1
ÐẶT VẤN ÐỀ
Ung thư phổi (UTP) là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và là nguyên
nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở nhiều nước trên thế giới. Ước tính
trên thế giới có khoảng 1,8 triệu trường hợp ung thư phổi mới mắc trong năm
2012, chiếm khoảng 13% trong tổng số bệnh nhân ung thư. Ở nam giới, tỷ lệ
mắc ung thư phổi cao nhất ở châu Âu, Ðông Á, Bắc Mỹ và thấp nhất ở châu
Phi, cận Sahara. Với nữ giới, tỷ lệ mắc ung thư phổi cao ở các vùng Bắc Mỹ,
Bắc Âu, Tây Âu, Australia, NewZealand và Ðông Á . Tại Hoa Kỳ, có khoảng
225.000 trường hợp mới mắc bệnh UTP và hơn 160.000 người chết mỗi năm .
Tại Việt Nam, theo Globocan 2012, tỷ lệ mắc chuẩn UTP đứng thứ nhất ở
nam giới, với 38,8/100.000 dân và đứng hàng thứ ba ở nữ giới, với
10,5/100.000 dân , .
Chẩn đoán xác định UTP thường khó khăn nguyên do phổi là một cơ
quan nằm trong lồng ngực. Ở giai đoạn sớm của bệnh thường không có biểu
hiện lâm sàng, nếu có triệu chứng cũng không đặc hiệu dễ chẩn đoán nhầm
với các bệnh lý về phổi khác. Bệnh tiến triển âm thầm, đến khi các triệu
chứng trở nên rõ rệt thì bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Trong điều trị UTP phẫu thuật triệt căn là phương pháp hiệu quả nhất
nhưng chỉ khi tổn thương còn khu trú. Khi bệnh đã ở giai đoạn không mổ
được, hóa trị và xạ trị là những phương pháp điều trị chính.
Ngay từ năm 1994, Johnson đã báo cáo nghiên cứu áp dụng paclitaxel
điều trị ung thư phổi, cho thấy tăng tỷ lệ đáp ứng và đây là tiền đề để phát
triển các nghiên cứu giai đoạn III . Ðến năm 1996, tác giả Bunn nghiên cứu
và báo cáo cho thấy kết hợp paclitaxel/cisplatin tốt hơn rõ rệt với phác đồ
etoposide/cisplatin kinh kiển . Năm 2000, tác giả Gatzemeier công bố kết quả
nghiên cứu giai đoạn III với 414 bệnh nhân (BN) UTPKTBN cho thấy mặc dù
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Dịch tễ học, bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ
1.1.1. Dịch tễ học
Vào những năm 1930, UTP vẫn còn là một bệnh ít gặp, nhưng cho đến
nay căn bệnh này đã trở thành loại UT phổ biến nhất trên thế giới với số ca
mới mắc trung bình mỗi năm tăng khoảng 0,5%. Theo Globocan năm 2012,
các bệnh nhân UTP chủ yếu là nam giới với 1.242.000 ca và ở nữ giới là
583.000 ca. Chính vì thế tỷ lệ mắc UTP đứng hàng đầu ở nam giới và đứng
thứ 3 ở nữ giới sau UT vú và UT đại trực tràng , , .
Tại Việt Nam, ghi nhận cho thấy UTP có tỷ lệ mắc cao ở cả 2 giới. Tại
thành phố Hồ Chí Minh năm 2003, tỷ lệ mắc UTP chuẩn theo tuổi ở nam là
29,5/100.000 dân và 12,4/100.000 dân ở nữ. Tại Hà Nội giai đoạn 2004-2008
tỷ lệ này là 39,9/100.000 ở nam và 13,2/100/000 ở nữ .
Tại Bệnh viện K trong 10 năm từ 2001-2010 có 11.555 trường hợp UTP
nguyên phát được chẩn đoán và điều trị. Trong đó tỷ lệ nam/nữ gần bằng 4/1
và nhóm tuổi 50-59 chiếm tỷ lệ cao nhất.
1.1.2. Bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ
Thuốc lá, thuốc lào: Hút thuốc lá, thuốc lào là nguyên nhân chính gây
nên UTP, khoảng 90% trong số các ca được chẩn đoán UTP trên thế giới là
người hút thuốc lá. Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho kết quả tương tự .
Trong khói thuốc lá chứa hơn 7000 loại hóa chất, hơn 200 loại có hại cho sức
khỏe, hơn 60 chất được xác định là tác nhân gây ung thư. So với người chưa
hút thuốc thì người hút thuốc có nguy cơ bị UTP cao gấp 10-20 lần. Những
người sống trong môi trường có khói thuốc lá (hút thuốc lá thụ động) cũng có
tỷ lệ mắc UTP cao hơn người không hút thuốc khoảng 1,2 đến 1,5 lần , .
5
* Các biểu hiện tại chỗ của bệnh:
- Ho: Là triệu chứng hay gặp nhất của bệnh nhân UTP. Ho trong UTP do
nhiều nguyên nhân, có thể do khối u ở trung tâm, viêm phổi tắc nghẽn…
- Ho ra máu: Có nhiều mức độ khác nhau thường số lượng ít lẫn với đờm
thành dạng dây máu đỏ hoặc hơi đen, đôi khi chỉ khạc ra máu đơn thuần.
