ĐÁNH GIÁ tác DỤNG điều TRỊ của bài THUỐC “QUYÊN tý THANG” kết hợp LIỆU PHÁP KINH cân TRÊN BỆNH NHÂN ĐAU VAI gáy DO THOÁI hóa cột SỐNG cổ - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN HOÀI LINH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CỦA BÀI
THUỐC “QUYÊN TÝ THANG” KẾT HỢP LIỆU
PHÁP KINH CÂN TRÊN BỆNH NHÂN ĐAU VAI
GÁY DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ

1
1


Hà Nội – 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN HOÀI LINH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CỦA BÀI
THUỐC “QUYÊN TÝ THANG” KẾT HỢP LIỆU

luận văn Bác sỹ nội trú Trường Đại học Y Hà Nội, những người thầy, người
cô đã đóng góp cho em nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành nghiên cứu.
Các thầy cô trong Khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y Hà Nội,
những người đã luôn dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại
trường cũng như hoàn thành luận văn.
Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, lãnh đạo khoa cùng toàn
thể nhân viên khoa khoa Khám bệnh, khoa Nội, khoa Lão, khoa Châm cứu
dưỡng sinh - Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương đã tạo điều kiện cho
em học tập, thu thập số liệu và thực hiện nghiên cứu.
Cuối cùng, em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, những
người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên trong quá trình học
tập và nghiên cứu. Cảm ơn các anh chị, các bạn, các em, những người luôn
đồng hành cùng em, động viên và chia sẻ trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu đã qua.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Nguyễn Hoài Linh


LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Hoài Linh, học viên bác sĩ nội trú khóa 38, Trường Đại học
Y Hà Nội, chuyên ngành Y học cổ truyền, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS. Dương Trọng Nghĩa và PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được
công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên
cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.

MRI
NDI

(Virus gây suy giảm miễn dịch ở người)
Magnetic Resonance Imaging (Hình ảnh cộng hưởng từ)
Neck Disability Index

THCS
THCSC
TK
TVĐ
TVĐĐ
VAS
WHO
XQ
YHCT
YHHĐ

(Bộ câu hỏi NDI đánh giá hạn chế sinh hoạt hàng ngày do đau cổ)
Thoái hóa cột sống
Thoái hóa cột sống cổ
Thần kinh
Tầm vận động
Thoát vị đĩa đệm
Visual Analogue Scale (Thang điểm nhìn đánh giá mức độ đau)
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Xung quanh
Y học cổ truyền
Y học hiện đại


Hiện nay, THCSC không chỉ phổ biến ở những người cao tuổi mà còn
hay gặp ở người trong độ tuổi lao động. Nguyên nhân là do cuộc sống tĩnh tại
và liên quan tới tư thế lao động như: ngồi, cúi cổ lâu hoặc động tác đơn điệu
lặp đi lặp lại của đầu, đòi hỏi sự thích nghi và chịu đựng của cột sống cổ. Tại
Mỹ, ước tính đến 2020, số lượng bệnh nhân mắc thoái hóa khớp tăng từ 66 –
100% [1]. Bệnh THCSC không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân, giảm năng
suất lao động mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống. Vì vậy, THCSC đang là
vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các thầy thuốc [5],[6].
Y học hiện đại có nhiều phương pháp điều trị thoái hóa cột sống cổ
nhưng điều trị nội khoa và vật lý trị liệu vẫn là lựa chọn hàng đầu [4],[5].


11

Trong Y học cổ truyền (YHCT), đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ
được xếp vào chứng lạc chẩm. Bệnh do chính khí cơ thể suy yếu, lục dâm
xâm phạm, bế tắc kinh lạc gây đau [7], [8], [9], [10].
Y học cổ truyền có nhiều phương pháp điều trị chứng tý: dùng thuốc và
không dùng thuốc với kết quả khả quan. Liệu pháp kinh cân được sử dụng tại
nhiều nơi trên thế giới cho thấy có kết quả tốt trong điều trị chứng bệnh này.
Tuy nhiên, tại Việt Nam liệu pháp này vẫn chưa được phố biến và chưa có
nghiên cứu khoa học nào đánh giá tác dụng của liệu pháp này trên lâm sàng.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với các mục tiêu:
1. Đánh giá tác dụng điều trị của bài “Quyên tý thang” kết hợp liệu pháp
kinh cân trên bệnh nhân đau vai gáy do THCSC.
2. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân
trong nghiên cứu.


