I. MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài:
Làm thế nào để trở thành người giáo viên hiệu quả trong bối cảnh văn học
nhà trường có nhiều chuyển biến như hiện nay? Đó là điều tôi luôn trăn trở tìm
hướng giải quyết để việc dạy học Ngữ văn có chất lượng, hiệu quả cao.
Giữa văn học nhà trường với học sinh THPT ngày nay có một khoảng
cách không nhỏ về tâm lí tiếp nhận và khám phá, sáng tạo. Điều này không chỉ
do tâm lí lứa tuổi mà còn do tác động của sự hội nhập, bùng nổ công nghệ thông
tin hiện nay. Học sinh có thể tiếp cận tri thức từ nhiều nguồn, nhiều kênh khác
nhau, các thông tin ấy rất phong phú và đa chiều. Đó vừa là điều kiện tốt để các
em tự tìm kiếm tri thức nhưng cũng không ít em đã sa đà vào các trò chơi điện
tử, các trang mạng xã hội,...để rồi mai một văn hóa đọc, mất dần hứng thú với
những tác phẩm văn học trong nhà trường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để học
sinh tự lực chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng
giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Đó thực sự là những thách
thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường và giáo viên nói riêng.
Hơn nữa, qua những tiết dạy hoặc dự giờ, những buổi trao đổi chuyên
môn, tôi nhận thấy: Học sinh không hứng thú và khó tiếp nhận các văn bản văn
học thời kì trung đại; Nếu giáo viên chỉ dạy học theo phương pháp truyền thống
thì tiết học thực sự không hiệu quả. Học sinh không hứng thú, ít ấn tượng vẻ đẹp
của tác phẩm, không vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Quả là “cách
làm cũ khó có kết quả mới” như giáo sư Trần Đình Sử từng nhận định khi bàn
về đổi mới giáo dục.
Từ đó tôi ý thức sâu sắc: Để hoạt động dạy học Ngữ văn thực sự hiệu quả
thì giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp dạy học theo chủ đề
tích hợp liên môn với các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhóm, sơ đồ tư
duy,...theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Có như vậy thì giáo viên
mới thực sự là người truyền lửa, khơi dậy hứng thú, đam mê của học trò đối với
văn chương. Học sinh mới thực sự phát huy vai trò chủ thể của quá trình dạy –
học, chủ động chiếm lĩnh tri thức, vận dụng được vốn hiểu biết, các kĩ năng vào
học tập và cuộc sống.
Ngữ văn 11 tập 1, tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài, soạn bài giảng theo
phương pháp, kế hoạch đã đề ra.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Điều tra, khảo
sát thực tế dạy học ở trường THPT Triệu Sơn 1 để thấy được hiệu quả của việc
áp dụng phương pháp dạy học tích hợp theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê và xử lý số liệu ở lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng. Qua đó thấy được hiệu quả của đề tài.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
II.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực nêu rõ: Giáo viên chủ yếu là
người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và lĩnh hội tri thức, chú trọng khả năng giải
quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, chú trọng sử dụng các quan điểm, phương
pháp kĩ thuật dạy học tích cực [1]. Dạy học theo định hướng năng lực cho phép
cá nhân hóa việc học: Trên cơ sở mô hình năng lực, người học sẽ bổ sung những
thiếu hụt của cá nhân để thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình. Dạy theo định
hướng năng lực chú trọng vào kết quả đầu ra [1]. Như vậy, trong tiết học ta nên
kết hợp với việc tổng hợp kiến thức bằng sơ đồ tư duy để học sinh khái quát
kiến thức bài học có hệ thống và nhớ kiến thức lâu hơn.
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ học Ngữ văn cấp THPT, cần
đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức dạy học trong việc thiết kế bài học. Thiết kế
phải thể hiện rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu trong tiến trình
2
tổ chức dạy học. Bằng việc vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học, thiết kế bài
học cần theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của học sinh trong
quá trình dạy học với các bước: Khởi động/ Hình thành kiến thức/ Thực hành
luyện tập/ Vận dụng/ Mở rộng, bổ sung, phát triển ý tưởng sáng tạo [2].
