1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau tiền đạo là bệnh cấp cứu sản khoa thường gặp. Tỷ lệ RTĐ trước
đây khoảng 0,5% [2], gần đây có xu hướng tăng lên. Tại BVPSTW năm
1997-2000 tỷ lệ RTĐ là 2,14 % [20].
Nguyên nhân gây ra RTĐ hiện chưa được hiểu biết đầy đủ nhưng một
số yếu tố liên quan đến RTĐ đã được xác định là: mẹ lớn tuổi, mổ lấy thai,
tiền sử nạo hút thai, đẻ nhiều lần, mang thai nhiều lần, mẹ hút thuốc… Mối
liên quan giữa MLT và RTĐ đã được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định:
Tiền sử MLT làm tăng nguy cơ bị RTĐ ở lần có thai sau. Tỷ lệ gặp RTĐ ở
những bệnh nhân có tiển sử mổ lấy thai tùy thuộc vào số lần MLT và vào
từng quần thể nghiên cứu. Theo Taylor V.M [89] nguy cơ RTĐ ở người có
tiền sử MLT là 1,48 %. Nghiên cứu mối liên quan giữa số lần MLT với RTĐ
Ananth C.V [28]thấy MLT lần 1 nguy cơ RTĐ tăng 4,5 lần; MLT 2 lần nguy
cơ tăng 7,4 lần. Một số tác giả gợi ý rằng tổn thương niêm mạc tử cung và cơ
tử cung do sẹo mổ tử cung có nguy cơ gây RTĐ trong lần có thai sau. Tuy
nhiên ngoài MLT cũn cú cỏc phẫu thuật khác ở tử cung cũng làm tổn thương
đến niêm mạc và cơ tử cung như búc tỏch nhõn xơ, cắt polyp buồng tử cung,
tạo hình tử cung trong trường hợp dị dạng tử cung, cắt góc tử cung trong
trường hợp chửa sừng tử cung.
Chẩn đoán RTĐ ngày nay không cũn khó đối với các bác sỹ sản khoa
song thái độ xử trí không phải khi nào cũng giống nhau vì tuỳ thuộc vào kinh
nghiệm của từng người thầy thuốc, vào tuổi thai, tình trạng mẹ và các dấu
hiệu lõm sàng
RTĐ gây nhiều biến chứng, tỷ lệ tử vong cho mẹ và con cao. Trước
đây RTĐ gây tỷ lệ tử vong cho mẹ tương đối cao, tỷ lệ này giảm từ 37,2%
2
năm 1934 còn 3,1% năm 1979 [36]. Gần đây nhờ việc chăm sóc và quản lý
thai nghén chặt chẽ, kỹ thuật hồi sức cấp cứu có nhiều tiến bộ nên tỷ lệ tử
vong cho mẹ và con giảm đáng kể. Tuy nhiên các biến chứng của RTĐ gây ra
Sự phát triển của rau thực hiện được nhờ những tế bào nuôi của gai rau
có áp lực thu hút dưỡng khí của máu, xâm nhập vào mạch máu của ngoại sản
mạc tử cung rau tạo thành các xoang. Máu đổ vào các xoang tạo nên các hồ
huyết ăn thông nhau nhưng đóng kín ở ngoài chu vi nhờ chỗ trung sản mạc và
ngoại sản mạc dính nhau tạo thành vũng kớn winckler.
Chiều dày của bánh rau có liên quan tới chức năng rau, tăng dần theo
tuổi thai. Thai 15 tuần cú bỏnh rau đo trên siêu âm dày 2,2 ± 0,3cm, thai 37
tuần cú bỏnh rau dày 3,45 ± 0,6cm, có trường hợp đạt tối đa là 4,5cm. Sau 37
tuần chiều dày của bánh rau không tăng lên mà có xu hướng hơi giảm, khi
thai đủ ngày tháng bánh rau nặng khoảng 500gr (1/6 trọng lượng thai) [7].
Bánh rau có hai mặt: mặt phía buồng ối thì nhẵn, được bao phủ bởi nội
sản mạc, mặt này có cuống rốn bám qua nội sản mạc thấy các cỏc nhánh động
mạch rốn và tĩnh mạch rốn. Mặt đối diện bám vào tử cung khi rau chưa bong.
