ĐẶT VẤN ĐỀ
Polyp buồng tử cung được hình thành do sự tăng sinh khu trú của nội
mạc tử cung dưới tác dụng của estrogen, thường gặp trong trường hợp rối
loạn phóng noãn, không phóng noãn, suy hoàng thể, cường estrogen. Polyp có
thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi:
- Trước mãn kinh: 60%
- Tuổi mãn kinh: 18%
- Sau mãn kinh: 22%
Nhưng tỷ lệ cao nhất nằm giữa 40 và 50 tuổi, tỷ lệ tăng dần trước tuổi
50 và hạ dần sau 50 tuổi. Đối với trường hợp đã mãn kinh, polyp buồng tử
cung có thể đi kèm với ung thư nội mạc tử cung trong khoảng 10-15% trường
hợp. Ngoài ra còn thấy khoảng 15% polyp cổ tử cung có kết hợp với polyp
buồng tử cung[4], [7]. Polyp buồng tử cung được tìm thấy trong khoảng 50%
những trường hợp ra máu bất thường buồng tử cung [8]. Có khoảng 6% đến
10% số trường hợp hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng [1], [7], [8].
Polyp buồng tử cung thường gây ra: vô sinh, sẩy thai liên tiếp, thiếu máu(do
ra máu bất thường kéo dài).
Việc phát hiện, chẩn đoán sớm polyp buồng tử cung giúp thầy thuốc lâm
sàng ra quyết định điều trị kịp thời, tích cực nhằm hạn chế tối đa biến chứng,
đảm bảo chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Chẩn đoán polyp buồng tử cung ngoài những triệu chứng lâm sàng thì
hiện nay đã có một số phương pháp hỗ trợ có tính quyết định như: siêu âm
thành bụng, siêu âm đầu dò âm đạo,siêu âm có bơm nước buồng tử cung,
chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang và nội soi buồng tử
cung. Siêu âm thường tuy đơn giản, không độc hại, nhưng độ nhạy, độ đặc
1
hiệu không cao. Chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang có
thể phát hiện được polyp buồng tử cung, nhưng hay có âm tính giả, ngoài ra
còn gây đau, độc hại cho bệnh nhân và thầy thuốc. Nội soi buồng tử cung mặc
dù quan sát được chính xác polyp buồng tử cung nhưng bệnh nhân phải chịu
một cuộc gây mê và tốn kém tiền bạc. Gần đây việc kết hợp giữa siêu âm với
2. Nghiên cứu cách xử trí polyp buồng tử cung.3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.GIẢI PHẪU TỬ CUNG
Tử cung nằm trong chậu hông, phía sau bàng quang, trước trực tràng,
dưới các quai ruột non và đại tràng sigma, nối tiếp âm đạo [1], [2], (hình 1.1).
Tử cung hình nón cụt hơi dẹt trước sau mà đỉnh quay xuống dưới có
thân hình thang kích thước trung bình 4 x 4,5cm, cổ tử cung có kích thước
trung bình 2,5 x 2,5cm và phần thắt lại ở giữa thân và cổ gọi là eo dài trung
bình 0,5cm [2].
Lòng tử cung là một khoang dẹt theo chiều trước sau và thắt lại ở chỗ
eo tử cung chia thành hai buồng: buồng nhỏ ở dưới nằm trong cổ tử cung gọi
là ống cổ tử cung (CTC) và buồng to gọi là buồng tử cung (BTC) có hình tam
giác mà ba cạnh lồi về phía hình tam giác. Hai thành trước và sau của buồng
tử cung áp sát vào nhau. Chiều sâu trung bình từ lỗ CTC tới đáy BTC khoảng
7cm [2].
Tử cung được cáu tạo từ ngoài vào trong gồm: (hình 1.2)
- Lớp thanh mạc hay lớp ngoài tử cung, lớp này còn gọi lớp phúc mạC
- Lớp cơ khác nhau ở phần thân và phần cổ TC. Ở phần thân tử cung
có ba lớp cơ: lớp ngoài gồm các thớ cơ dọc, lớp giữa gồm các thớ cơ đan chéo
nhau quấn lấy các mạch máu, lớp trong cùng chủ yếu gồm các thớ cơ vòng. Ở
phần cổ tử cung cơ mỏng hơn nhiều và không có lớp cơ rối chỉ có một lớp cơ
vòng kẹp giữa hai lớp cơ dọc.
- Lớp niêm mạc là lớp trong cùng, mỏng mảnh và dính vào lớp cơ.
