nghiên cứu chẩn đoán và xử trí vết thương thấu bụng tại bệnh viện việt đức năm 2010-2012 - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương thấu bụng (VTTB) được định nghĩa là những vết thương
gây thủng phúc mạc làm cho ổ bụng thông thương với môi trường bên ngoài
[19]. Loại thương tích này khá phổ biến trong thời chiến cũng như trong thời
bình. Ngày nay cùng với sự gia tăng của tình trạng bạo lực, tai nạn giao
thông, tai nạn lao động thì số bệnh nhân bị vết thương thấu bụng còn khá
nhiều, với những thương tổn đa dạng, nặng và phức tạp.
Để chẩn đoán vết thương thấu bụng ngoài việc thăm khám phát hiện các
dấu hiệu thành bụng và các biện pháp thăm dò bổ sung khác như siêu âm, CT,
chọc rửa ổ bụng [12] [14] [2] [34] [58], đặc biệt là nội soi ổ bụng [51] thì việc
thăm dò tại chỗ vết thương là động tác quyết định chẩn đoán vết thương có thấu
bụng hay không. Tuy nhiên trong một số trường hợp như vết thương ngực bụng,
vết thương vùng chậu hông hay vùng lưng thì việc thăm dò này rất ít giá trị hoặc
không thực hiện được, do đó việc chẩn đoán vết thương thấu bụng nhiều khi còn
gặp khó khăn dẫn đến xử trí chậm hoặc bỏ sót tổn thương.
Việc định hướng trước các tổn thương do vết thương thấu bụng gây ra
để có thái độ sử trí đúng đòi hỏi phải thăm khám bệnh tỉ mỷ, nghiên cứu kỹ
hoàn cảnh tác nhân gây bệnh, suy luận kết hợp với các kỹ thuật cận lâm
sàng(CLS) thích hợp. Các tổn thương do vết thương thấu bụng rất đa dạng,
có khi nhẹ chỉ thủng phúc mạc đơn thuần hay rách thanh mạc ruột, rách mạc
treo , nhưng trong một số trường hợp lại rất nặng và phức tạp làm cho việc
xử trí gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ tử vong và biến chứng cao [3].
Phẫu thuật nội soi (PTNS) là một tiến bộ của y học, là thành tựu của
khoa học kỹ thuật hiện đại. Với đường vào xâm hại tối thiểu, qua những lỗ
nhỏ đặt trocart người ta đặt camera, các dụng cụ phẫu thuật để có thể quan
sát rõ các tạng và thực hiện các phẫu thuật. Nó mang lại nhiều lợi ích cho
BN và xã hội: ít đau hơn, sớm ra viện, sớm trở lại cuộc sống bình thường,
sẹo mổ nhỏ, đẹp, ít biến chứng xa … Chính vì vậy, tuy mới ra đời trong
vài thập niên gần đây nhưng PTNS đã phát triển rất nhanh chóng cả về
chiều sâu và chiều rộng. Người ta sử dụng PTNS cả trong phúc mạc và
1

TỔNG QUAN
1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẾT THƯƠNG BỤNG TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Trên thế giới:
Lịch sử phát triển của loài người đã trải qua rất nhiều cuộc đấu tranh
sinh tồn, nhiều cuộc chiến tranh, nhiều tai nạn và thương tích đã xảy ra và
chắc chắn đã có rất nhiều bệnh nhân vết thương thấu bụng. Mặc dù vậy, cho
đến tận thế kỷ thứ IX những VTTB này đều không được điều trị vì sự hiểu
biết của y học còn quá ít, không ai dám mở bụng vì tử vong là chắc chắn.
Năm 1675 Matthaeus Gottfried Purman thực hiện khâu vỡ ruột non do
đạn bắn. Trong cuộc nội chiến Mỹ (1861- 1865) can thiệp phẫu thuật đối với
VTTB chỉ dừng ở khâu ruột non trên những nạn nhân có lòi tạng [36].