Khi bánh rau xổ ra ngoài mặt này đỏ như thịt tươi và chia nhiều múi nhỏ
khoảng 15- 20 mỳi, cỏc mỳi cỏc nhau bởi các rãnh nhỏ.
RAU TIỀN ĐẠO
1.2.1. Định nghĩa
Bình thuờng rau bám ở đáy tử cung. Gọi là rau tiền đạo khi rau khụng
bỏm hoàn toàn vào đáy và thân tử cung mà một phần hay toàn bộ bánh rau
4
bám vào đoạn dưới tử cung. Do đó gây chảy máu và làm ngụi bỡnh chỉnh
không tốt sẽ gây đẻ khó.
1.2.2. Đặc điểm giải phẫu của rau tiền đạo
Bánh rau của RTĐ hình thể không tròn đều. Vì đảm bảo cung cấp năng
lượng cho thai nên diện bám của bánh rau rất rộng, chiều dày bánh rau mỏng
thường dưới 2 cm. Dựa vào sự bám bất thường của bánh rau vào cơ tử cung
nên người ta phõn ra các loại rau sau:
- Rau bám chặt (Placenta accrete) là gai nhau bám vào đến lớp niêm mạc
căn bản của nội mạc tử cung.
lớn. Vì đặc điểm này trong quá trình điều trị RTĐ khi thai đủ tháng ta phải
chẩn đoán siêu âm để xác định vị trí bánh rau từ đó có phương án xử trí thích
hợp hơn.
1.2.3. Tỷ lệ rau tiền đạo và RTĐ có vết mổ đẻ cũ
Tỷ lệ RTĐ đã ổn định trong gần 3 thập kỷ qua. Từ 1966 – 1974 tỷ lệ
RTĐ là 0,63 % và từ 1975 – 1984 tỷ lệ này là 0,37 % nhưng đến giai đoạn
1985 – 1995 các tác giả đều thấy RTĐ chiếm 0,5 % ở 3 tháng cuối [5,70,71,
86, 96]. Tỷ lệ RTĐ khác nhau tùy theo quần thể nghiên cứu, phương pháp
chẩn đoán, định nghĩa RTĐ. Netter F.H[75] nhận xét rằng RTĐ dường như
gặp nhiều hơn ở phụ nữ da trắng nhưng trong một nghiên cứu về RTĐ ở các
6
phụ nữ định cư ở Mỹ, Taylor VM và cộng sự[89] lại nhận thấy phụ nữ Châu
Á có nguy cơ RTĐ nhiều gấp 1,86 lần so với phụ nữ da trắng. Theo nghiên
cứu của Trần Ngọc Can [2] tỷ lệ này cao hơn chiếm 1,15 % tổng số đẻ và mổ
và theo báo cáo của Nguyễn Thị Phương Chi tỷ lệ RTĐ năm 2003 tại Bệnh
viện Phụ sản Trung ương là 1,8 % [3]. Còn theo nghiên cứu của Bùi Thị
Hồng Giang tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2004 là 1,44 % [8].
Bảng 1.1. Tỷ lệ RTĐ ở một số nước
Năm Tác giả Nước Tỷ lệ (%)
1959 – 1990 Ananth CV[28] Mỹ 0,28
1993 Chattopadhyay S.K[35] Saudi Arabia 0,54
1984 – 1993 To W.W[92] Hồng Công 0,83
1988 – 1995 Crane JM[47] Canada 0,33
1990 – 1996 Zaki ZM[103] Saudi Arabia 0,84
1995 – 1996 Zaideh SM[104] Jordan 0,35
1990 – 1998 Sheiner E[85] Israel 0,38
1997 – 2000 Eric I[52] Saudi Arabia 0,66
1992-2001 Tozovic L[94] Croatia 0,4
1997-2001 Ikechebelu JI[63] Nigenia 1,65
này không có khả năng đẻ đường dưới và rất nguy hiểm cho mẹ và con
vì chảy máu nhiều và con thường non tháng, chiểm tỷ lệ 25 % tổng số
các loại RTĐ có chảy máu [11]. Theo Trần Ngọc Can [2] tỷ lệ RTĐTT
và RTĐBTT là 56,3 % , các loại RTĐBT và RTĐBM chiếm tỷ lệ
43,7 % . Phân loại cổ điể n này chỉ áp dụng cho những thai phụ dã
chuyển dạ. Ngày nay áp dụng siêu âm để chẩn đoán RTĐ ở những thai
phụ chưa chuyển dạ cổ tử cung cũn đúng.