12

biến dạng và tính chịu nén ép mà phục vụ cho sự vận động của cột sống, giảm
các chấn động lên cột sống, não và tủy [6], [7], [13].

Hình 1.2. Các động tác vận động của cột sống cổ [13].
1.1.3. Yếu tố thuận lợi và cơ chế bệnh sinh của thoái hóa cột sống cổ
1.1.3.1. Yếu tố thuận lợi
THCSC thường xuất hiện ở những người tuổi cao hoặc có công việc gây
tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của cột sống cổ. Ngoài ra, THCSC còn
có các yếu tố nguy cơ như di truyền, rối loạn chuyển hóa, rối loạn nội tiết,
bệnh tự miễn…[6], [7], [17], [18].


14

1.1.3.2. Cơ chế bệnh sinh
Hai lý thuyết chính được nhiều tác giả ủng hộ trong cơ chế bệnh sinh của
THCSC là lý thuyết cơ học và lý thuyết tế bào. Lý thuyết cơ học mô tả sự suy
yếu các sợi collagen dẫn đến việc hư hỏng các chất Proteoglycan. Lý thuyết tế
bào nêu lên cơ chế tăng áp lực làm tế bào sụn cứng lại, giải phóng các enzym
tiêu protein làm hủy hoại dần dần các chất cơ bản [6], [7], [13], [17], [18].

Hình 1.3. Những biến đổi thoái hóa ở cột sống cổ [13].
1.1.4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
1.1.4.1. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của THCSC phụ thuộc vào vị trí, mức độ và biến
chứng của bệnh (chèn ép thần kinh, mạch máu…).


15


đầu về bên đau, tạo ra đau nặng từ vùng cổ lan xuống vai, cánh tay, cẳng tay
và bàn tay. Đây là dấu hiệu quan trọng đánh giá đau kiểu rễ. Đau ở đây xuất
hiện do động tác làm hẹp lỗ gian đốt sống và tăng thể tích phần đĩa đệm lồi ra.
Dấu hiệu Lhermitte: cảm giác như điện giật đột ngột lan từ cột cống cổ
xuống cột sống lưng khi cúi cổ. Trong THCSC, dấu hiệu này chỉ gặp ở nhóm
bệnh nhân có hội chứng tủy cổ [20], [21].
1.1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng
 X - quang cột sống cổ trong THCSC cho thấy các hình ảnh: gai xương
ở thân đốt sống, mặt khớp đốt sống, lỗ gian đốt sống; hẹp khoang gian đốt
sống, hẹp lỗ tiếp hợp (tư thế chếch ¾); đặc xương dưới sụn, phì đại mấu bán
nguyệt và mất đường cong sinh lý cột sống cổ [4], [5], [6].

A

B

C

Hình 1.4. X-quang cột sống cổ bình thường [14].
Tư thế chụp trước sau (A), tư thế chụp nghiêng (B), tư thế chụp chếch (C)
1. Thân đốt sống 2. Mỏm răng 3. Diện khớp
4. Lỗ gian đốt sống
5. Mỏm gai
6. Mỏm ngang 7. Thân đốt trục (C2) 8. Khe gian đốt sống
9. Cung trước đốt đội (C1) C. Mỏm móc
D. Mảnh
E. Cuống


17

 Điều trị bảo tồn:
Về nội khoa, THCSC được điều trị bằng các nhóm thuốc sau:
Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh như thuốc chống viêm không
steroid (Diclofenac, Meloxicam…); corticoid (không dùng đường toàn thân,
chỉ dùng đường nội khớp); thuốc giãn cơ vân (Mydocalm, Myonal…); thuốc
giảm đau sử dụng theo bậc thang giảm đau của WHO. Khi dùng các nhóm
thuốc này cần lưu ý các chống chỉ định và tác dụng phụ.
Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm bao gồm thuốc ức chế men tiêu
sụn (Chondroitin sulfate), tăng cường tổng hợp proteoglycan và tăng sản xuất
chất nhầy dịch khớp (Glucosamin sulfate)…
Các vitamin nhóm B (Neurobion, Methylcoban…) đặc biệt hay được sử
dụng khi có tổn thương thần kinh.
Phương pháp vật lý trị liệu bao gồm tập vận động CS cổ; chiếu đèn hồng
ngoại, đắp bùn nóng; tắm nước khoáng, bơi và kéo giãn cột sống cổ…[2], [3],
[4], [17].
 Điều trị phẫu thuật trong THCSC được chỉ định khi các dấu hiệu thần
kinh tiến triển nặng hoặc đã điều trị bảo tồn tại cơ sở chuyên khoa không kết
quả; thoái hóa cột sống cổ gây trượt đốt sống, nguy cơ mất vững cột sống [6],
[7], [20].