Niêm mạc dày mỏng theo chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng và khi bong ra thì
gây hiện tượng kinh nguyệt
Tử cung nhận máu từ động mạch tử cung là nhánh của động mạch hạ vị
triển mạnh, tuyến to ngoằn nghèo chế tiết rất nhiều, mạch máu xoắn phát
triển, tổ chức đệm chứa lớp dịch như phù lên làm cho nội mạc tử cung dầy.
Hình ảnh siêu âm trong giai đoạn này có đặc điểm [3]:
- Âm vang cơ tử cung thưa, tử cung to hơn bình thường.
- Niêm mạc tử cung phát triển dầy từ 8-10mm có khi lên đến 16mm
- Hình ảnh thưa âm vang ở tổ chức đệm phù nề (chứa dịch) làm cho
âm vang nội mạc tử cung càng rõ hơn.
1.2.1.4. Giai đoạn hành kinh
Ở giai đoạn này sự thay đổi đầu tiên là hiện tượng thoái hóa niêm mạc
tử cung ở lớp trên và có sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân, clasmatocyte và
tế bào máu khác như một quá trình viêm tiến triển và lớp tế bào biểu mô bề
mặt nội mạc tử cung bong rụng ra, các mạch máu xung huyết to lên chảy máu
và có thể tạo ra những vùng máu tụ dưới lớp nông của nội mạc. Vào ngày thứ
ba lớp nông của nội mạc tử cung rụng hết, tổ chức xốp dưới niêm mạc thay
đổi, mỏng dần, các lớp biểu mô của tuyến còn sót lại bắt đầu hồi phục phát
triển ngay cả trong quá trình bong [3].
Sự thay đổi cấu trúc ở giai đoạn này tạo nên những hình ảnh siêu âm
có đặc điểm:
- Tử cung có âm vang thưa như giai doạn trước hành kinh
- Buồng tử cung rộng có những vùng không có âm vang của máu, xen
lẫn với vùng đậm âm vang của tổ chức biểu mô bong ra.
-Vùng không âm vang có thể đồng nhất, bờ đều , choán cả buồng tử
cung. Vào ngày thứ tư, khi lớp nông của nội mạc tử cung đã bong hết, còn
máu ứ lai trong buồng tử cung
6
1.2.2. Ở tuổi mãn kinh
Nội mạc tử cung của phụ nữ ở tuổi mãn kinh rất mỏng luôn dưới 4mm
[3], [9], [10].
1.3. POLYP BUỒNG TỬ CUNG
1.3.1. Đại cương
lồi vào buồng tử cung, nó gồm ít hoặc nhiều các tuyến, tổ chức đệm và các
mạch máu được che phủ bởi lớp tế bào biểu mô [9], [15].
Polyp niêm mạc tử cung là hậu quả của quá sản khu trú ở lớp nội mạc
tử cung, sự phát triển tập trung của các tuyến và tổ chức đệm xung quanh
động mạch xoắn có thành dầy, tạo nên cấu trúc của một khối lồi vào buồng tử
cung có cuống. Nó có thể làm giãn buồng tử cung và đôi khi chui qua ống cổ
tử cung xuống âm đạo [11], [14].
Polyp niêm mạc tử cung là kết quả của rối loạn hormon (rối loạn rụng
trứng, cường estrogen, suy hoàng thể). Sự mất cân bằng này là nguồn gốc của
nhiều hiện tượng khác nhau:
+ Sự thoái triển các động mạch xoắn của niêm mạc theo chu kỳ.
+ Mất thụ thể nhạy cảm (receptor) với progesteron và tồn tại kéo dài
thụ thể nhạy cảm với estrogen.
Tần suất gặp polyp niêm mạc tử cung vào khoảng 6% trong tổng số
những bệnh nhân có nạo sinh thiết và phẫu thuật cắt tử cung, tuổi có thể gặp
từ 12 đến 81 tuổi nhưng hay gặp từ 30 đến 50 tuổi.
Polyp niêm mạc tử cung có tỷ lệ biến đổi thành ác tính chiếm từ 0,5%
đến 1,5% [11], [14], [16].
8
+ Lâm sàng: Bệnh nhân có thể có các triệu chứng: ra khí hư, đa kinh
và ra máu giữa chu kỳ kinh, nhưng nó cũng có thể yên lặng không có triệu
chứng. Chúng thường được phát hiện khi chụp buồng tử cung vòi trứng, soi
buồng tử cung, siêu âm hoặc đi khám phụ khoa khối u thò ra ở cổ tử cung
hoặc nằm trong âm đạo.
+ Kích thước polyp có thể từ 0,5cm đến 12cm trung bình từ 2cm đến
3cm, thường đơn độc một polyp và cũng có thể có nhiều polyp.
