ĐÁNH GIÁ tác DỤNG của bài THUỐC “cát căn THANG” điều TRỊ BỆNH NHÂN ĐAU VAI gáy DO THOÁI hóa cột SỐNG cổ - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
*****

ĐẶNG TRÚC QUỲNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC
“CÁT CĂN THANG” ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN
ĐAU VAI GÁY DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ

HÀ NỘI – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
*****

ĐẶNG TRÚC QUỲNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC
“CÁT CĂN THANG” ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN
ĐAU VAI GÁY DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ
Chuyên ngành: Y học cổ truyền

Cuối cùng, em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, những
người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên trong quá trình học
tập và nghiên cứu. Cảm ơn các anh chị, các bạn, các em, những người luôn
đồng hành cùng em, động viên và chia sẻ trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu đã qua.
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Đặng Trúc Quỳnh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Đặng Trúc Quỳnh, học viên bác sĩ nội trú khóa 36 Trường Đại
học Y Hà Nội, chuyên ngành Y học cổ truyền, xin cam đoan:
1.

Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn

2.

của TS. Nguyễn Thị Thu Hà và PGS.TS. Hoàng Minh Chung.
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã

3.

được công bố tại Việt Nam.
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơi
nghiên cứu.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.



Acquired Immune Deficiency Syndrome
Alanine Aminotransferase
Aspartate Aminotransferase
Bệnh nhân
Cận lâm sàng
Cột sống
Điều trị
Hội chứng
Human Immunodeficiency Virus
Magnetic Resonance Imaging
Neck Disability Index
Thoái hóa cột sống
Thoái hóa cột sống cổ
Thần kinh
Tầm vận động
Thoát vị đĩa đệm
Trung ương
Visual Analogue Scale
World Health Organization
X – quang
Y học cổ truyền
Y học hiện đại


MỤC LỤC

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các thầy thuốc [1],[2],[6],[7].
Việc điều trị thoái hóa khớp nói chung và THCSC nói riêng, chủ yếu là
điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng; kết hợp điều trị nội khoa, ngoại
khoa và vật lý trị liệu. Y học hiện đại (YHHĐ) chủ yếu sử dụng các nhóm
thuốc giảm đau chống viêm không steroid, steroid, thuốc giãn cơ; kết hợp
chiếu tia hồng ngoại, sóng siêu âm, sóng điện từ, kéo giãn cột sống cổ... để
điều trị. Việc điều trị phẫu thuật thường được cân nhắc khi điều trị nội khoa


9

không có kết quả hoặc chèn ép thần kinh nhiều thể hiện trên lâm sàng và/hoặc
chẩn đoán hình ảnh [3],[6].
Trong Y học cổ truyền (YHCT), thoái hóa khớp được xếp vào chứng Tý,
đau vai gáy do THCSC thuộc chứng Kiên tý. Chứng Tý phát sinh do vệ khí
của cơ thể không đầy đủ, các tà khí từ bên ngoài thừa cơ xâm phạm vào cân,
cơ, khớp, xương, kinh lạc… làm bế tắc kinh mạch, khí huyết không lưu thông
gây đau; hoặc do người cao tuổi chức năng các tạng phủ suy yếu, thận hư
không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân, mà gây ra
xương khớp đau nhức, sưng nề, cơ bắp co cứng, vận động khó khăn…
Y học cổ truyền điều trị chứng Tý thường dùng các pháp: khu phong, tán
hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc, tư bổ can thận nhằm khôi phục lại sự thăng
bằng âm dương, phù chính khu tà, giảm đau và khôi phục lại hoạt động sinh
lý bình thường của vùng cổ gáy. Dựa trên pháp điều trị đó, có thể lựa chọn
các phương pháp điều trị thuộc 2 nhóm dùng thuốc và không dùng thuốc. Các
biện pháp không dùng thuốc như: châm cứu, xoa bóp bấm huyệt… thường
được sử dụng đơn thuần hay phối hợp với nhau và mang lại hiệu quả điều trị
[8],[9],[10]. Hiện nay, nhiều bài thuốc YHCT đã và đang được sử dụng trên
lâm sàng trong điều trị THCSC, với ưu điểm không chỉ có tác dụng giảm đau,
giải cơ bị co cứng mà còn bổ chính khí, nâng cao công năng các tạng phủ...