8
1.2.4.3. Phân loại theo hình ảnh siêu âm
Laura M.R [71] đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán như sau;
- RTĐ hoàn toàn: khi bánh rau che phủ hoàn toàn lỗ trong cổ tư cung
- Rau bám thấp: rỡa bánh rau cách lỗ rong cổ tử cung khoảng 2 cm.
Hình 1.2. Phõn loại RTĐ
Theo Trần Hỏn Chỳc: Dựa vào siêu âm hình ảnh để tiên lượng cuộc đẻ [6]:
- Nếu bánh rau lan qua lỗ trong cổ tử cung là RTĐTTHT nên chủ động
mổ lấy thai để tránh chảy máu
- Nếu đo từ mộp bỏnh rau đến lỗ trong CTC < 20 mm thì khó có khả
năng đẻ đường dưới, thường phải mổ lấy thai.
- Nếu đo từ mộp bỏnh rau đến lõ trong cổ tử cung > 20 mm thì có thể đẻ
đường dưới.
9
1.2.5. Cơ chế chảy máu của rau tiền đạo
1.2.5.1. Do hình thành đoạn dưới ở 3 tháng cuối
Trong 6 tháng đầu của thai kỳ, bánh rau phát triển cùng sự lớn lên của
tử cung nhưng trong 3 tháng cuối eo tử cung từ 0,5 cm dãn dần tới lúc chuyển
dạ hình thành đoạn dưới thật sự là 10 cm. Trong khi đó bánh rau khụng gión
được gây co kéo làm đứt mạch máu giữa tử cung và bánh rau gây chảy máu
1.2.5.2. Do những cơn co ở ba tháng cuối
gấp rưỡi, mổ hai lần thì nguy cơ RTĐ tăng gấp 3 lần so với nhóm không có
sẹo mổ cũ tử cung [19].
Theo Lê Thị Thanh Huyền mổ đẻ có nguy cơ RTĐ tăng gấp 1,62 lần so
với nhóm không có tiền sử sẹo mổ tử cung [15].
Theo Thomas J nguy cơ RTĐ ở người đã mổ đẻ là 1% [91]. Taylor
V.M và cộng sự [89] cho thấy nguy cơ RTĐ có liên quan với một hoặc nhiều
lần mổ lấy thai là 1,48%. Những người có từ 4 lần mổ lấy thai trở lên thì nguy
cơ RTĐ là 10% [86]. Laura M.R và Lavery P.J cho rằng tổn thương niêm mạc
tử cung do sẹo mổ tử cung làm bánh rau không phát triển được qua sẹo mổ
trong quá trình di chuyển là yếu tố bệnh sinh dẫn đến RTĐ [70,71]
Ở những bệnh nhân có sẹo mổ tử cung, nguy cơ rau bám chặt tăng.
Theo Nguyễn Thị Phương Chi, bị sẽo tử cung thì tỷ lệ rau cài răng lược cao
gấp 7,9 lần so với sản phụ không bị sẹo [3]. Theo Laura M.R tỷ lệ rau bám
chặt là 24% ở phụ nữ RTĐ có một lần mổ đẻ, 48 % nếu hai lần mổ đẻ và 7 %
ở phụ nữ bị RTĐ và có tiền sử mổ lấy thai [70]. Theo Thomas J, phụ nữ bị
RTĐ mà không có sẹo mổ tử cung thì tỷ lệ rau bám chặt là 4 %, còn nếu có
sẹo mổ lấy thai, tỷ lệ rau bám chặt sẽ là 16 đến 25 % [91].
