường hợp này bị CNTC. Cả 5 trường hợp
này đều tìm thấy lỗ dò ở phía tử cung - VTC đã đốt điện.
1.4. Chẩn đoán CNTC
Chẩn đoán CNTC dựa vào các triệu trứng lâm sàng, cận lâm sàng và soi ổ
bụng, tuy nhiên CNTC có nhiều thể lâm sàng và vị trí khác nhau nên đôi khi
rất khó chẩn đoán.
Chẩn đoán sớm CNTC là khối thai chưa vỡ hoặc rỉ một lượng máu rất ít
trong ổ bụng ≤ 50ml. Tại bệnh viên Trung ương, tỷ lệ chẩn đoán sớm CNTC
tăng qua hàng năm. Theo Nguyễn Minh Nguyệt (1999) Tỷ lệ này là 49,63%.
9
Cận lâm sàng ngày nay ngày càng hữu ích và có giá trị hơn trong chẩn
đoán CNTC sớm. Các phương pháp thường dùng hiện nay tại Việt Nam gồm:
định tính và định lượng hCG, siêu âm, nội soi ổ bụng [7] [4].
hCG trong chẩn đoán CNTC (hCG - human Chorionic - GonadoTropin)
- HCG được chế tiết sau thụ tinh 6 đến 9 ngày nhưng với 1 hàm lượng
nhỏ vì vậy khó phát hiện. Xét nghiệm thường có gía trị sau chậm kinh 1 tuần
khi mà phôi thai đã làm tổ chắc chắn trong buồng tử cung [69] [70].
- Theo Pittaway, nếu toàn bộ tế bào nuôi đã lấy ra khỏi buồng tử cung thì
sau 48 – 72 giờ nồng độ β hCG chỉ còn lại 25% so với nồng độ ban đầu.
Kadlar và cộng sự (1981) là những người đầu tiên định lượng β hCG
hàng loạt kết hợp với siêu âm đầu dò đường bụng như là một phương pháp để
chuẩn đoán sàng lọc CNTC, và đã đưa ra một ngưỡng phân biệt
(Discriminatory) giữa thai nghén bình thường và thai nghén bất thường và kết
luận rằng: khi nồng độ β hCG huyết thanh ≥ 6000m mUI /ml thì phải thấy túi
thai trong buồng tử cung bằng siêu âm đầu dò đường bụng. Khi βhCG ≥ 6000
mUI /ml và siêu âm đường bụng không thấy túi thai trong tử cung thì phải
nghĩ đến CNTC [69] [70].
- Nyberg và cộng sự (1985) kết hợp siêu âm đo âm đạo và định lượng β
hCG huyết thanh đã đưa ra một ngưỡng phân biệt mới, ở nồng độ β hCG huyết
thanh là 1800 mUI/ml thì phải thấy túi thai trong buồng tử cung. Nếu sau 48 giờ
nồng độ β hCG huyết thanh tăng dưới 66% hoặc không tăng hay tăng ít hoặc
11
giảm ít và siêu âm đường âm đạo không thấy túi thai trong buồng tử cung thì
phải nghĩ tới CNTC. Nồng độ β hCG và vị trí CNTC hoàn toàn không liên quan
đến nhau. Ngay cả những người bình thường, có một lựơng rất ít nồng độ β hCG
huyết thanh phân bố cũng rất phân tán [35] vì vậy định lượng β hCG huyết
thanh sẽ giúp ích rất nhiều cho vịêc phân biệt giữa một CNTC hoặc xảy thai
không hoàn toàn, với một thai nghén bình thường, hoặc là theo dõi một CNTC
còn tồn tại, sau phẫu thuật bảo tồn vòi tử cung [58],[62],[85].
Theo Vương Tiến Hoà [25] thì tất cả các bệnh nhân bị CNTC đều có
nhẫn một vòng.
- Hình ảnh chắc chắn là có túi ối ở vòi tử cung có âm vang thai – tim thai biệt
lập với tử cung.