ở 24 phụ nữ làm công việc văn phòng (47 ± 9 tuổi) có thời gian đau từ 3 – 21
năm. Kết quả cho thấy châm ngoài tác dụng giảm đau, còn có tác dụng cải
thiện giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo lắng, trầm uất và cải thiện chất lượng
cuộc sống. Theo dõi tiếp tục trong 6 tháng đến 3 năm các tác giả thấy các
triệu chứng này vẫn được cải thiện hơn ở nhóm nghiên cứu so với nhóm
chứng [12].


11

Blossfeldt P. (2004) đánh giá điều trị đau cổ mạn tính bằng châm cứu ở
153 bệnh nhân thấy hiệu quả điều trị đạt 68%. Theo dõi trong thời gian dài
thấy 49% số bệnh nhân duy trì hiệu quả điều trị sau 6 tháng và 40% duy trì
sau 1 năm [13].
Quách Xuân Ái (2006) quan sát trên 30 bệnh nhân dùng châm cứu, xoa
bóp điều trị triệu chứng hoa mắt chóng mặt do THCSC thấy rằng: Khỏi bệnh
33,33%, đỡ bệnh 90,0% [14].
Đảng Kiến Quân (2003) nghiên cứu châm cứu điều trị đau vai gáy do
THCSC bằng các huyệt Phong trì, Kiên trung du, Kiên tỉnh, Đại trùy, Thiên
tông kết hợp xoa bóp cho 56 bệnh nhân. Kết quả có hiệu quả 96,4% [15].
Vương Mẫn (2009) nghiên cứu các triệu chứng hẹp động mạch đốt
sống cổ do THCSC gây ra, bao gồm huyễn vựng, buồn nôn, thị lực giảm
sút, tê cánh tay hoặc có cảm giác dị cảm. Từ tháng 9/2005 tới 6/2009 tác
giả dùng châm cứu kết hợp thuốc Đông y điều trị 74 bệnh nhân đạt hiệu
quả 83,33% [16].
1.1.2. Tại Việt Nam
Nguyễn Phương Lan (2003) nghiên cứu tác dụng của điện châm trên 50
bệnh nhân mắc Hội chứng vai tay tại Viện châm cứu TW thấy kết quả điều trị
72% tốt, 28% khá, không có bệnh nhân kết quả kém. Trước điều trị có 100%
bệnh nhân đau vai gáy, giảm chỉ còn 5/50 bệnh nhân (10%) sau điều trị, hạn

và chức năng của một hoặc nhiều khớp (và cột sống). Tổn thương diễn biến
chậm tại sụn kèm theo các biến đổi hình thái, biểu hiện bởi hiện tượng hẹp
khe khớp, tân tạo xương và xơ xương dưới sụn [1],[2],[3].
1.2.2. Sơ lược về cấu tạo giải phẫu và chức năng của cột sống cổ
1.1.2.1. Cấu tạo giải phẫu
Cột sống cổ cấu tạo bởi 7 đốt sống cổ kí hiệu từ C1 – C7, 5 đĩa đệm và
1 đĩa đệm chuyển đoạn (đĩa đệm cổ – lưng C7 – D1), lỗ gian đốt sống, khớp


13

đốt sống và dây chằng. Cột sống cổ thường được chia thành hai vùng: cột
sống cổ trên (C1 – C2) và cột sống cổ dưới (C3 – C7), tổn thương ở từng
vùng sẽ có biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Hình 1.1. Các đốt sống cổ (nhìn trước) [22]
1.2.2.2. Chức năng cột sống cổ.
-

Cột sống cổ tham gia vào sự phối hợp của mắt, đầu, thân mình; đồng thời

-

tham gia vào việc định hướng trong không gian và điều khiển tư thế.
Cột sống cổ chịu sức nặng của đầu, bảo vệ tủy sống nằm trong ống sống.
Đĩa đệm có nhiệm vụ nối các đốt sống, nhờ khả năng biến dạng và tính
chịu nén ép mà phục vụ cho sự vận động của cột sống, giảm các chấn
động lên cột sống, não và tủy [6],[7],[23].