Năm 1917 Wallace đã ghi nhận tỉ lệ tử vong 55% đối với việc mở bụng cấp
cứu điều trị 12.000 bệnh nhân bị vết thương bụng do hoả khí (Theo Harris) [49].
Năm 1977, Thal [70] đã áp dụng lần đầu tiên phương pháp chọc rửa ổ
bụng để chẩn đoán những trường hợp vết thương bụng.
Năm 1978, Hardaway [48] đã thống kê 17.726 thương binh trong chiến
tranh chống Mỹ tại Việt Nam và cho thấy tỷ lệ vết thương bụng chiếm 13,84%.
Năm 1980, Meo G., Aghemo B., Bionini A. [60] đã nghiên cứu 37
trường hợp vết thương thấu bụng và cho thấy số tạng tổn thương gặp nhiều
nhất là gan, rồi đến ruột non và mạc treo ruột non, sau đó đến đại tràng và
mạc treo đại tràng.
Năm 1983, Oreskovich [64] đã nghiên cứu 236 bệnh nhân vết thương
bụng có sử dụng phương pháp chọc rửa ổ bụng để chẩn đoán và nhận thấy
chọc rửa ổ bụng giúp làm giảm 10% tỉ lệ mở bụng không cần thiết, đồng thời
tránh bỏ sót tổn thương trong ổ bụng. Trên cơ sở đó xây dựng phác đồ chẩn
3
đoán vết thương bụng với sự phối hợp giữa thăm dò vết thương và chọc rửa ổ
bụng. Phác đồ như sau:
Năm 1984, Thal [70] nghiên cứu 713 trường hợp vết thương bụng và áp

227/510 bệnh nhân nhờ, 26 trường hợp được xử trí tổn thương tạng bằng nội
soi ổ bụng. Tác giả cho rằng nội soi ổ bụng có vai trò quan trọng trong chẩn
đoán và điều trị VTTB.
Năm 1998, Taviloglu K. và cộng sự [69] đã nghiên cứu hồi cứu 387
bệnh nhân vết thương bụng do vật nhọn có sử dụng phương pháp thăm dò tại
chỗ vết thương và chọc rửa ổ bụng. Kết quả cho thấy biến chứng gặp 24
trường hợp, tử vong 5 trường hợp. Tác giả cho rằng chỉ định phẫu thuật có
lựa chọn làm giảm tỷ lệ mở bụng trắng và mở bụng không cần thiết.
Năm 2001, Chiu WC và cộng sự [34] đã nghiên cứu 75 trường hợp được
áp dụng phương pháp chụp CT để chẩn đoán trong vết thương bụng. Tác
giả cho thấy CT hoàn toàn quyết định được cần phải mở bụng hay không ở
71/75 bệnh nhân.
1.1.2. Tại Việt Nam:
Năm 1968, tại Miền Nam - Việt Nam Jones [53], do không có điều kiện
theo dõi lâu nên đã mổ thăm dò tất cả mọi vết thương nghi thấu bụng (Tại
Bệnh viện ngoại khoa dã chiến của Quân đội Mỹ ở Miền Nam - Việt Nam)
và cho thấy tỉ lệ mở bụng trắng lên đến 20,8%.
Năm 1948, Đào Đức Hoành thống kê 216 trường hợp vết thương bụng,
thấy tỉ lệ tử vong là 46,7% [3].
5
Năm 1966, theo Nguyễn Dương Quang [3], tỉ lệ tử vong trong đại chiến
thế giới thứ nhất của vết thương bụng có tổn thương gan là 66% và giảm
xuống 27% trong đại chiến thế giới thứ 2, tuy nhiên sự phát minh ra kháng
sinh của Fleming (1942) cũng góp phần quan trọng làm hạ thấp tỷ lệ tử vong
này. Tác giả cho rằng nguyên tắc điều trị chung của vết thương thấu bụng là
mổ thăm dò sớm.