11
1.3.2. Tiền sử nạo, hút, sẩy thai và RTĐ
Tiền sử nạo sẩy thai cũng được coi là một yếu tố liên quan với RTĐ.
Taylor V.M và cộng sự [90] thấy ở những phụ nữ có tiền sử sẩy thai hoặc nạo
thai một hay nhiều lần nguy cơ RTĐ gấp ,3 lần so với những người không có
tiền sử sẩy nạo.
Theo Zhang J và Savitz D.A [105] những người sẩy nạo một lần nguy cơ
RTĐ gấp 1,5 lần so với khong sẩy nạo. Nạo sẩy hai lần nguy cơ RTĐ lớn gấp
2,3 lần. Nạo sẩy trên 3 lần nguy cơ lớn gấp 3,6 lần.
Theo Nguyễn Hồng Phương, nạo hút thai từ 1 – 2 lần thì nguy cơ RTĐ
tăng 2,5 lần, nạo hút thai 3 lần nguy cơ RTĐ tăng gấp 6 lần, so với nhúm
khụng hỳt thai [20]
Một số tình trạng làm tăng bề mặt như đa thai, mẹ hút thuốc cũng làm
tăng nguy cơ RTĐ. Mối liên quan giữa RTĐ và mẹ hút thai là được nhiều tác
giả xác nhận. Chelmow D [36] đã báo cáo tỷ lệ RTĐ ở người mẹ hút thuốc lá
lớn gấp 5 lần mẹ không hút thuốc lá
Ngoài ra các yếu tố làm tổn thương nội mạc tử cung làm cho màng rụng
phát triển ngốo nàn đều có liên quan đến RTĐ. Các yếu tố này bao gồm: nạo
tử cung trong thời kỳ hậu sản, thủ thuật bóc rau nhân tạo, kiểm soát buồng tử
cung, viêm nội mạc tử cung, tiền sử sót rau, tiền sử RTĐ.
Theo Nguyễn Hồng Phương, nguy cơ tái phát RTĐ là 11,9 % tăng gấp
5 – 6 lần so với nhóm không có tiền sử RTĐ [20].
NGUY CƠ RTĐ Ở SẢN PHỤ Cể SẸO MỔ ĐẺ CŨ
1.4.1. Tỷ lệ
Tỷ lệ mổ lấy thai ở nước ta trong thập kỷ 60 – 70 chỉ khoảng 10 – 14 %
[4]. Đến những năm cuối thế kỷ XX thì tỷ lệ này càng cao. Tại Viện bảo vệ bà
mẹ và Trẻ sơ sinh (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung Ương) năm 1991 – 1992
13
tỷ lệ mổ lây thai lầ đầu là 21,3 % , tỷ lệ mổ lấy thai lại trên bệnh nhân có sẹo
mổ cũ là 84,9 % [18]; năm 1996 tỷ lệ mổ lấy thai là 30,5 %, tỷ lệ mổ lấy thai
lại là 88,8 % và năm 2000 tỷ lệ mổ lấy thai là 35,1 % [24]. Năm 2006, theo
báo cáo tổng kết điều trị và nghiên cứu khoa học của phòng kế hoạch tổng
hợp, tỷ lệ mổ lấy thai đã lên tới 40,9 %. Theo nghiên cứu của Phạm Thị
Phương Lan 2002 – 2005 thì tỷ lệ RTĐ có sẹo MLT là 18,15 % [17]
1.4.2. Đặc điểm sẹo tử cung mổ lấy thai
+ Đặc điểm giải phẫu học
Một số trường hợp có sự thay đổi như:
- Biến dạng buồn tử cung và CTC
- Tư thế tử cung thay đổi
- Di động tử cung hạn chế
- Mật độ tử cung cú vựng cú sẹo kém mềm mại vì nhiều tổ chức liên kết
hoặc không chảy mỏu phát hiện tình cờ RTĐ khi mổ đẻ. Còn Dola C.P cho
rằng bệnh nhân RTĐTT chảy máu trước tuổi thai 30 tuần, RTĐBM chảy máu
ở tuần thai 33 và RTĐBT chỷ máu ở 32,5 tuần [50].