13
- Dịch ở túi cùng Douglas: là giai đoạn muộn của chửa ngoài tử cung là
vùng thưa âm vang ở sau thân tử cung thuộc túi cùng Douglas có thể do khối
chửa đã vỡ hoặc rỉ máu qua loa VTC vào cùng đồ, nếu vỡ chảy máu nhiều tạo
thấy vùng thưa âm vang ở các điểm thấp ở tư thế nằm như cùng đồ Douglas
hai mang sườn phải và trái [7], [15]
- Hình ảnh chửa góc tử cung. Bình thường trứng làm tổ ở đáy hay gần
đáy buồng tử cung và phát triển to dần vào giữa buồng tử cung. Khi trứng
làm tổ ở vùng sừng tử cung nối với VTC gọi là chửa ở góc khi trứng làm tổ
ở đoạn VTC nằm trong cơ sừng tử cung ở bờ ngoài dây chằng tròn gọi là
chửa ở kẽ.
Siêu âm xác định chửa góc khi thấy khối thai nằm lệch một góc ở
buồng tử cung làm cho hình dạng tử cung lệch lồi hẳn sang phía chửa. Siêu
âm xác định chửa ở kẽ khi thấy khối âm vang nằm ở ngoài niêm mạc buồng
tử cung tuy nhiên việc chẩn đoán phân biệt giữa chửa góc và chửa kẽ rất
khó khăn [7].
Hình ảnh chửa ống cổ tử cung.
- Khối thai nằm thấp trong ống CTC hình ảnh siêu âm thấy tử cung to
hơn bình thường, niêm mạc tử cung phát triển tạo âm vang dày giữa buồng tử
cung phần dưới tử cung phình ra làm tử cung biến dạng, thai thường không
phát triển chết và sảy ra ngoài [7].
- Hình ảnh chửa ổ bụng
Một số trường hợp thai chửa ở đoạn bóng, loa và TC rồi sảy vào trong ổ
bụng. Các gai rau lại tiếp tục bám vào các bộ phận lân cận như ruột, phúc
mạc, mạc nối lớn để tiếp tục nhận chất dinh dưỡng để cung cấp cho thai phát
triển. Thai có thể phát triển gần đủ tháng hoặc đủ tháng. Biến chứng vỡ khối
chửa gây chảy máu thường gặp và phải phẫu thuật cấp cứu lấy thai để rau
Chọc dò cùng đồ sau
Chọc dò có giá trị khi hút ra máu không đông chứng tỏ đã có biến chứng.
Nhưng khi kết quả chọc dò âm tính vẫn không loại trừ được chửa ngoài tử
cung ngay cả khi nó đã vỡ [9][8] hiện nay thủ thuật này ít thực hiện hơn do
hiệu quả của các phương tiện cận lâm sàng.
Định lượng Progesteron trong huyết thanh
Trong 8-10 tuần đầu thai nghén, hàm lượng Progesteron thay đổi ít phản
ánh sự hoạt động của hàng thể thai nghén. Đây là một xét nghiệm có thể dùng
để kiểm soát CNTC, theo Buster Ejohn thì nồng độ Progesteron nhỏ hơn
15ng/ml có hơn 80% là chửa ngoài tử cung. Khi nồng độ này nằm trong
khoảng 15-25 ng/ml cần phải theo dõi và làm các xét nghịêm khác [19], [54].
Nạo buồng tử cung
- Chỉ đặt ra khi bệnh nhân bị chảy máu nhiều và kết quả siêu âm không
phù hợp, khi nồng độ Progesteron máu nhỏ hơn 5ng/ml (thai hỏng) β hCG
không tăng khi xét nghiệm định kỳ, bệnh phẩm làm xét nghiệm vi thể có phản
ứng ngoại sản mạc và không có gai rau (hiện tượng Arias Stella) [9] [24].
Ngoài ra còn làm một số xét nghiệm bổ sung khác như số lượng hồng cầu
bạch cầu, huyết sắc tố thể tinh hồng cầu, chức năng gan thận để đánh giá toàn
trạng chung của bệnh nhân [52].
1.5. Phân loại CNTC
1.5.1 Phân loại theo lâm sàng
- CNTC chưa vỡ
+ Lâm sàng: triệu chứng nổi bật đau âm ỉ hạ vị toàn trạng bình thường.
+ Siêu âm: buồng tử cung rỗng (không có túi thai). Cạnh tử cung có
khối âm không đồng nhất. Cùng đồ không có dịch. Quickstick hCG (+)
16
β hCG(+) [41].