Hình 1.2. Các động tác vận động của cột sống cổ [24]

1.2.4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.
1.2.4.1. Triệu chứng lâm sàng
Phụ thuộc vào vị trí, mức độ và biến chứng của THCSC (chèn ép thần
kinh, mạch máu…).
 Hội chứng cột sống cổ:
-

Đau vùng cột sống cổ, thường xuất hiện sau khi cúi lâu, nằm gối cao,
làm việc căng thẳng kéo dài, hay đột ngột sau khi vận động cột sống cổ.

-

Có điểm đau tại cột sống cổ hoặc hai bên cột sống cổ.

-

Co cứng cơ cạnh sống cổ.

-

Có thể có tư thế chống đau: nghiêng đầu về bên đau và vai bên đau
nâng cao hơn bên lành.

-

Hạn chế vận động cột sống cổ [3],[6],[7].

 Hội chứng rễ thần kinh:
-



Mờ mắt, hoa mắt, giảm thị lực thoáng qua.


16

-

Rung giật nhãn cầu.

-

Ù tai, tiếng ve kêu trong tai, đau tai.

-

Loạn cảm thành sau họng, nuốt vướng hoặc đau [5],[6],[7],[28].

 Khám không thấy những dấu hiệu sau (trên lâm sàng định hướng không
phải Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ hoặc THCSC có HC tuỷ cổ):
- Dấu hiệu Spurling: khi ấn đầu xuống trong tư thế ngửa cổ và nghiêng đầu về
bên đau, tạo ra đau nặng từ vùng cổ lan xuống vai, cánh tay, cẳng tay và bàn
tay. Đây là dấu hiệu quan trọng đánh giá đau kiểu rễ. Đau ở đây xuất hiện do
động tác làm hẹp lỗ gian đốt sống và tăng thể tích phần đĩa đệm lồi ra.
- Dấu hiệu Lhermitte: cảm giác như điện giật đột ngột lan từ cột cống cổ
xuống cột sống lưng khi cúi cổ. Trong THCSC, dấu hiệu này chỉ gặp ở nhóm
bệnh nhân có hội chứng tủy cổ [29],[30].
1.2.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng
 X - quang cột sống cổ:
-


Hình 1.4. XQ CS cổ bình thường tư thế trước sau (A) và nghiêng (B) [32]

(C)

(D)

Hình 1.5. XQ CS cổ bị thoái hóa tư thế trước sau (C) và nghiêng (D) [33]
1.2.5. Chẩn đoán Thoái hóa cột sống cổ
 Chẩn đoán xác định: Dựa vào lâm sàng (HC cột sống cổ, HC rễ, HC giao
cảm cổ sau) và cận lâm sàng (phim X – quang, Cắt lớp vi tính, Cộng hưởng từ
cột sống cổ) [3],[25],[34],[35],[36].


18

 Chẩn đoán phân biệt:
Bệnh lý cột sống cổ: Khối u cột sống cổ, viêm cột sống cổ nhiễm

-

khuẩn, chấn thương cột sống cổ, TVĐĐ cột sống cổ.
Bệnh lý trong ống sống cổ: U tủy, xơ cứng cột bên teo cơ, xơ cứng rải

-

rác.
Bệnh lý ngoài cột sống cổ: Viêm đám rối thần kinh cánh tay…

-


+ Chiếu đèn hồng ngoại.
+ Đắp bùn nóng.
+ Tắm nước khoáng, bơi.
+ Kéo giãn cột sống cổ… [3],[25],[37],[38],[39].
 Điều trị phẫu thuật: được chỉ định khi
-

Các dấu hiệu thần kinh tiến triển nặng hoặc đã điều trị bảo tồn tại cơ sở
chuyên khoa không kết quả.

-

Các dấu hiệu X – quang chứng tỏ có sự chèn ép thần kinh phù hợp với
thăm khám lâm sàng.

