Phần I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự
lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân
người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành;
lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã
hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật
khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng
sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các
bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện
đại hóa giáo dục và đào tạo.
Mặt khác Hiện tượng "quá tải" trong nhà trường phổ thông là một thực tế
gây bức xúc xã hội. Hiện tượng ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên
nhân về chương trình và sách giáo khoa. Để khắc phục tình trạng này, phải tiến
hành đồng bộ nhiều giải pháp. Riêng về chương trình và sách giáo khoa hiện
hành, thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những giải pháp nhằm khắc
phục hạn chế như: Rà soát lại chương trình và sách giáo khoa, qua đó bỏ bớt
1
2
Dạy học tích hợp là dạy học, trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để
học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; qua đó hình thành
những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là
năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích
hợp sẽ giúp cho việc giảm số môn học và lồng ghép được các vấn đề thời sự của
cuộc sống vào các môn học và hoạt động giáo dục.
Dạy học phân hoá là dạy học theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm −
sinh lí, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm
năng riêng vốn có của mỗi người học; người học được chủ động lựa chọn các
môn học hoặc chủ đề phù hợp với năng lực và sở thích của mình.
Mặt khác, Hòa Bình là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn; Tình hình kinh
tế xã hội còn chưa phát triển kịp so với các tỉnh đồng bằng. Hoà Bình có địa
hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn.
Giáo dục Hòa Bình đã có nhiều sự nỗ lực, xong chất lượng học sinh còn
nhiều bất cập và gặp khó khăn trong công tác dạy học. Số lượng học sinh sau khi
tốt nghiệp đi làm và học nghề chiếm đa số.
Tuy nhiên, hầu hết các em còn gặp khó khăn trong công tác chọn lựa nghề
nghiệp sau này, kỹ năng, năng lực còn hạn chế về nhiều mặt.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
TIẾP CẬN DẠY HỌC TÍCH HỢP
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được 1 chuyên đề dạy học phù hợp với năng lực, sở thích học
sinh cấp THPT vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu
các văn bản, tài liệu đã có và băng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận
khoa học cần thiết.
3.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích
chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng. Tổng hợp là liên kết
từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết
mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.
4
3.2.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng
vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa là
sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự
hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn.
3.2.3 Phương pháp mô hình hóa
Là phương pháp nghiên cứu các đối tượng bằng xây dựng gần giống với
đối tượng, tái hiện lại đối tượng theo các cơ cấu, chức năng của đối tượng.
3.2.4 Phương pháp giả thuyết
Là phương pháp đưa ra các dự đoán về quy luật của đối tượng sau đó đi
chứng minh dự đoán đó là đúng.
3.2.5 Phương pháp lịch sử
Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá
trình phát triển của đối tượng từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng
4. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Năm học 2016-2017
Từ tháng 6 đến tháng 9: Xây dựng đề cương, Sưu tầm tài liệu, viết tổng
quan, phân công nhiệm vụ
Từ tháng 9 đến tháng 12: Nghiên cứu thực tiễn, xây dựng các bài toán liên
Đảng đã khẳng định: GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư phát triển; Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và toàn dân; mục
tiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; giáo
dục phải gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ; đa dạng hóa các loại hình giáo dục; học đi đôi với hành, giáo dục
nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình, xã hội; thực hiện công bằng trong
giáo dục…
Hiện nay trào lưu đổi mới, cải cách giáo dục có tính chất thời đại đang trở
thành phổ biến, nổi bật hiện nay trên thế giới, nên Việt Nam phải nhanh chóng
hội nhập. Thực chất cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia hiện nay trên thế giới
là cạnh tranh giáo dục. Giáo dục phát triển, kinh tế sẽ mạnh. Do vậy, hầu hết các
quốc gia dù là chậm phát triển, đang phát triển hay phát triển đều tiến hành canh
tân, đổi mới hoặc cải cách giáo dục. Đây là xu thế mang tính toàn cầu, với
những mức độ khác nhau tùy theo từng khu vực và từng quốc gia. Nếu tính từ
6
thế kỷ trước, về tổng thể đã diễn ra 4 cao trào chính. Quá trình hội nhập quốc tế
sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, tạo cơ hội thuận lợi cho
nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện
đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục.
Căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, yêu cầu phát triển giáo dục, Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”(2). Tháng 10/2013, Hội nghị
Trung ương 8 đã thông qua Nghị quyết 29-NQ/TW về giáo dục, xin nêu tóm tắt
một số nội dung cơ bản của Nghị quyết.
Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo:
“”Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp
thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ
chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng,
chương trình mới, sách giáo khoa mới theo hình thức cuốn chiếu đối với mỗi
cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông?
Những nội dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định:
- Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực
công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp học sinh.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
khuyến khích học tập suốt đời.
- Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn
sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có
tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ
sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học
sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện
giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
- Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ
giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
- Mục tiêu trên so với mục tiêu lâu nay có những điểm mới. Trước hết là
việc nhấn mạnh tập trung hình thành "năng lực công dân; năng lực thực hành và
vận dụng kiến thức vào thực tiễn". Phát triển năng lực là một trong những yêu
cầu quan trọng, thể hiện rõ nhất việc đổi mới mục tiêu giáo dục lần này. Năng
9
lực được hiểu là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ,
động cơ, hứng thú…) nhằm thực hiện công việc có hiệu quả. Quan niệm này chi
phối toàn bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, từ nội dung, phương pháp đến
đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình
trạng quá chú trọng vào trang bị kiến thức hàn lâm, kinh viện; người học biết
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,
giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức
xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua
thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã
từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới
của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung.
Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là
yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế
theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải
đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra
đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Nếu không đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự
phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự
cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải
đổi mới. Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn
nhân lực và về khoa học và công nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bước vào
thế kỉ XXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục.
Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác
định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn
bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân".
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại.
Trung ương ban hành Nghị quyết để thống nhất nhận thức và hành động; phát
huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, huy động các nguồn lực với sự phối hợp của
nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục.
11
12
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề
nghiệp.
- Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức;
phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, thiếu thực chất; thiếu
gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu
của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối
sống và kĩ năng làm việc.
- Hệ thống giáo dục thiếu tính liên thông giữa các trình độ đào tạo và các
phương thức giáo dục, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập
quốc tế. Chưa gắn đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động.
- Quản lí giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, là nguyên nhân của
nhiều yếu kém khác, nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, gây bức
xúc xã hội.
- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất
lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát
triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài
chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu và
lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nguyên nhân chủ
yếu của những hạn chế, yếu kém:
- Việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về
phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng
đầu" còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế
hoạch và chương trình phát triển giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của
xã hội.
2. Bài toán thực tiễn và Định hướng cách giải quyết
2.1. Nghề kinh doanh tạp hóa
Bài toán 1: Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
Đoàn trường THPT 19-5 tổ chức Hội chợ. Giả sử Lớp em được giao 1 gian
hàng tại Hội chợ chào mừng ngày 26-3. Với cương vị là Bí thư chi đoàn, em hãy
lập kế hoạch triển khai, phân công các thành viên và áp dụng thực tế, đánh giá
số tiền lãi (lợi nhuận) thu được?
Định hướng giải quyết:....
Bài toán 2: ...
Định hướng giải quyết:....
...
Bài toán n: ...
Định hướng giải quyết:....
2.2. Nghề buôn bán Trâu -bò
Bài toán 1: Giả sử có 1 người mang Trâu đến bán, người này Yêu cầu bán
tù mù với giá 18 triệu đồng. Em gọi điện cho người mua Trâu và nhận được câu
trả lời: 170.000đ/kg Trâu móc hàm. Em sẽ làm gì?
Định hướng giải quyết:....
Bài toán 2: ...
Định hướng giải quyết:....
...
Bài toán n: ...
Định hướng giải quyết:....
16
thú, kỹ năng, năng lực,... của học sinh
Thông qua đó đánh giá hiệu quả của đề tài
2. Kết quả thực nghiệm
Đánh giá kết quả áp dụng đề tài đối với học sinh tại trường THPT 19-5
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Báo cáo kết quả thống kê các phiếu điều tra
Phỏng vấn giáo viên, học sinh không thuộc đối tượng áp dụng nhằm đánh
giá kết quả một cách khách quan
18
Phần III: KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN CHUNG
Kết luận về kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Kết luận về hiệu quả, tính hứng thú học sinh
Kết luận về tính hiệu quả theo đề án đổi mới giáo dục
2. ĐỀ NGHỊ
- Đề xuất hướng ứng dụng, triển khai nhân rộng
- Kiến nghị với Bộ GD&ĐT
- Kiến nghị với Sở GD&ĐT
- Kiến nghị với nhà trường, Tổ nhóm bộ môn
Kim Bôi, ngày 22 tháng 9 năm 2016
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
NHÓM NGHIÊN CỨU
Nguyễn Trung Kiên …………….