Dấu hiệu quan trọng nữa trong chẩn đoán RTĐ là ngôi bất thường, như
trường hợp ngôi ngang, ngụi mụng, ngụi đầu cao lỏng. Theo Trần Ngọc Can
[2]. Tỷ lệ ngôi vai trong RTĐ là 8,2 %, ngôi mông là 13 % . Theo Cotton D
[44], 35 % các trường hợp là ngụi mụng hoặc ngôi ngang
Nghe tim thai thường ở vị trí cao, nhịp tim thai hường ở tần số bình
thường. Nhịp tim thai chỉ thay đổi khi RTĐ gây mất máu quá nhiều ảnh
hưởng đến tuần hoàn rau thai.
Thăm âm đạo bằng mỏ vịt khi chưa có chuyển dạ không có dấu hiệu đặc
biệt để chẩn đoán phân biệt với các bệnh nhân khỏc gõy chảy máu như tổn
thương cổ tử cung do Polyp cổ tử cung, viêm lộ tuyến cổ tử cung…
15
1.5.2. Cận lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng chỉ chắc chắn bằng thăm âm đạo trong chuyển dạ
nhưng thăm âm đạo có nguy cơ gây chảy mấu nhiều, vì vậy người ta áp dụng
các phương pháp cận lâm sàng để xác định RTĐ
Trước đây đó cú một số phương pháp cận lâm sàng được sử dụng để xác
định vị trí bánh rau như: chụp Xquang bằng tia mềm, chụp động mạch tử
cung, chụp bàng quang, chụp buồng ối, định vị bánh rau bằng đồng vị phóng
xạ, phương pháp nhiệt ký rau. Tuy nhiên những phương pháp này đều có hạn
chế nhất định
Siêu âm là một kỹ thuật mới có tính ưu việt hơn so với các kỹ thuật chẩn
đoán bằng hình ảnh khỏc. Xỏc định vị trớ bánh rau bằng siêu âm được Iran
Donald báo cáo lần đâu năm 1985, kể từ đó kỹ thuật này được áp dụng để
chẩn đoán RTĐ. Phương pháp này cho kết quả nhanh, chính xác, thực hiện dễ
dàng, tránh cho bệnh nhân khỏi bị tia xạ do chụp Xquang hoặc sử dụng chất
phóng xạ. Siêu âm đường bụng chẩn đoán chính xác 95 – 98 % các trường
+ Mất khoảng sáng sau bánh rau, bánh rau nhô vào bang quang
Hình 1.3. Hình ảnh siêu âm RCRL[38]
17
Theo một số tác giả[38,55,69] thì trong loại RCRL thì siêu âm doppler màu
cho nhiều dầu hiệu có giá trị chẩn đoán, những hình ảnh có thể tìm thấy là
+ Dòng máu chảy bất thường vào nơi lỗ khuyết
+ Có nhiều mạch máu tập trung ở thành bang quang và thanh mạc tử
cung
+ Tập trung nhiều mạch máu nhô lên ở dưới bánh rau
+ Dòng máu chảy hỗn loạn ở nơi lỗ khuyết
Hình 1.4. Hình ảnh siêu âm doppler màu RCRL[38]
Hình ảnh công hưởng từ cũng đạt tỷ lệ chẩn đoán cao và khắc phục được
nhược điểm của siêu âm kể cả khi bánh rau bám mặt sau. Hình ảnh cộng
hưởng từ cú thờ nhỡn rừ cỏc phần mềm của người mẹ, kể cả cổ tử cung và rau
do đó dễ xác định khoảng cách từ mép dưới bánh rau đến lỗ trong cổ tử cung
[80]. Tuy nhiên kỹ thuật này đắt tiền và không phải luôn sẵn có.