Về thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học tạo được
+ Văn bản “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (Sa hành đoản ca) của Cao Bá
Quát là một bài thơ khó tiếp nhận đối với học sinh. Tác phẩm được viết bằng
chữ Hán, mang đặc trưng thể loại của văn học trung đại, sử dụng điển tích, hình
ảnh thơ giàu tính biểu tượng, tâm tư nhân vật trữ tình phong phú, sâu sắc,... nên
học sinh khó hiểu, thường có tâm thế không thích ngay khi bắt đầu tiếp cận.
3
Vì vậy, cần phải dạy học văn bản “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (Sa hành
đoản ca) của Cao Bá Quát theo định hướng năng phát triển lực để giúp học sinh
chủ động nắm vững kiến thức và hứng thú hơn đối với bài học này nói riêng,
môn Ngữ văn nói chung.
II.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
*BƯỚC 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học: Đọc hiểu văn bản
“Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (“Sa hành đoản ca”) - Cao Bá Quát.
*BƯỚC 2: Xác định nội dung chủ đề bài học.
1. Nội dung 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm.
2. Nội dung 2: Tìm hiểu chi tiết nội dung của văn bản:
2.a. Tìm hiểu hình tượng bãi cát và đường cùng: ý nghĩa tả thực, ý nghĩa biểu
tượng.
2.b. Tìm hiểu hình tượng lữ khách: Hoàn cảnh và tâm tư. (Tâm trạng, thái độ, tư
tưởng)
3.Nội dung 3: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ.
4. Nội dung 4: Luyện tập, kiểm tra đánh giá, vận dụng, mở rộng.
*BƯỚC 3: Xác định mục tiêu bài học.
a. Kiến thức: - Giúp học sinh:
+ Hiểu về cuộc đời, con người tác giả và hoàn cảnh sáng tác, thể loại hành.
+ Cảm nhận được hình tượng bãi cát, đường cùng và “lữ khách”.
+ Vận dụng kiến thức tổng hợp ở các môn học địa lí, lịch sử, vật lí, giáo dục
công dân để lí giải, chiếm lĩnh tri thức mới.
- Nêu được
nét chính về
tác giả, hoàn
cảnh
sáng
tác, thể loại
của tác phẩm.
Tìm
hiểu
chi
tiết
văn
bản
Hình
tượng
bãi cát
dài và
con
đường
cùng
- Xác định
các
hình
tượng nghệ
thuật trong
tác phẩm.
Hình
- Hiểu được tác động - Vận dụng sơ đồ tư duy để
hoàn cảnh sáng tác đến khái quát kiến thức chung
việc thể hiện nội dung phần tiểu dẫn.
tư tưởng bài thơ.
- Chỉ ra đặc điểm thể
hành ở trong tác phẩm.
- Phân tích đặc điểm
hình tượng bãi cát và
con đường cùng.
- Phân tích ý nghĩa
biểu tượng của hình
tượng trên.
- Vận dụng kiến thức địa lí,
vật lí đã học, chỉ ra nguyên
nhân các đặc điểm của bãi
cát và việc đi trên cát.
- Khái quát, so sánh, nhận
xét về hình tượng bãi cát
dài và con đường cùng.
- Phân tích hoàn cảnh - Khái quát, đánh giá về
và tâm tư của lữ khách hình tượng lữ khách.
khi đi trên bãi cát và
đường cùng.
-Vận dụng sơ đồ tư duy để
khái quát kiến thức bài học.
- Đánh giá giá trị nội dung
và nghệ thuật.
về công danh sự nghiệp của
thanh niên ngày nay.
*BƯỚC 5: Biên soạn câu hỏi cho từng nội dung theo các mức độ yêu cầu đã
mô tả.