- Chửa ngoài tử cung thể rỉ máu:
Đau bụng âm ỉ – ra máu tươi loãng ít một.
- Thể giả sẩy: đau bụng dưới từng cơn ra huyết âm đạo ít một, sau đó sảy ra
chẩy máu rữ dội thường phải cát tử cung để cầm máu. Nếu phát hiện sớm thì
điều trị bằng MTX cho kết quả tốt.
- Phân loại theo diễn biến của bệnh
Tại “Hội thảo quốc tế chuyên đề về chửa ngoài tử cung và vô sinh do
nguyên nhân ống dẫn trứng – Vichy, pháp 1995” các tác giả đề nghị phân biệt
ba mức độ hoạt năng sinh học khác nhau của CNTC dựa vào β hCG và
progesteron trong máu mẹ [33]
CNTC có hoạt năng sinh học cao: nồng độ β hCG tăng đáng kể trong
vòng 48h hay nồng độ β hCG lớn hơn 10000 mUI/ml và progesteron lớn hơn
10ng/ml: CNTC đang tiến triển mạnh (có hoạt năng sinh học cao) với nguy cơ
thất bại cao khi điều trị bảo tồn. Những trường hợp này đòi hỏi thái độ trị liệu
triệt để như cắt bỏ VTC hoặc mở vòi tử cung lấy tổ chức thai phối hợp với
điều trị bổ xung bằng Methotrexate.
CNTC không có hoạt năng sinh học.
18
Nồng đọ β hCG giảm, nồng độ progesteron <5ng/ml: chứng tỏ CNTC
không tiến triển, những trường hợp này cho phép một thái độ chờ đợi sự thoái
triển tự nhiên của bệnh.
- CNTC có hoạt năng sinh học trung bình:
Các trường hợp khác được xem như là CNTC có hoạt năng sinh học
trung bình có thể được điều trị bảo tồn với nội soi ổ bụng hoặc Methotrexate.
1.6. Hình ảnh mô bệnh học của CNTC
- Vòi tử cung chưa vỡ:
a. Hình ảnh đại thể:
- Khối chửa giống như một khúc dồi lợn dài khoảng 4cm - 6cm, đường
kính khoảng 2-3cm, sung huyết tím sẫm toàn bộ. Cắt dọc vòi tử cung có thể
thấy túi ối, bào thai và rau bám ở trong lòng vòi tử cung [83].
19
b. Hình ảnh vi thể.
- Toàn bộ bộ vòi tử cung sung huyết lan toả làm biến đổi màng đệm đặc
- Giảm tối đa tỷ lệ tử vong
- Ngừa tái phát CNTC
- Duy trì khả năng sinh sản cho người bệnh khi có nguyện vọng.
1.7.1.1 Mổ mở
- Phương pháp truyền thống trong điều trị CNTC chưa vỡ và vỡ là cắt bỏ
VTC tận gốc nhất là đã vỡ VTC gây chảy máu vào trong ổ bụng, hoặc có thể
tiến hành bảo tồn VTC bằng cách rạch dọc bờ tự do của VTC lấy khối thai,
cầm máu không khâu hoặc khâu lại VTC bằng chỉ tiêu một lớp mũi rời. Phẫu
thuật viên có kinh nghiệm có thể tiến hành nối tận - tận VTC khi đoạn còn lại
có độ dài trên 4 cm.
- CNTC thể lụt máu trong ổ bụng cần tiến hành phẫu thuật song song với
các biện pháp hồi sức (truyền dịch truyền máu….) không bắt buộc phải chờ
huyết áp lên mới phẫu thuật, khi mổ bụng cần nhanh chóng tìm ra chỗ chảy
máu để cầm máu. Trong những trường hợp này trước hết là cứu sống người
bệnh vì vậy không đặt ra vân đề điều trị bảo tồn VTC đã vỡ: cách xử lý là cắt
VTC để cầm máu. Hồi sức trong CNTC thể lụt máu thường cho kết quả tốt.
Rối loạn đông máu có thể sảy ra nhưng không nặng nề.