-

Trường hợp nặng có chỉ định phẫu thuật nới rộng khớp mỏm móc – đốt
sống [6],[7],[29],[34].

1.2.6.2. Phòng bệnh
-

Chống các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động.
Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột, sai tư thế khi mang vác, xách,

-

nâng các đồ vật…

- Nếu bệnh nhân có hội chứng tủy cổ, có thể bị liệt cứng nửa người hoặc
liệt cứng tứ chi tăng dần, nếu không được điều trị hợp lý có thể để lại di chứng.
- Thuốc điều trị cũng có thể gặp các tác dụng phụ không mong muốn khi
dùng kéo dài, như nhóm chống viêm giảm đau không steroid (gây loét dạ dày,
tá tràng…) [3],[6],[35].
1.3. Quan niệm về Thoái hóa cột sống cổ theo Y học cổ truyền
1.3.1. Bệnh danh Thoái hóa cột sống cổ theo Y học cổ truyền
Trong Y học cổ truyền, thoái hóa cột sống cổ không có bệnh danh
tương ứng riêng, mà được xếp chung vào chứng Tý, cụ thể là Kiên tý vì triệu
chứng thường gặp nhất là đau vai gáy.
Tý là sự bế tắc kinh mạch, khí huyết. Chứng Tý phát sinh trên cơ sở khí
huyết suy kém, âm dương không điều hòa, các tà khí từ bên ngoài thừa cơ
xâm phạm vào cân, cơ, khớp, xương, kinh lạc… làm bế tắc kinh mạch, khí
huyết không lưu thông gây đau; hoặc do người cao tuổi chức năng các tạng
phủ suy yếu, thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng
được cân, tỳ hư cơ nhục yếu mà gây ra xương khớp đau nhức, sưng nề, cân co
cứng, teo cơ, vận động khó khăn…[8],[9],[40],[41].
1.3.2. Nguyên nhân và thể bệnh
1.3.2.1. Nguyên nhân
Nguyên nhân gây chứng Tý rất đa dạng bao gồm:
-

Ngoại nhân: phong, hàn, thấp, nhiệt tà kết hợp xâm nhập cơ thể.


21

-

Nội nhân: rối loạn tình chí, tiên thiên bất túc hoặc sau kinh nguyệt, sinh

- Thể khí trệ huyết ứ:


22

+ Triệu chứng chính: đau nhức, tê vùng đầu, cổ, vai và ngực lưng; tê, đau
nhói cố định, đau tăng về đêm, ban ngày đỡ đau, đau cự án, co cứng cơ tại
chỗ và tứ chi, kích thích khó chịu. Miệng khô, lưỡi tím, có thể có điểm ứ
huyết, mạch huyền hoặc sáp.
Thể khí trệ huyết ứ thường ít xuất hiện đơn thuần mà kết hợp với các thể
lâm sàng khác của chứng Kiên tý.
+ Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ, thông kinh hoạt lạc chỉ thống.
+ Phương dược: Đào hồng ẩm gia giảm.
+ Châm cứu: Hậu khê (VI.3), Thân mạch (VII.62), Hợp cốc (II.4), Tam âm
giao (IV.6), A thị huyệt [42].
- Thể khí huyết hư kèm huyết ứ:
+ Triệu chứng chính: đau đầu và cổ, hạn chế vận động vùng cổ và yếu tứ
chi đặc biệt hai chi trên, tê vùng vai và cánh tay. Mệt mỏi, mất ngủ, hay mơ,
ra mồ hôi trộm, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp trống ngực, hơi thở ngắn; sắc mặt
xanh. Rối loạn kinh nguyệt ở nữ. Lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
+ Pháp điều trị: Bổ khí dưỡng huyết, thông kinh hóa ứ.
+ Phương dược: Hoàng kỳ Quế chi Ngũ vị thang gia vị.
+ Châm cứu: Túc tam lý (III.36), Đại chùy (XIII.14), Cách du (VII.17),
Can du (VII.18), Tỳ du (VII.20), Tam âm giao (IV.6), Hợp cốc (II.4) [42].
- Thể can thận âm hư:
+ Triệu chứng chính: đau nhức vai gáy và ngực lưng, đau căng đầu, tê và
yếu tứ chi, đau mỏi lưng gối, hoa mắt chóng mặt, nhìn mờ, triều nhiệt, ra mồ
hôi trộm. Miệng họng khô, lưỡi đỏ ít rêu; mạch tế sác.
+ Pháp điều trị: Tư dưỡng can thận, hoạt huyết thông kinh lạc.
+ Phương dược: Hổ tiềm hoàn gia vị.