1. Nội dung 1: Tìm hiểu chung:
*Câu hỏi ở mức độ nhận biết:
- Nêu những nét chính về tác giả Cao Bá Quát?
- Dựa vào kiến thức lịch sử và tiểu dẫn, nêu hoàn cảnh sáng tác ?
- Bài thơ được viết bằng ngôn ngữ nào? Thể loại gì? Đặc điểm thể loại ấy?
*Câu hỏi thông hiểu: Con người, cuộc đời Cao Bá Quát và hoàn cảnh sáng tác
đã tác động như thế nào đến bài thơ?
*Câu hỏi vận dụng và vận dụng cao: Hãy khái quát nội dung mục Tìm hiểu
chung thành sơ đồ tư duy.
2. Nội dung 2: Tìm hiểu chi tiết nội dung văn bản.
2.a. Tìm hiểu vẻ đẹp hình tượng bãi cát và đường cùng trong văn bản.
*Câu hỏi nhận biết: Hãy chỉ ra những chi tiết trong bài thơ miêu tả bãi cát và
đường cùng?
*Câu hỏi thông hiểu:
- Hình ảnh bãi cát và đường cùng được khắc họa trong bài thơ có đặc điểm gì?
Việc đi trên cát được tác giả khắc họa như thế nào?
- Nhà thơ dùng hình ảnh bãi cát và đường cùng diễn tả điều gì về cuộc sống?
- Biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng để gợi lên hình tượng bãi cát và
đường cùng? Ý nghĩa của các biện pháp ấy?
*Câu hỏi vận dụng và vận dụng cao:
- Vận dụng kiến thức đã biết về các môn địa lí, vật lí, hãy lí giải nguyên nhân
các đặc điểm của bãi cát, đường cùng và cảm giác khi đi trên cát được khắc họa
trong bài thơ.
- Hãy tìm một số câu thơ trung đại viết về hình ảnh bãi cát và con đường cùng.
So sánh với hình ảnh bãi cát và đường cùng trong bài thơ này?
- Em có nhận xét gì về hình tượng bãi cát và đường cùng trong tác phẩm?
dụng của biện pháp ấy?
- Cao Bá Quát có thái độ như thế nào đối với danh lợi và phường danh lợi?
*Câu hỏi vận dụng và vận dụng cao:
- Cảm nhận một đoạn trích trong tác phẩm.
- Viết một đoạn văn thuyết minh về tác giả Cao Bá Quát.
- Qua việc học tác phẩm “ Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát, em hãy
viết một đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về việc theo đuổi công danh sự nghiệp của
thanh niên ngày nay.
*BƯỚC 6: Thiết kế tiến trình dạy học.
Hoạt động 1 : Khởi động
Hoạt động của GV và HS
- Gv: Chiếu video vùng cát trắng, núi, biển (Slide
1) và bản đồ Việt Nam, bắc miền Trung, hình ảnh
người đi trên cát. (Slide 2)
- GV hỏi: Các hình ảnh trên gợi cho em nghĩ đến
Yêu cầu cần đạt
7
vùng đất nào trên đất nước ta? Em có ấn tượng gì
về vùng đất ấy?
- HS: Hình ảnh trên gợi đến vùng Quảng Bình,
Quảng Trị có những dải cát trắng kéo dài liên tiếp,
phía đông giáp biển, phía tây là dãy Trường Sơn,
phía bắc, phía nam đều có núi non trùng điệp.
- GV: Em nào đã đi trên những dải cát trắng như
vậy? Hãy chia sẻ cảm giác của em về trải nghiệm
ấy.
phê phán mạnh mẽ chế độ nhà Nguyễn trì trệ, bảo
thủ, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt
Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.
- GV nhận xét, chốt ý.
- GV giới thiệu một số công trình nghiên cứu về
thơ văn Cao Bá Quát. (GV trình chiếu slide 4)
Yêu cầu cần đạt
I.Tìm hiểu chung .