18
Hình 1.5. Hình ảnh MRI rau tiền đạo [80]
α Fetoprotein: có mối liên quan giữa nhau cài răng lược với sự tăng α
Fetoprotein trong máu mẹ. α Fetoprotein có thể tăng trong giai đoạn sớm của
thai kỳ. Một loạt các báo cáo và nghiên cưu ca bệnh đưa ra sự tăng nồng độ α
Fetoprotein trong RCRL nhưng không giải thích được tại sao[67]
Việc xét nghiệm nồng độ α Fetoprotein cùng với siêu âm để giúp cho
chẩn đoán RCRL được chính xác hơn, tuy nhiên khi nồng độ α Fetoprotein
bình thường không thể loại trừ được RCRL.
1.6. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ
kích thich sự trưởng thành của phổi có tác dụng tốt, làm giảm hội chứng
suy hô hấp và giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh nếu có nguy cơ phải can thiệp
ngừng thai nghén sớm.
- Kháng sinh với mục đích chống nhiễm trùng thường sử dụng nhóm ò –
lactam.
20
- Các thuốc cầm máu nếu chảy nhiều, các thuốc tăng tuần hoàn rau thai,
viên sắt …nếu thiếu máu nặng có thể bồi phụ khối lượng tuần hoàn
bằng các chế phẩm máu hoặc dung dịch cao phân tử…
- Khi điều trị thiếu máu có kết quả thì có thể giữ thai đến đủ tháng. Sau
đó đánh giá trọng lượng thai, tuổi thai, xác định loại RTĐ để có biện
pháp xử lý tiếp theo phù hợp
+ Đối với RTĐBT, RTĐBM: có thể chờ chuyển dạ tự nhiên
+ Đối với RTĐBTT, RTĐTTHT: chủ động mổ lấy thai để cầm máu
cứu mẹ là chính, không kể tuổi thai
+ Khi điều trị chảy máu không kết quả chủ động mổ lấy thai để cầm
máu cho mẹ là chính không kể tuổi thai.
1.6.2. Khi chuyển dạ
Nguyên tắc xử trí trong RTĐ là cầm máu để cứu mẹ là chính, nếu cứu
được con thì càng tốt vì thai của RTĐ thường non tháng và mất máu nên khó
sống. Nếu chần chừ vì con non tháng để mẹ chảy máu nhiều có thể dẫn đến
chết cả mẹ và con.
1.6.2.1. Bấm ối đẻ đường dưới
- Khi RTĐBT, RTĐBM: bấm ối sau đó xé rộng màng ối song song với
mộp bỏnh rau nhằm làm tổn thương bánh rau. Mục đích của việc này nhằm
giúp cho ngôi thai xuống thấp hơn sẽ tỳ vào bánh rau, đồng thời làm mất sự
co kéo của màng rau đối với bánh rau nên có thể cõm mỏu được.
Nếu cầm được máu: theo dõi đẻ đường dưới
Nếu không cầm được máu: chỉ định mổ lấy thai
1,4 đơn vị mỏu/ người và giai đoạn 1993 – 1994 là 25,5 %, trung bình 1,6 đơn
vị mỏu / người [13]
22
1.6.2.5. Kỹ thuật mổ lấy thai
Ở Việt Nam từ năm 1960 đến nay mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai
là phổ biến và kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện. Qua nghiên cứu của một
số tác giả thì hầu hết RTĐ đều được mổ ngang đoạn dưới tử cung, trừ một số
có chỉ định cắt tử cung mới mổ thõn tử cung. Mổ ngang đoạn dưới tử cung
không ảnh hưởng xấu đến những lần đẻ sau, vết sẹo mổ sẽ tốt hơn là mổ thõn,
có phần ít biến chứng hơn là mổ dọc đoạn dưới. Khi rạch ngang đoạn dưới
vào tử cung tránh rạch vào bánh rau vì rạch vào bánh rau gõy chảy mỏu rất dữ
dội có thể chết mẹ và con và rất khó lấy thai. Sau khi rạch xong đoạn dưới tử
cung đưa bàn tay vào trong luồn tay về phớa dưới lách qua rau để lấy thai
được an toàn hơn. Tuy nhiên, nếu rau bám mặt trước rạch ngang thường qua
rau gõy chảy mỏu nhiều có thể rách thêm đến động mạch tử cung rất nguy
hiểm. Do đó, đường rạch dọc an toàn hơn. Scott J.A[84] cũng cho thấy vị trí
của rau, ngôi thai và dấu hiệu của siêu õm sẽ giúp bác sỹ quyết định đường
mổ vào đoạn dưới tử cung. Nếu rau nằm mặt sau đoạn dưới và ngôi đầu
đường rạch ngang hay dọc đoạn dưới đều được vì nó không đụng chạm đến
rau và cho phép lấy thai dễ dàng. Nhưng nếu rau bám mặt trước và thai nằm
ngang nên chọn đường rạch dọc.