Năm 1973 Nguyễn Đức Ninh- Nguyễn Đức Tiến [17], đã nghiên cứu vết
thương bụng do chiến tranh tại Bệnh viện Việt Đức và cho thấy: Ruột non,
gan, đại tràng, dạ dày, lách theo thứ tự là những tạng hay bị tổn thương nhất;
Các lỗ thủng nhỏ ở tạng rỗng là những tổn thương dễ bị bỏ sót khi mổ bụng;

bụng trong chẩn đoán vết thương thấu bụng, tác giả cho rằng đây là một
phương pháp chẩn đoán rất hiệu quả với độ chính xác cao 100%.
7
- Huyết động không ổn định
(do mất máu)
- Có dấu hiệu viêm phúc mạc
- Lộ tạng qua vết thương
Các
trường
hợp
khác
Mở bụng thăm dò
cấp cứu
Lâm sàng
Xquang
Siêu âm
Chọc dò
Theo
dõi
Bụng ngoại khoa (+)
Bình thường
Theo dõi 24-48h
A
B
VTB do
bạch khí
1.2. KHÁI QUÁT VỀ Ổ BỤNG VÀ CÁC THÀNH Ổ BỤNG [11], [17].
Ổ bụng là một khoang ở dưới cơ hoành, kéo xuống tận chậu hông, có
một cột trụ là cột sống ngực và cột sống thắt lưng, có 2 khung xương mắc ở
hai đầu. Khung trên là phần dưới lồng ngực, khung dưới là chậu hông tạo bởi

bụng gây tổn thương các nhánh này sẽ gây chảy máu nhiều.
1.2.4. Thành sau
Thành bụng sau bao gồm các cơ từ sau ra trước đó là: Cơ lưng to, cơ
lưng bé sau dưới, cơ gai sống, cơ gian mỏm ngang, cơ vuông thắt lưng và cơ
thắt lưng chậu. Các cơ này tạo cho thành bụng sau rất vững chắc và dày hơn
thành bụng trước bên, hơn nữa thành bụng sau còn có cột sống ngực và cột
sống thắt lưng làm cột trụ.
1.3. SỰ PHÂN CHIA Ổ BỤNG VÀ CÁC TẠNG TƯƠNG ỨNG [11], [21], [22]
Ổ bụng được chia làm 3 tầng, 9 khu bởi các đường:
- 2 đường thẳng đứng đi qua điểm giữa bờ sườn và điểm giữa nếp nằn
bẹn 2 bên.
- 1 đường nối đầu trước xương sườn X hai bên.
- 1 đường nối 2 gai chậu trước trên
9
Hình 1.1. Phân chia ổ bụng
Các vùng của ổ bụng đó là:
1.3.1. Vùng trên rốn:
Tương ứng trong ổ bụng, gồm gan trái, dạ dày, đại tràng ngang, tụy.
Trong đó dạ dày, đại tràng ngang là tạng di động, tụy là tạng nằm sau phúc
mạc. Vết thương bụng vùng này dễ tổn thương dạ dày, gan trái.
1.3.2. Vùng dưới sườn phải
Tương ứng trong ổ bụng có gan phải, túi mật, đường mật, tá tràng, đại
tràng góc gan. Trong đó gan núp dưới cơ hoành phải do đó vết thương vùng
đáy ngực phải dễ tổn thương gan. Đại tràng góc gan và một phần tá tràng là
tạng cố định, vết thương vùng tương ứng dễ gây tổn thương các tạng này.
1.3.3. Vùng dưới sườn trái
Tương ứng trong ổ bụng có lách, đại tràng góc lách. Lách là tạng nằm ở
sâu, núp dưới cơ hoành trái, nên vết thương vùng đáy ngực trái cũng có thể
gây tổn thương lách.
10

nguyên nhân gây ra thương tích. Có thể có một hoặc nhiều vết thương trên
thành bụng, các vết thương có thể gần nhau hoặc xa nhau.