1.Tác giả: [5].
- Cao Bá Quát (1809?1855) là nhà thơ tài năng,
bản lĩnh, giàu tâm huyết với
đời.
- Cuộc đời gặp nhiều lận
đận, trắc trở, nhất là đường
công danh, hi sinh trong
cuộc khởi nghĩa chống lại
nhà Nguyễn.
- Thơ văn: Chủ yếu viết
bằng chữ Hán; thể hiện thái
độ phê phán mạnh mẽ chế
độ nhà Nguyễn trì trệ, bảo
thủ, phản ánh nhu cầu đổi
mới của xã hội Việt Nam
trong giai đoạn giữa thế kỉ
XIX.
- GV: Dựa vào tiểu dẫn và kiến thức lịch sử đã 2. Tác phẩm:
8
hiểu chung bằng sơ đồ tư duy.
- HS làm việc cá nhân, trình bày. GV nhận xét,
khái quát. (GV trình chiếu slide 5)
II. Đọc hiểu chi tiết văn bản theo hình tượng.
* GV hướng dẫn HS đọc: Đọc cả ba phần phiên
âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Đọc chính xác, thể hiện
sự suy tư, day dứt. Chú ý đúng ngữ điệu các câu
hỏi, câu cảm thán.
- HS đọc. GV nhận xét.
- GV: Em thấy trong bài thơ có những hình tượng
nghệ thuật nào?
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bối cảnh lịch sử, thời đại:
Chế độ phong kiến nhà
Nguyễn khủng hoảng, trì
trệ. Chế độ khoa cử nghiệt
ngã, nhiều bất công. Lí
tưởng tiến thân của tầng lớp
trí thức đương thời khủng
hoảng trầm trọng. [6].
- Hoàn cảnh trực tiếp: Cao
Bá Quát nhiều lần đi đi thi
Hội mà không đỗ, ông đi
qua các tỉnh miền Trung
đầy cát trắng, những trải
nghiệm ấy đã gợi cảm hứng
để sáng tác bài thơ này.
II. Đọc hiểu văn bản
+ Nhà thơ dùng hình ảnh bãi cát dài và đường
cùng diễn tả điều gì trong cuộc sống?
-HS làm việc nhóm, ghi kết quả ra phiếu học tập
(Phiếu số 2). Đại diện nhóm 1 trình bày. Các
nhóm khác nhận xét, bổ sung, hoàn thiện. GV
đánh giá, chốt ý. (GV trình chiếu slide 6)
+ Hình ảnh bãi cát được miêu tả trong bài thơ có
đặc điểm: dài, nối tiếp nhau vô tận, đường cùng
thì “ghê sợ”, “phía bắc núi bắc núi muôn trùng,
phía nam núi nam sóng dào dạt”. Phải đi trên con
đường như vậy bất cứ ai cũng cảm thấy vô cùng
khó nhọc, mệt mỏi. Đây là trải nghiệm của chính
Cao Bá Quát khi nhiều lần đi qua vùng cát trắng
miền Trung để vào Huế thi Hội.
-Hình ảnh tả thực:
+ Đặc điểm: bãi cát dài, nối
tiếp nhau, mờ mịt và đường
cùng ghê sợ, phía bắc núi
bắc, phía nam núi nam,
sóng dào dạt.
10
+ Dải đất miền Trung, nhất là hai tỉnh Quảng
Bình, Quảng Trị có bề ngang rất hẹp, phía Tây là
dãy Trường Sơn, phía Đông là biển, đất dốc, lại bị
phong hóa mạnh, bão lũ hoặc khô hạn thường
xuyên nên đã hình thành nên những trảng cát dài
với hình ảnh bãi cát dài và đường cùng trong bài
thơ này. Em có nhận xét gì về những hình ảnh
trên.