1.6.2.6. Kỹ thuật cầm máu
Vì các gai rau thường ăn sõu vào lớp cơ nên khi lấy bánh rau ra khỏi
niêm mạc tử cung thường dễ gõy chảy máu. Do đó muốn cầm mỏu người ta
thường dùng mũi khõu chữ X chỗ chảy mỏu ở dưới chỗ rau bám, thường phối
hợp với đắp huyết thanh nóng. Nếu cũn chảy mỏu phẫu thuật viên thắt hai
động mạch tử cung. Trong trường hợp vẫn tiếp tục chảy máu thì buộc phải cắt
tử cung bán phần thấp để cứu mẹ [13]
33,33% và tỷ lệ thành công là 91 %. Tuy nhiên đõy cũng là một kỹ
thuật đòi hỏi người phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm. Tai biến của
thắt ĐMTC là thắt vào niệu quản (0,43%), chảy mỏu sau mổ phải mổ lại
cắt tử cung (0,515%), chảy mỏu sau mổ phải mổ lại thắt ĐMHV
(0,515%), viêm niêm mạc tử cung (2,06%).
- Thắt ĐMHV: Vào năm 1960 lần đầu tiên kỹ thuật thắt ĐMHV sử dụng
trong sản khoa để điều trị chảy mỏu sau đẻ. Thắt ĐMHV là một biện
pháp cầm mỏu trong trường hợp chảy mỏu nặng. Kỹ thuật thắt ĐMHV
khó do ĐMHV ở sõu, liên quqan giải phẫu phức tạp, yêu cầu kỹ thuật
viên phải rất có kinh nghiệm[41]. Chattopadhyay S.K[35] và cộng sự
nghiên cứu 64 bệnh nhõn chảy mỏu nặng, đã tiến hành thắt ĐMHV cho
29 bệnh nhõn(45%), kết quả 65 % đạt kết quả tốt cầm được mỏu, số cũn
lại phải cắt tử cung. Tai biến nguy hiểm của thắt ĐMHV là rách tĩnh
mạch chậu dễ dẫn đến tử vong.
1.6.2.8. Cắt tử cung.
Cắt tử cung là biến chứng nặng nề của RTĐ, tỷ lệ cắt tử cung ở các sản
phụ bị RTĐ, theo Ikechebelu JI [63] là 2,3 %, theo Eric I A [52] là 6,39 %.
Nguyên nhõn cắt tử cung thường do không cầm được mỏu trong mổ, MLT cũ
hoặc RCRL. Theo Chattopadhyay S.K[35] cắt tử cung của RTĐ mà nguyên
nhõn do sẹo MLT là 10 %, do RCRL là 66%. Theo Nguyễn Đức Vy [25] tỷ lệ
cắt tử cung do RTĐ là 32,1 % một số tác giả khác cũng đưa ra kết quả tương
tự [22]. Theo Trần Chõn Hà [9] tỷ lệ cắt tử cung để cầm mỏu do RTĐ là
94,4%, tương đương với số liệu của Hứa Thanh Sơn [21] là 19,67 %. Theo
Phan Thị Ánh Tuyết [22] 75 % trường hợp đã được điều trị bằng các biện
pháp cầm mỏu như khõu mũi chữ X, đắp gạc tẩm huyết thanh ẩm, thắt động
25
mạch tử cung, thắt động mạch hạ vị không kết quả và 91,7 % được cầm mỏu
bằng cắt tử cung bán phần. nghiên cứu trên các sản phụ RTĐ được mổ lấy
thai, Nguyễn Đức Hinh thấy tỷ lệ cắt tử cung năm 1989 – 1990 là 17,14% và