thể phong hàn thấp tý kèm can thận hư cần dùng pháp công bổ kiêm trị thì


24

"Quyên tý thang" là bài thuốc cổ phương thường được sử dụng (Khương hoạt,
Hoàng kỳ, Sinh khương, Khương hoàng...) [46],[47],[48],[49],[50].
Về điều trị không dùng thuốc, thủ thuật xoa bóp bấm huyệt thường được
sử dụng trong điều trị giảm đau do THCSC. Xoa bóp bấm huyệt với đặc điểm
dùng bàn tay, ngón tay là chính để tác động lên huyệt, da thịt, gân khớp với
các mức độ từ nông đến sâu, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, có tác
dụng làm giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, làm giãn cơ, đặc biệt là những
nhóm cơ đã bị co cứng trước đó. Trong THCSC có hiện tượng co cứng các
nhóm cơ cạnh sống gây đau, hạn chế vận động. Xoa bóp giúp cải thiện các
tình trạng trên và làm tăng tính linh hoạt của các khớp. Theo YHCT, xoa bóp
thông qua tác động vào các huyệt vị, kinh lạc để khu tà, điều hòa được dinh
vệ, thông kinh hoạt lạc và điều hòa chức năng tạng phủ. Một số động tác cơ
bản được tiến hành ở vùng CS cổ như: xoa, xát, day, ấn huyệt (Giáp tích, Kiên
tỉnh, Phong trì, Đại chùy, Kiên ngung, A thị huyệt…), vận động CS cổ...
Châm cứu là một trong những phương pháp chữa bệnh có lịch sử lâu đời
của YHCT phương Đông. Châm cứu được sử dụng để chữa bệnh ở Trung
Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên và nhiều quốc gia trên thế giới [10].
Cơ chế tác dụng của châm cứu là điều hòa âm dương, và điều chỉnh cơ
năng hoạt động của hệ kinh lạc để điều trị bệnh tật [9],[10]. Châm cứu có bổ
có tả, tác dụng của hai thủ thuật này là để điều khí, khi khí được điều hòa thì
huyết sẽ hòa, khí huyết hòa thì kinh mạch thông sướng, âm dương được nuôi
dưỡng tốt, gân xương vững chắc, các khớp vận động được linh hoạt.
Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng chữa bệnh của
châm với tác dụng của dòng điện qua máy điện châm. Đây là phương pháp
mới có sự kết hợp giữa YHCT và YHHĐ, để tăng tác dụng đắc khí và dẫn khí

Từ giữa xương chẩm (C1) đo
mũi kim về
Túc thiếu ngang ra 2 thốn, huyệt ở chỗ
nhãn cầu bên
dương Đởm trũng phía ngoài cơ thang, phía
đối diện
trong cơ ức đòn chũm.
0,5 – 0,8 thốn
Châm chếch,
Chỗ lõm dưới mỏm gai đốt sống
hướng kim
Mạch Đốc cổ 7 hay trên mỏm gai đốt sống
lên trên 0,5 –
lưng 1.
1 thốn
Túc thái
Châm chếch
Từ giữa khe D1 – D2 đo ngang
dương Bàng
0,5 thốn
ra 1,5 thốn.
quang
Ở trên vai, nằm giữa đường nối Châm thẳng
Túc thiếu
từ Đại chùy (XIII.14) đến đỉnh 0,5 thốn
dương Đởm
vai.
Thủ dương Ở giữa mỏm cùng vai và mấu Châm thẳng
minh Đại chuyển lớn xương cánh tay, ngay 0,5 – 1 thốn
trường

0,5 – 0,8 thốn
Tùy theo vị
trí huyệt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status