+ Nghệ thuật: Điệp ngữ:
“trường sa” (“bãi cát dài”)
đối: “Đường bằng thì mờ
mịt – Đường ghê sợ thì
nhiều”; “Phía bắc núi bắc
núi muôn trùng - Phía nam
núi nam,sóng dào dạt”đã tô
đậm hình ảnh bãi cát dài
mênh mông và
đường
cùng đầy khó khăn, ghê sợ.
à Đây là con đường khó đi,
ghê sợ, đi trên bãi cát sẽ có
cảm giác như bị lún xuống,
lùi lại nên rất khó nhọc, vất
vả.
- Ý nghĩa biểu tượng của
hình ảnh bãi cát và đường
cùng: Con đường đầy
chông gai, gian khổ, bế tắc
mà kẻ sĩ buộc phải dấn thân
để mưu cầu công danh, sự
nghiệp.
11
- HS trả lời. Dự kiến:
+ Khách rơi vào hoàn cảnh: đi trên bãi cát dài vô
tận, mịt mờ, đường đi rất khó khăn - “đi một bước
như lùi một bước”. Dù trời đã gần tối -“mặt trời
đã lặn” nhưng không thể nghỉ ngơi - “chưa dừng
được”. Đó quả là hoàn cảnh khó khăn, khốn khổ.
-GV nhận xét, chiếu slide 7 và chốt ý.
Hình tượng bãi cát dài
và đường cùng là hình ảnh
tả thực sinh động nhưng
cũng giàu ý nghĩa biểu
tượng cho đường đời,
đường công danh mịt mù,
bế tắc. Đây là sự kế thừa và
sáng tạo độc đáo của tác
giả.
2. Hình tượng lữ khách
a.Hoàn cảnh:
+ Không gian: bãi cát dài
vô tận, mịt mờ.
+Thời gian: “Mặt trời đã
lặn” - trời bắt đầu tối.
+Tình cảnh: “Đi một bước
như lùi một bước, mặt trời
đã lặn chưa chưa dừng
được”.
=> Hoàn cảnh khó khăn,
khổ ải.
rơi” cho thấy trạng thái mệt mỏi, kiệt sức, chán
nản của lữ khách. Đó cũng chính tâm trạng buồn
đau, phẫn uất của Cao Bá Quát. Mỗi lần đi thi là
một lần thất bại cay đắng, một lần thụt lùi trên con
đường thực hiện lí tưởng, một lần thêm buồn nản
trước đường công danh lận đận, đường đời vô
vọng. Dẫu thế nhưng vẫn phải đi tiếp nên nỗi lòng
đầy đau khổ. (GV trình chiếu slide 9)
Câu 2: Ở hai câu thơ “Không học được tiên ông
phép ngủ - Trèo non lội suối giận khôn vơi!”- Lữ
khách đã trách mình không học tiên ông có phép
ngủ kĩ, cứ đọa đày bản thân trên con đường gian
khổ. Giọng điệu trách móc pha chút tự trào. Đằng
sau lời tự trách pha chút tự trào ấy là một trí thức
đã chán ngán việc theo đuổi công danh sự nghiệp,
bất hòa sâu sắc với hiện thực nhưng cao ngạo từ
* Tâm trạng của lữ khách ở
4 câu đầu:
-Nhịp thơ chậm, gợi bước
chân nặng nhọc của người
đi trên cát.
- Các từ:“lại”,“nước mắt
rơi” cho thấy nỗi buồn đau,
chán ngán.