Trong thể huyết tụ thành nang, phẫu thuật thường khó khăn do khối
CNTC dính với các cơ quan lân cận, bóc tách cầm máu khó khăn sau khi bóc
tách cần đặt ống dẫn lưu để theo dõi sau PT [9].
Khi thai làm tổ trong ổ bụng, nếu thai còn sống mẹ chưa có biến chứng
một số tác giả khuyên nên chờ đến tuần 36-38 sẽ phẫu thuật lấy thai chủ
động. Trong phẫu thuật sau khi lấy thai, kẹp cuống rốn cắt sát gốc rau sau khi
21
đã để máu trong rau chảy ra hết, để lại bánh rau là phương phương cách xử
dụng hiện nay. (Sau phần rau còn lại sẽ tự tiêu huỷ hay thúc đẩy tiến trình này
nhanh hơn bằng Methotrexate)…. Tuy nhiên việc để lại bánh rau có thể là
nguyên nhân của nhiễm trùng, áp xe ổ bụng, tắc ruột [6],[9]. Đôi khi lấy thai
ra làm bánh rau bị bong ngay gây chảy máu rất khó cần giải pháp tình thế lúc
này là chèn gạc thật chặt chẽ để cầm máu tạm thời rút dần gạc này trong
+ Đánh giá ổ bụng hút hết máu, rửa ổ bụng nếu có máu chảy, đánh giá
VTC bên đối diện.
+ Cầm máu từ eo VTC, vừa cầm máu vừa cắt bằng kéo dọc theo bờ mạc
treo của VTC.
+ Cho bệnh phẩm vào túi plastic rồi lấy qua thành bụng.
+ Rửa, hút sạch ổ bụng.
* Bảo tồn VTC
+ Rửa và hút sạch ổ bụng nếu có chảy máu.
+ Bộc lộ khối chửa, đánh giá VTC bên đối diện.
+ Mở dọc bờ tự do của VTC ở vị trí khối chửa khoảng 1 cm.
+ Lấy mô rau thai ra.
+ Cầm máu: dùng dao lưỡng cực cầm máu tối thiểu mép vết rạch.
- Nội soi điều trị CNTC bằng MTX
+ Nội soi ổ bụng, đưa một kim chọc dò tuỷ sống cỡ 19 qua thành bụng
vào khối chửa, bơm qua kim này 2 - 5 ml dung dịch chứa 10-40mg MTX
1.7.2. Điều trị nội khoa bằng Methotrexate (MTX).
Điều trị CNTC bằng MTX được áp dụng ở các nước Âu - Mỹ từ những
năm 80 của thế kỷ 20 và hiện nay được áp dụng hầu hết ở các cơ sở sản khoa
hiện đại. MTX có thể dùng toàn thân (tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch) hoặc phối
hợp tiêm tại chỗ chữa cho kết quả thành công cao. Ở Việt Nam việc điều trị
23
CNTC chưa vỡ bằng MTX được áp dụng từ năm 1998 mức độ thành công
liên quan chặt chẽ với tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân điều trị nội khoa bằng thuốc Methotrexate
[22], [38].
- CNTC chưa vỡ
Nồng độ βhCG ban đầu ≤ 5000 UI/l
Siêu âm đầu dò âm đạo: kích thước khối chửa ≤ 3cm, không có hoạt
động tim thai không có túi noãn hoàn. Dịch cung đồ ≤ 15mm
* Đường đưa thuốc
lượng β hCG cho tới khi âm tính. Bệnh nhân được coi là phù hợp nếu β hCG
giảm trong theo dõi.
Chỉ định của phương pháp theo dõi.
+ Không có dấu hiệu vỡ khối chửa, túi thai khu trú ở VTC
+ β hCG giảm sau 48 h
+ Bệnh nhân hợp tác với thầy thuốc và có thể theo dõi trong thời gian dài.
Phác đồ điều trị:
- Bệnh nhân được theo dõi sát
- Định lượng β hCG và siêu âm đầu dò âm đạo mỗi 48h.
Theo dõi:
- Định lượng β hCG tới khi âm tính
- Không giao hợp hoặc khám tiểu khung cho tới khi thành công
- MTX hoặc phẫu thuật nếu chửa NTC tồn tại.
25