Tất cả các tổn thương ở thành bụng mặc dù không gây thủng phúc mạc
thành nhưng đều phải xử trí ngoại khoa. Nhiều khi ở các vết thương đó có
đất cát, các mảnh quần, áo, mảnh đạn hay viên đạn nếu không lấy ra chúng
sẽ là những vật lạ gây nung mủ, hoại thư sinh hơi. Vết thương thành bụng có
thể gây đứt các mạch máu lớn như động mạch thượng vị, đưa đến chảy máu
nặng, hay gây tụ máu thành bụng.
Nếu thành bụng bị mất nhiều thì sau này dễ gây sổ bụng. Có trường hợp
nhìn ngoài không thấy tổn thương nhiều nhưng ở phía dưới (cân, cơ) bị đứt,
nát rất nhiều. Trong vết thương thành bụng bên và sau cần chú ý tới thận,
niệu quản, đại tràng (phần dính vào phúc mạc thành sau) chúng có thể bị tổn
thương mà không gây chảy máu trong ổ bụng hay viêm phúc mạc vì chúng
nằm sau phúc mạc.
1.4.2. Vết thương thủng phúc mạc
Đây là vết thương gây tổn thương phúc mạc thành làm cho ổ bụng
thông thương với môi trường bên ngoài.
1.4.2.1. Vết thương thủng phúc mạc đơn thuần
Đó là những vết thương gây tổn thương tất cả các lớp của thành bụng,
thủng phúc mạc làm cho ổ bụng thông thương với môi trường bên ngoài và
không có tổn thương nội tạng. Vết thương có thể rộng hay hẹp, có khi có một
vết thương có khi có nhiều vết thương. Qua vết thương có thể tạng lòi ra,
12
trong đó mạc nối lớn và ruột non hay bị lòi ra nhất, nếu vết thương hẹp đoạn
ruột lòi ra có thể bị thắt, hoại tử. Trong một số trường hợp vết thương do đạn
xuyên nhưng không gây tổn thương nội tạng đó là những viên đạn khi xuyên
qua thành bụng thì đã hết đà và rơi vào ổ bụng.
Khẳng định là vết thương không gây tổn thương nội tạng rất khó, đòi
hỏi thăm dò chẩn đoán cẩn thận.
1.4.2.2. Vết thương thủng phúc mạc có tổn thương nội tạng:

nối.
- Ruột non: Là tạng dễ bị tổn thương nhất vì nó cuộn nhiều vòng ở vùng
rốn, dưới rốn và hố chậu. Tổn thương có thể là lỗ thủng nhỏ, nhưng có thể
rách rộng theo chiều dọc hay chiều ngang, có khi cắt đứt hoàn toàn khẩu
kính ruột non. Tổn thương ruột non thường kèm theo tổn thương mạc treo.
Khi ruột non bị vỡ, những vết rách bị thấm máu và bầm máu ít, khác
hẳn với ruột già, mép rách bị thấm máu lan rộng.
- Ruột già: Ruột già chứa phân, bẩn, nên thương tổn thường là nặng các
mép rách thấm máu nhiều, nên dễ hoại tử. Vết thương đại tràng có thể ở
trong ổ bụng, có thể ở ngoài ổ bụng nhưng cả hai đều nguy hiểm vì sẽ gây ra
viêm phúc mạc hay viêm khoang tế bào sau phúc mạc. Các vết thương đại
tràng ít gây chảy máu nhưng làm nhiễm trùng nặng.
- Trực tràng: Tổn thương phần trực tràng ngoài ổ bụng thường do trâu
bò húc, cọc đâm, hoặc ngã cầu ao. Tổn thương trực tràng trong ổ bụng
thường kèm theo tổn thương ở đại tràng, ruột non. Những tổn thương ở trực
tràng cũng thường kèm theo nhiễm trùng nặng.
14
- Bàng quang: Vết thương bàng quang trong phúc mạc gây viêm phúc mạc
nước tiểu, vết thương bàng quang ngoài phúc mạc gây viêm lan tỏa nước tiểu
khoang zetzius.