* Tâm trạng, thái độ của lữ
khách ở hai câu thơ 5,6:
Khách tự trách mình không
học“tiên ông phép ngủ”, cứ
băn khăn, hoang mang choán đầy tâm trí người đi. -“Khúc đường cùng”: ẩn
Không biết nên dừng lại hay đi tiếp trên con dụ cho niềm bi phẫn, bế
đường ghê sợ, mờ mịt; nếu đi tiếp cũng chưa biết tắc, tuyệt vọng trước cuộc
sẽ đi con đường nào. Đó cũng chính là nỗi day đời.
dứt, bế tắc của tác giả trên con đường mưu cầu -“Anh còn đứng làm chi
công danh. Câu hỏi cuối bài là lời tự vấn chất chưá trên bãi cát?”- Câu hỏi
nỗi niềm bi phẫn, tuyệt vọng mà còn thể hiện khát cuối bài chứa đựng nỗi băn
khao muốn thoát khỏi cuộc sống ngột ngạt, bế tắc. khoăn, mong muốn thay đổi
cuộc sống đương thời, khát
(GV kết hợp trình chiếu slide 12)
khao sự đổi mới, thoát khỏi
- Cách xưng hô đối với nhân vật trữ tình trong bài cuộc sống trì trệ, bế tắc.
thơ có gì đặc biệt? Dụng ý nghệ thuật của cách - Tác giả dùng 3 đại từ
nhân xưng: khách, ta, anh
xưng hô ấy?
- HS: Tác giả đã dùng ba đại từ nhân xưng khác để chỉ nhân vật trữ tình nhau: khách - lữ khách (ngôi 3 số ít), quân – anh bản thân. Nhờ cách độc
(ngôi 2 số ít), ngã – ta (ngôi 1 số ít) để chỉ nhân thoại đa chiều ấy tâm trạng,
vật trữ tình, cũng chính là tác giả. Nhân vật trữ suy tư nội tâm được bộc lộ
tình được đặt ở nhiều vị trí khác nhau, độc thoại rõ nét.
đa chiều để bộc lộ những day dứt, khát khao trước
vấn đề thời đại. Đó là cách bộc lộ tâm tư đầy mới
mẻ, độc đáo, sáng tạo của Cao Bá Quát.
14
- GV nhận xét, chốt ý (Kết hợ chiếu slide 13)
- GV: Em có nhận xét gì về hình tượng nhân vật
trữ tình và hiểu thêm gì về tác giả?
- HS: Hình tượng nhân vật trữ tình có sự vận động
về tâm trạng, thái độ, tư tưởng. Qua đó thể hiện
phán học thuật, khoa cử,
chính sự nhà Nguyễn. - Bộc
lộ niềm khao khát đổi mới.
2. Nghệ thuật:
- Hình ảnh thơ vừa tả thực
vừa có ý nghĩa tiểu tượng
sâu sắc.
- Dùng nhiều đại từ nhân
xưng để chỉ nhân vật trữ
tình độc đáo, sáng tạo.
- Nhịp thơ, nhiều câu cảm
thán, câu hỏi thể hiện rõ
tâm trạng, suy tư.
à “Bài ca ngắn đi trên bãi
cát” là thi phẩm đặc sắc
của đời thơ Cao Bá Quát,
cũng là một trong những
đỉnh cao của thể loại hành
trong văn học trung đại Việt
Nam.
Hoạt động 3 : Luyện tập
15
Hoạt động của GV và HS
Yêu cầu cần đạt
GV phát phiếu bài tập cho
Phiếu học tập số 4.
HS (phiếu học tập số 4). HS Đáp án: Câu 1: b. Câu 2: c [6], Câu 3: a Câu 4:
* Bài tập :
1. Viết một bài văn thuyết minh về tác giả Cao Bá Quát.
2. Qua việc học tác phẩm “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”
của Cao Bá Quát, em hãy viết một đoạn văn bày tỏ suy
nghĩ về việc theo đuổi công danh sự nghiệp của thanh
niên ngày nay.
II.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
16
II.4.1. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục:
Tôi đã khảo sát học sinh 2 lớp 11B2 (Đối tượng thực nghiệm), 11B4 (Đối
tượng đối chứng) ở hai thời điểm trước tác động và sau khi tác động để thấy
được hiệu quả của sáng kiến.