19

1.1.6.2. Phòng bệnh
- Những người có THCSC cần lưu ý chống các tư thế xấu trong sinh hoạt
và lao động.
- Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột, sai tư thế khi mang vác, xách,
nâng các đồ vật..
- Khám định kì phát hiện sớm thoái hóa cột sống cổ cho bệnh nhân làm
nghề lao động nặng, các nghề nghiệp có tư thế cột sống cổ xấu.

Nguyên nhân gây chứng lạc chẩm rất đa dạng bao gồm ngoại nhân, nội
nhân và bất nội ngoại nhân. Các yếu tố bên ngoài như phong, hàn, thấp, nhiệt tà
có thể đơn độc hoặc cùng kết hợp xâm nhập vào cơ thể. Bệnh cũng có thể do nội
nhân như rối loạn tình chí, tiên thiên bất túc hoặc sau sinh đẻ làm khí huyết suy
kém, âm dương không điều hòa. Các yếu tố bất nội ngoại nhân như lao động vất
vả, ăn uống, tình dục không điều độ làm khí huyết suy hoặc do đàm ẩm, huyết ứ
sau chấn thương mà gây bế tắc kinh lạc cũng có thể gây chứng lạc chẩm [8], [9].
1.2.2.2. Các thể lâm sàng
 Thể phong hàn thấp
Thể bệnh này có triệu chứng chính là đau nhức vùng đầu, cổ, vai và
ngực lưng, có điểm đau cố định ở cổ, có thể sờ thấy co cơ ở cổ vai gáy, cứng
cổ hạn chế vận động, đau, tê và nhức tứ chi, có thể có cảm giác nặng và yếu
hai chi trên, đau nặng đầu; rêu trắng mỏng, mạch phù hoãn hoặc sáp. Pháp
điều trị là trừ phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc; dùng bài “Quyên tý thang”
để điều trị [11]. Châm các huyệt Hậu khê (VI.3), Phong trì (XI.20), Đại chùy
(XIII.14), Liệt khuyết (I.7) [8], [9], [10].
 Thể khí trệ huyết ứ
Bệnh nhân có triệu chứng chính giống như thể phong hàn. Bệnh thường
xảy ra sau mang vác vật nặng, sai tư thế, mạch phù khẩn.
Pháp điều trị: Hoạt huyết khứ ứ, thư cân hoạt lạc.


21

Phương điều trị: Dùng bài Tứ vật đào hồng gia vị. Châm cứu các huyệt
Phong trì, Kiên tỉnh, Thiên trụ, Thiên tông, Dương lăng tuyền, Dương trì cùng bên
[11].
 Thể thấp nhiệt
Bệnh nhân đau và hạn chế vận động vùng vai gáy. Vùng vai có vùng
sưng, nóng, đỏ, đau. Người nóng, sốt, mạch phù sác.