1.4.2.3. Vết thương ngực bụng: Nếu tác nhân vào bụng bằng đường ngực,
những cơ quan hay bị tổn thương là gan, lách, dạ dày, cơ hoành. Những vết
thương ở lồng ngực gây tổn thương ổ bụng là những vết thương ở thấp từ
khoang liên sườn 9 trở xuống, còn những vết thương ở lồng ngực từ khoang
liên sườn 9 trở lên có thể chỉ gây tổn thương ở lồng ngực.
1.4.3. V t th ng b ng - ch u hôngế ươ ụ ậ : Tổn thương từ phía bụng xuyên qua
chậu hông ra phía sau cho nên ngoài tổn thương nội tạng còn có thể gây tổn
thương mạch máu, thần kinh vùng khung chậu.
1.5. CHẨN ĐOÁN VẾT THƯƠNG BỤNG [12], [19], [27], [25]
*Khai thác bệnh sử để xác định một số yếu tố:

- Chọc rửa ổ bụng: Đã từng là một trong những phương tiện chẩn đoán
có hiệu quả trong vết thương thấu bụng vì có độ nhậy, độ đặc hiệu và độ
chính xác cao.
Trước đây thái độ xử trí chung trước một trường hợp nghi ngờ vết
thương thấu bụng là thăm dò vết thương nếu không xác định được có thủng
phúc mạc hay không thì tiến hành chọc rửa ổ bụng, nếu chọc rửa ổ bụng
dương tính thì có chỉ định mở bụng.
Nguyễn Thanh Long [14] đề xuất phác đồ chẩn đoán vết thương thấu
bụng như sau:
16
(-)
(+)
(-)
(+)
Vết thương
thấu bụng
Khám lâm sàng + xquang
Thăm dò vết thươngMở bụng
Mở bụng
Theo dõiMở bụng
Chọc rửa ổ bụng
Thủng phúc mạc
- Không xác định
- Không thể thăm dò được
Không thủng
phúc mạc
17
Theo Lê Thương [27], đề xuất sơ đồ xử trí vết thương bụng do bạch khí
như sau:
* Khám xác định các tổn thương phối hợp: Vỡ xương chậu, chấn

- Khám có biểu hiện bất thường, máu trong
dạ dày, máu trong đại tràng, trực tràng,
máu trong bàng quang.
- Xquang bất thường
- Vết thương sau hoặc sau bên.
(-) (+)
Theo dõi
+ Quan sát được những vùng, vị trí chật hẹp khó can thiệp khi mổ mở như:
Vòm gan, hố lách, tiểu khung Đăc biệt ưu điểm hơn ỏ những bệnh nhân béo.
+ Ít gây sang chấn, giảm nguy cơ tắc ruột, dính ruột sau mổ.
+ Sớm phục hồi lưu thông ruột.
+ Sẹo mổ nhỏ, đảm bảo tính thẩm mỹ
- Những hạn chế của PTNS [9],[10]
+ Có các biến chứng của gây mê: ngừng thở, suy thở, ngừng tim…
+ Nguy cơ cao ở những BN suy tim nặng, suy thở nặng, hôn mê sâu…
+ Có các biến chứng do bơm CO2: giảm lưu lượng tuần hoàn, tăng áp
lực đường thở, tăng áp lực nội sọ, ưu thán, tắc mạch.
+ Chọc trocart, kim bơm khí vào tạng: hạn chế bằng biện pháp bơm hơi mở.
+ Gây sang chấn tạng khác khi thăm dò, phẫu thuật.
+Không trực tiếp sờ nắn tổn thương bằng tay nên khó đánh giá các tổn
thương kín đáo.
+ Thao tác chỉ thông qua camera, dụng cụ nên khó thực hiện các động tác
khó như mổ xẻ kinh điển, thời gian mổ kéo dài nếu không thành thạo kỹ thuật.
+ Đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, đồng bộ đó là một dàn máy nội soi đồng bộ
kèm các dụng cụ mổ nội soi đi kèm. Vì vậy chi phí cho NSOB cũng cao
+ Đòi hỏi phẫu thuật viên được đào tạo và thành thạo NSOB.
- Các trường hợp VTTB không có chỉ định can thiệp PTNS:
+ Vết thương rộng, lòi tạng lớn.
+ Bệnh nhân có dấu hiệu mất mắu cấp đe doạ tính mạng.
+ Có bệnh phối hợp không cho phép bơm khí ổ bụng.

- Kích thích phúc mạc
- Lộ tạng qua vết thương
- Vết thương lớn
- Khám có biểu hiện bất thường, máu trong
dạ dày, máu trong đại tràng, trực tràng,
máu trong bàng quang.
- Vết thương sau hoặc sau bên.
Cách thức tiến hành phẫu thuật:
* Mổ nội soi chẩn đoán trước: [9]
•Gây mê: Nội khí quản.
•Tư thế bệnh nhân.
BN nằm ngửa, thường để 2 chân dạng được cố định chắc vào bàn mổ.
Bàn mổ phải đáp ứng được việc thay đổi tư thế đầu cao hay thấp, nghiêng
phải hay trái tuỳ theo yêu cầu khi mổ. BN cần được đặt sonde bàng quang,
sonde dạ dày.
Hình 2.1: Tư thế bệnh nhân
• Vị trí kíp mổ
Tuỳ thuộc vào vị trí thăm dò và xử lý thương tổn. Thông thường phẫu
thuật viên đứng khác bên đối với vị trí thăm dò hay xử lý thương tổn. Ví dụ
để can thiệp tầng trên ổ bụng, phẫu thuật viên đứng giữa 2 chân BN, để can
thiệp tầng dưới ổ bụng, phẫu thuật viên đứng về phía đầu BN. Người phụ
cầm camera đứng khác bên với phẫu thuật viên. Màn hình được để vuông
góc với hướng nhìn của phẫu thuật viên, vì vậy có được màn hình thứ hai đối
diện dành cho người cầm camera là tốt nhất.
• Vị trí đặt trocart
Trocart đầu tiên được đặt là trocart 10 dành cho camera luôn được để ở
rốn nhằm quan sát các vùng trong ổ bụng dễ dàng. Trocart này được đặt bằng
mở bụng nhỏ (10mm) từng lớp và nòng tù nhằm tránh gây tổn thương tạng
(phương pháp Hasson), sau đó thực hiện bơm hơi CO
2

- Tầng trên mạc treo đại tràng ngang: Cần đánh giá tầng trên mạc treo
đại tràng ngang trước vì gan, lách nằm ở khu vực này. BN được đặt tư thế
22
đầu cao, nghiêng trái để thăm dò các thương tổn ở gan, nghiêng phải để thăm
dò cho lách. Nâng thùy gan trái để kiểm tra dạ dày, phá mạc nối nhỏ (nếu
cần) để quan sát hậu cung mạc nối. Nếu thấy có máu tụ trong hậu cung mạc
nối, tụy to… thì mở hậu cung mạc nối qua mạc nối lớn(MNL) đưa ống soi
vào quan sát được hết thân, đuôi tụy.
- Tầng dưới mạc treo đại tràng ngang: Kiểm tra đại tràng ngang, đoạn
đầu của ruột non. Quay ống soi xuống dưới quan sát dọc 2 rãnh đại tràng,
thông thường dịch ổ bụng tập trung nhiều ở vị trí này, hút dịch đánh giá được
đại tràng lên và đại tràng xuống, xích ma. Để BN ở tư thế đầu dốc, kiểm tra
ruột non từ góc hồi manh tràng trở lên bằng cách chuyền dần cách quai ruột
giữa 2 pince không sang chấn. Dễ dàng phát hiện tổn thương ruột non và mạc
treo vì vùng có tổn thương luôn phù nề, tụ máu, niêm mạc ruột xòe ra nếu bị
vỡ ruột. Đánh giá bàng quang, máu tụ sau phúc mạc, tử cung, phần phụ (ở
nữ). Sau khi thăm dò quan sát hết ổ bụng có thể đưa ra được kết luận về các
cơ quan bị tổn thương, mức độ tổn thương và có cần mở bụng không hay có
thể xử trí bằng nội soi.