Trước tác động hầu hết học sinh cả hai lớp đều không hứng thú với các
tác phẩm văn học trung đại nói chung, tác phẩm “Bài ca ngắn đi trên bãi
cát”nói riêng. Rất ít em biết đến và thấy được giá trị của bài thơ này.
Sau tác động, kết quả thu được ở lớp thực nghiệm tốt hơn hẳn so với lớp
đối chứng. Kết quả thu được qua bài kiểm tra cuối tiết (phiếu học tập số 4) hay
sau tiết học ở hai lớp (phiếu học tập số 5) như sau:
Bảng 1: Kết quả kiểm tra trong 5 phút cuối tiết học:
Lớp
Sĩ
số
Điểm 9-10
Số
%
Số
%
lượng
Sĩ
số
Điểm giỏi
Số
lượng
%
Điểm khá
Số
lượng
%
15%
37,5%
Điểm dưới 5
Số
%
lượng
0
2
0
Chênh lệch điểm trung bình
Lớp thực nghiệm
7,86
6,58
1,28
So sánh kết quả: Năm học 2017 – 2018 tôi đã áp dụng các giải pháp nêu
trong đề tài vào thực tiễn dạy học, cụ thể:
Lớp đối chứng 11B2 năm học 2017- 2018, sĩ số 40: tôi dạy chủ đề trên
bằng cách áp dụng các giải pháp như đã nêu trong đề tài.
17
Lớp thực nghiệm 11B4 năm học 2017- 2018, sĩ số 42: tôi dạy chủ đề trên
nhưng không áp dụng các giải pháp như đã nêu trong đề tài.
- Nhìn vào bảng số liệu 1 và 2, ta thấy: kết quả kiểm tra, đánh giá của học
sinh ở lớp thực nghiệm cao hơn so với lớp đối chứng. Trong đó tỷ lệ học sinh
đạt kết quả loại khá, giỏi ở lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt. Nhìn vào bảng 3 ta
thấy: chênh lệch kết quả điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn điểm
trung bình của lớp đối chứng. Kết quả này không phải ngẫu nhiên mà có, đó là
kết quả của tác động phương pháp dạy học mới đến học sinh lớp thực nghiệm.
- Mức độ nắm vững tri thức, kỹ năng của học sinh lớp thực nghiệm cũng
cao hơn lớp đối chứng: Học sinh lớp thực nghiệm hiểu bài một cách chắc chắn,
nắm được bản chất của nội dung bài học. Khả năng vận dụng tri thức của nhiều
môn học để giải quyết vấn đề tốt hơn. Các kĩ năng thuyết trình, hợp tác nhóm,
sáng tạo và sử dụng sơ đồ tư duy được phát huy tối đa. Nhờ đó học sinh lớp
thực nghiệm có hứng thú học tập hơn, không khí lớp học sôi nổi và bài học thực
hướng mới: Kết hợp giữa dạy học theo chủ đề tích hợp với dạy học theo định
hướng phát triển năng lực. Trên cơ sở đó, tổng hợp những bài giảng đạt giải
cao, có chất lượng tốt và in thành sách tài liệu để giáo viên có thể tiếp cận, tham
khảo, học hỏi lẫn nhau.
- Sở GD& ĐT Thanh Hóa cần mở nhiều hơn các chu kỳ bồi dưỡng thường
xuyên để giáo viên tiếp cận nhiều phương pháp dạy học mới và đưa vào thực tế
dạy học ở các trường THPT.
- Nhà trường tạo điều kiện về trang thiết bị dạy học để giáo viên có điều
kiện thực hiện các phương pháp dạy học mới.
- Trên đây là đề tài sáng kiến kinh nghiệm tôi đã thực hiện tại đơn vị
trường THPT Triệu Sơn 1 trong năm học vừa qua. Rất mong đề tài này được
xem xét, mở rộng hơn nữa để áp dụng cho nhiều bài học, nhiều đối tượng học
sinh, giúp các em yêu thích và say mê học Ngữ văn hơn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Nguyễn Thị Huyền
19