He D. và cộng sự (2005) ở khoa Y, Đại học tổng hợp Oslo, Nauy đã
nghiên cứu tác dụng giảm đau cột sống cổ và đau vai mạn tính của châm cứu
ở 24 phụ nữ làm công việc văn phòng (47 ± 9 tuổi) có thời gian đau từ 3 – 21
năm. Kết quả cho thấy châm cứu ngoài tác dụng giảm đau, còn có tác dụng
cải thiện giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo lắng, trầm uất và cải thiện chất
lượng cuộc sống. Theo dõi tiếp tục trong 6 tháng đến 3 năm các tác giả thấy
các triệu chứng này vẫn được cải thiện hơn ở nhóm nghiên cứu so với nhóm
chứng [25].
Witt C. M. và cộng sự (2006) đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên có đối chứng đa trung tâm và một nghiên cứu thuần tập trên hơn
14161 bệnh nhân đau cổ gáy mạn tính trên 6 tháng ở Đức (chọn ngẫu nhiên
1880 BN vào nhóm điều trị châm cứu và 1885 bệnh nhân vào nhóm chứng
không châm cứu, 10395 bệnh nhân vào nhóm châm cứu nghiên cứu thuần
tập). Bệnh nhân nhóm châm cứu được châm 15 lần trong 3 tháng. Kết quả
nghiên cứu cho thấy nhóm châm cứu có kết quả giảm đau và hạn chế vận
động tốt hơn nhóm chứng với p < 0,001 và duy trì trong suốt 6 tháng sau đó.
Nhóm nghiên cứu thuần tập có mức độ đau trước điều trị nặng hơn nhóm
ngẫu nhiên, nhưng mức độ phục hồi sau điều trị tốt hơn [26].
Quách Xuân Ái (2006) quan sát trên 30 bệnh nhân dùng châm cứu, xoa
bóp điều trị triệu chứng hoa mắt chóng mặt do THCSC thấy rằng: Khỏi bệnh
33,33%, đỡ bệnh 90,0% [27].


23

Vương Cảnh (2009) nghiên cứu các triệu chứng hẹp động mạch đốt
sống cổ do THCSC gây ra, bao gồm huyễn vựng, buồn nôn, thị lực giảm
sút, tê cánh tay hoặc có cảm giác dị cảm. Từ tháng 9/2005 tới 6/2009 tác
giả dùng châm cứu kết hợp thuốc Đông y điều trị 74 bệnh nhân đạt hiệu
quả 83,33% [28].

thang” trên bệnh nhân đau vai gáy do thoái hóa cột sống cổ thấy hiệu quả rõ
rệt trong giảm đau, điểm VAS giảm từ 6,00 ± 1,46 điểm xuống 1,37 ± 1,16
điểm, giảm co cứng cơ, giảm hạn chế sinh hoạt hàng ngày, điểm NDI giảm từ
19,83 ± 5,95 điểm xuống 8,93 ± 2,46 điểm [33].
1.4. Tổng quan về liệu pháp kinh cân và bài “Quyên tý thang”
1.4.1. Tổng quan về liệu pháp kinh cân
1.4.1.1. Hệ thống Kinh cân
Kinh cân là các nhánh lớn xuất phát từ các đường kinh chính, chạy đến
cơ, gân nên gọi là Kinh cân. Kinh cân chỉ liên hệ với phần nông của cơ thể,
không có tác dụng đến phủ tạng.
Đường đi của Kinh cân trùng với kinh chính và được 12 kinh chính nuôi
dưỡng nên tên trùng với tên của 12 kinh chính nhưng có thêm chữ “cân” ở
đầu và không có tên tạng phủ. Ví dụ: Kinh cân thủ thái âm.
Kinh Cân vận hành từ tay chân lên thân mình, cổ, đầu, thường phân bố ở
chân tay, thân, khoang bụng và ngực. Kinh Dương đi ở mặt ngoài, kinh Âm đi
ở mặt trong chân tay.
Nếu theo đường vận hành của kinh Cân từ chỗ bắt đầu cho đến chỗ chấm
dứt thì kinh Cân đa số bắt đầu từ đầu ngón tay, ngón chân, đi qua những chỗ
khớp xương cổ tay, khủy tay, nách, vai, mắt cá, đầu gối, đùi háng, rồi sau đó
chia ra ở ngực, lưng, cuối cùng đến đầu và mình (khác hẳn với sự bắt đầu và
chấm dứt, hoặc lên hoặc xuống của 12 kinh chính, cũng như khác với kinh
Biệt ở chỗ kinh Biệt bắt đầu từ khuỷu tay, đầu gối trở lên) [12], [22].


25

1.4.1.2. Điểm cân kết
 Lý luận
Điểm cân kết thường tập trung nhiều ở điểm bắt đầu và kết thúc các cơ,
điểm góc, điểm giao nhau, điểm ma sát, lồi củ xương nhỏ, các đầu xương tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status