+ Polyp có thể có cuống hoặc không cuống (khi chân bám rộng), vị trí
bám gặp ở tất cả các cị trí niêm mạc buồng tử cung kể cả eo tử cung.
+ Mật độ polyp thường mềm nhưng cũng có một số chắc như u xơ.
+ Polyp niêm mạc tử cung có thể đơn độc hoặc kết hợp với một số
+ Ra máu giữa chu kỳ kinh
+ Ra máu âm đạo sau thời kỳ mãn kinh
Khám bằng mỏ vịt có thể thấy polyp nằm trong âm đạo hoặc thập thò
lỗ ngoài cổ tử cung,kích thước tử cung có thể to hơn bình thường.
1.3.6. Cận lâm sàng
1.3.6.1. Chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang (HSG)
Trên phim chụp có thể thấy hình ảnh khuyết thuốc của polyp, nhưng
khó xác định được vị trí của chân polyp, những polyp nhỏ có tỷ lệ âm tính giả
rất cao.
1.3.6.2.Nội soi buồng tử cung
Nội soi buồng chẩn đoán chính xác được polyp, vị trí chân polyp và
kết hợp phẫu thuật cắt polyp, đây là phương pháp rất có giá trị hiện nay.
10
1.3.6.3. Siêu âm
Với những polyp BTC nhỏ khó có thể nhìn thấy trên siêu âm, những
polyp có kích thước to có thể phát hiện được trên siêu âm, nhưng khó xác
định được vị trí chân polyp.
1.3.6.4.Siêu âm có bơm nước buồng tử cung
Có thể phát hiện được những polyp có kích thước rất nhỏ từ vài
milimet và còn có thể xác định được chính xác kích thước, vị trí của chân
polyp, polyp có hình ảnh tăng âm được bao bọc xung quanh là vùng trống âm
của nước.
1.4. Các phương pháp chẩn đoán polyp buồng tử cung
1.4.1. Siêu âm
Siêu âm là sóng âm có tần số rất cao trên 1600 hetz (Hz) mà thính giác
con người không thể nghe thấy được. Sóng âm chỉ truyền được trong môi
11
trường vật chất và gây ra những biến đổi cơ học có tác dụng như một lực làm
chuyển động các phân tử của môi trường đó [3].
rõ, kiểm tra polyp đã được cắt bỏ toàn bộ [1].
Chỉ định và chống chỉ định của soi buồng tử cung:
• Chỉ định:
Theo các tác giả trong y văn nước ngoài, các chỉ định soi buồng tử
cung chẩn đoán gồm có:
+ Để tìm hiểu nguyên nhân chảy máu bất thường của tử cung.
+ Chẩn đoán dị dạng tử cung, dính buồng tử cung ở những phụ nữ vô sinh.
+ Nghi ngờ u xơ tử cung, polyp buồng tử cung.
+ Soi buồng tử cung khi làm thụ tinh trong ống nghiệm thất bại nhiều
lần.
- Soi buồng tử cung kèm theo phẫu thuật nội soi gồm có:
+ U xơ tử cung dưới nội mạc gây rong kinh, rong huyết hoặc gây vô
sinh, u nằm hoàn toàn trong buồng tử cung hoặc đường kính lớn nhất của u
nằm trong buồng tử cung, đường kính nhân xơ < 4 cm.
+ Polyp xơ: thường gây rong kinh, đốt và cắt bằng vòng điện.
+ Qúa sản nội mạc tử cung: cắt bỏ nội mạc tử cung.
1.5.2. Nạo có hướng dẫn và kiểm tra bằng soi buồng tử cung
+ Nong cổ tử cung
+ Bơm chất trung gian làm phồng buồng tử cung
+ Soi xác định vị trí, kích thước polyp
+ Đưa thìa nạo theo hướng thích hợp tới polyp
+ Lấy ra tất cả các tổn thương
13
+ Soi kiểm tra xem polyp đã được lấy hết chưa
+ Nếu chưa lấy hết sẽ được làm lại, có khi nhiều lần tới lúc đạt
kết quả tốt.
1.5.3. Cắt bỏ dưới sự nhìn kiểm tra:
+ Cuống polyp nếu nhìn rõ và chạm được thì cắt bằng kéo, tổn
thương sẽ được cặp bằng pince và kéo ra khi rút ống.
+ Cuống to hoặc không chạm được thì polyp sẽ được cắt bởi
chẩn đoán và xử trí polyp buồng tử cung, có đủ tiêu chuẩn lựa chọn và không
có tiêu chuẩn loại trừ được thể hiện trong bệnh án lưu tại Phòng Kế hoạch
tổng hợp Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
15
2.2.3. Các bước tiến hành
2.2.3.1. Kỹ thuật thu thập số liệu
Xây dựng mẫu phiếu thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu nghiên
cứu đề ra.