• X ử trí tổn thương qua nội soi
- Đối với các tạng đặc
+ Vết thương gan, lách xác định được nhờ nhìn trực tiếp nếu đang còn
chảy máu thì có thể cầm máu bằng đốt điện, khâu cầm máu. Nếu tổn thương
nông có thể đốt điện cầm máu bằng pince đơn cực hoặc lưỡng cực. Khi tổn
thương lớn hơn, đốt điện không thành công cần khâu cầm máu. Chỉ khâu sử
dụng prolene 4/0 là thích hợp nhất, khâu mũi chữ X hay chữ U tùy vào
đường vỡ. Luôn đặt dẫn lưu dưới gan hoặc hố lách qua 2 lỗ trocart ở 2 mạng
sườn để theo dõi chảy máu sau mổ.
+ Vết thương tụy cần phải mở hậu cung mạc nối thăm dò kết hợp với
chẩn đoán hình ảnh để đánh giá tổn thương, cầm máu và đặt dẫn lưu.

dựa vào vị trí vết thương, hướng của tác nhân và thăm dò toàn bộ ổ bụng.
- Xử trí tổn thương tạng: Có thể bảo tồn, cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ
tạng tổn thương. Việc lựa chọn phương pháp điều trị dựa trên nguyên tắc ưu
tiên cứu sống nạn nhân trước, bảo tồn chức năng tạng sau.
+ Lách: Cắt lách nếu tổn thương dập nát sâu hoặc tổn thương cuống lách.
Nếu tổn thương cho phép có thể cắt lách bán phần, hoặc khâu lách bảo tồn [10].
+ Gan: Phẫu thuật nhằm cầm máu, chống rò mật, cắt bỏ tổ chức gan hoại tử.
Cần chú ý những trường hợp vết thương nhỏ nhưng xuyên sâu vào
trong nhu mô gây tổn thương mạch máu và đường mật rất khó xử trí. Thủng
túi mật cắt túi mật, thủng ống mật chủ dẫn lưu kehr.
+ Tụy: Nếu tổn thương khu trú ở thân hoặc đuôi tụy có thể khâu hoặc
cắt bỏ đuôi tụy, những tổn thương ở đầu tụy có thể khâu hoặc nếu tổn thương
rộng, phối hợp với tổn thương tá tràng có thể cắt khối tá tụy. Nên nhớ những
tổn thương tụy dễ dẫn đến biến chứng dò tụy, nên sau mổ cần phải dẫn lưu
tốt ổ bụng.
+ Thận: Có thể khâu hoặc cắt bán phần thận, chỉ cắt bỏ thận nếu thận
còn lại bình thường.
+ Mạc treo: cầm máu, cần đánh giá xem cung động mạch còn lại có đủ
nuôi dưỡng không nếu nghi ngờ hoại tử thì cắt đoạn ruột.
+ Dạ dày: Khâu phục hồi. Tổn thương cơ hoành thì khâu chỉ không tiêu
mũi chữ u.
+ Ruột non: Tổn thương gọn thì khâu vùi, cắt đoạn khi tổn thương dập
nát rộng hoặc hoại tử do tổn thương mạc treo.
+ Tá tràng: Nếu vết thương gọn, nhỏ có thể khâu vết thương nối vị
tràng và khâu kín môn vị (phương pháp Fordan) nếu tổn thương dập nát nặng
nên cắt hang vị và dẫn lưu mỏm tá tràng sau khi khâu kín vết thương.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status