Số liệu được thu thập từ những bệnh án đủ tiêu chuẩn chọn vào nghiên
cứu và các sổ sách lưu trữ tại phòng kế hoạch tổng hợp của Bệnh viện Phụ
Sản Trung ương.
2.2.3.2. Biến số và chỉ số nghiên cứu
* Những đặc điểm chung của người bệnh
- Tuổi người bệnh: tính theo năm dương lịch
- tiến sử sản khoa: sẩy thai, vô sinh
- Tiền sử phụ khoa: rong máu, viêm phần phụ, điều trị nội khoa
trước, nạo buồng tử cung cầm máu
- Tiền sử phẫu thuật ổ bụng: đường bụng hoặc nội soi, vùng trên hay
dưới rốn, mổ đẻ, mổ vùng tiểu khung khác, phẫu thuật nội soi buồng tử cung
- Tiền sử bệnh nội khoa: thiếu máu (do ra máu bất thường kéo dài),
các bệnh liên quan đến gây mê: hen, tăng huyết áp, suy tim, rối loạn nhịp tim,
bệnh van tim, tim bẩm sinh
- lý do vào viện: rong máu, mong con, sẩy thai liên tiếp, khác
* Các chỉ tiêu khám lâm sàng do bác sĩ khám đánh giá theo các tiêu
chuẩn lâm sàng
- Âm đạo viêm, không viêm
- Tổn thương cổ tử cung: có hay không có viêm, lộ tuyến, polyp CTC,
tổn thương khác (u xơ cổ tử cung, nang cổ tử cung )
- Kích thước tử cung qua thăm khám tính theo kích thước tử cung
thăm khám khi có thai: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, >= 3 tháng
cứu và cơ quan chủ quản là Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và Bộ môn Phụ
sản Trường Đại học Y Hà Nội
Đây là một nghiên cứu hồi cứu mô tả, chúng tôi sử dụng số liệu trên hồ
sơ bệnh án và số liệu lưu trữ, không trực tiếp can thiệp vào người bệnh. Vì
vậy không ảnh hưởng đến khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu. Tất cả các
thông tin liên quan đến người bệnh đều được mã hóa giữ bí mật.
18
CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KẾT QỦA
Từ các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các phương pháp chẩn đoán,
điều trị polyp buồng tử cung chúng tôi dự kiến kết quả theo các bảng sau:
3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Tuổi
Bảng 3.1 Phân bố tuổi liên quan đến bệnh polyp BTC
Tuổi Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
< 20
20 – 24
25 – 29
30 – 34
35 – 39
40 – 44
45 – 49
> 49
Tổng
Nhận xét:
3.1.2. Nghề nghiệp
Biểu đồ 3.1 Phân loại nghề nghiệp
- Nội trợ và buôn bán
- Nông dân
- Cán bộ công nhân viên
Lý do vào viện Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Đau bụng khi hành kinh
Ra máu âm đạo bất thường
Khám vô sinh nghi ngờ polyp BTC
Khám phụ khoa nghi ngờ polyp BTC
Nhận xét:
Sẩy thai liên tiếp
Tổng số
21
3.2.4. Triệu chứng lâm sàng
Bảng 3.6 Triệu chứng lâm sàng của polyp BTC
Triệu chứng lâm sàng
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ (%)
Có
– Rong huyết nhẹ giữa vòng kinh
- Đau bụng khi hành kinh
- Các kỳ hành kinh nhiều hơn bình thường
Không có
Tổng
Nhận xét:
3.2.5. Triệu chứng cận lâm sàng
3.2.5.1. Độ dầy niêm mạc tử cung
%
70
0
21 – 25
26 – 30
> 30
Tổng
Nhận xét:
3.3. PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN POLYD BUỒNG
TỬ CUNG
Bảng 3.9 Phân loại phương pháp chẩn đoán polyp BTC
Phương pháp Số bệnh nhân Tỷ lệ(%)
Lâm sàng
siêu âm thường
Siêu âm bơm nước BTC
Chụp X - quang
Nội soi BTC
Tổng
3.4. Phân loại phương pháp xử trí polyp BTC
Bảng 3.10 Phân loại phương pháp xử trí polyp BTC
Phương pháp Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Soi buồng xử trí
Cắt tử cung
Tổng
3.5. Phân loại phương pháp xử trí liên quan đến tuổi
Bảng 3.11 Phân loại phương pháp xử trí liên quan đến độ tuổi của polyp BTC
Phương pháp Tuổi
<=45 >45
24
n % n %
Soi buồng để cắt polyp