- Đau ngực: Là triệu chứng thường gặp, có thể xảy ra ở bệnh nhân UTP
giai đoạn sớm mà không có xâm lấn màng phổi, thành ngực hoặc trung thất.
- Khó thở: Các nguyên nhân gây khó thở ở bệnh nhân UTP bao gồm:
Khối u gây tắc nghẽn khí quản, phế quản gốc, tràn dịch màng phổi, tràn dịch
màng ngoài tim hoặc ở bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Viêm phổi, áp xe phổi: Do khối u chèn ép gây ứ đọng đờm, làm tăng
khả năng nhiễm trùng. Các bệnh nhân bị áp xe phổi nên được soi phế quản
ống mềm để xem có chít hẹp phế quản hay không.
* Các biểu hiện tiến triển của bệnh:
- Khàn tiếng: Khi khối u xâm lấn làm tổn thương dây thần kinh quặt
ngược trái dẫn đến liệt dây thanh âm trái.
- Nấc: Do tổn thương dây thần kinh hoành và dây thần kinh phế vị.
- Khó nuốt, nuốt đau: Do khối u hoặc hạch to chèn ép thực quản.
- Thở rít: Do tổn thương lòng khí quản chủ yếu do khối u xâm lấn vào
khí quản hoặc ít gặp hơn là do liệt dây thanh hai bên.
- Hội chứng tĩnh mạch chủ trên: Phù cổ mặt hoặc phù áo khoác do u chèn
ép tĩnh mạch chủ trên (bên phải) hoặc thân tĩnh mạch cánh tay đầu (bên trái).
- Hội chứng Pancoast - Tobias: Đau vai và cánh tay cùng bên với dị cảm
vùng da chi phối bởi đốt sống cổ 7 (C7) và ngực 1 (D1) do u xâm lấn đỉnh
phổi gây chèn ép đám rối thần kinh cánh tay.
- Hội chứng Claude-Bernard-Horner: Sụp mi, co đồng tử, lác ngoài, đau
- Các vị trí di căn khác có thể gặp trong UTP như da, mô mềm, tụy,
buồng trứng và tuyến giáp nhưng ít gặp trên thực tế lâm sàng.
* Các triệu chứng toàn thân:
- Chán ăn, gày sút cân là triệu chứng phổ biến.
- Thiếu máu, sốt.
Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của UTPKPTBN thường không đặc
hiệu nên chỉ có ý nghĩa gợi ý cho chẩn đoán , , .
7
1.2.2. Cận lâm sàng
1.2.2.1. Chẩn đoán hình ảnh
* Chụp Xquang phổi thường thẳng/nghiêng:
Chụp Xquang phổi thẳng - nghiêng là xét nghiệm quan trọng cho mọi
bệnh nhân nghi ngờ UTP. Chụp Xquang phổi chuẩn có thể xác định được vị
trí, kích thước, hình thái tổn thương (u và hạch). Các hình ảnh kèm theo như
xẹp phổi, viêm phổi, áp xe, tràn dịch màng phổi, tiêu xương sườn bệnh lí.
Đánh giá được mức độ xâm lấn trung thất, thành ngực, cột sống. Trên phim
nghiêng thấy được hạch to trung thất qua đó giúp cho chẩn đoán. Tuy nhiên
Xquang phổi thẳng/nghiêng cho phép phát hiện khối u có kích thước > 2cm.
* Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (CLVT):
- Được chỉ định ở hầu hết các trường hợp UTP, bên cạnh giá trị xác định
chẩn đoán, hướng dẫn chọc dò sinh thiết các tổn thương trong lồng ngực.
Chụp CLVT có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá giai đoạn bệnh,
xác định khả năng phẫu thuật và tiên lượng bệnh.
- Đối với u nguyên phát: Có thể phát hiện được khối u < 1 cm nhưng
không thấy được tổn thương < 0,5 cm.
- Đối với hạch: Trên phim CLVT thấy hạch < 1cm chủ yếu là hạch viêm
phản ứng không cần soi trung thất, hạch > 1cm cần soi trung thất trước khi cắt
các trường hợp mà kỹ thuật chẩn đoán thông thường cho kết quả âm tính.
Ngày nay người ta sử dụng PET/CT làm tăng hiệu quả trong việc phát hiện và
định vị tổn thương, giúp chẩn đoán giai đoạn bệnh, đánh giá đáp ứng điều trị,
mô phỏng lập kế hoạch xạ trị, theo dõi tổn thương tái phát và di căn sau điều
trị tuy nhiên phương pháp này khá tốn kém.
* Nội soi phế quản ống mềm:
9
Là một kỹ thuật quan trọng trong chẩn đoán UTP. Phương pháp này tương
đối phổ biến và rẻ tiền, cho phép quan sát được tổn thương qua đó lấy được
bệnh phẩm làm tế bào học, mô bệnh học và đánh giá khả năng phẫu thuật. Tuy
nhiên, nội soi phế quản ống mềm chỉ soi được đến nhánh phế quản thứ 6 (vùng
trung tâm và vùng giữa), không thấy được tổn thương ngoại vi.
* Nội soi phế quản huỳnh quang:
Là thủ thuật sử dụng ánh sáng xanh trong nội soi khí quản để quan sát
những tổn thương ác tính và tiền ác tính làm đổi màu ánh sáng mà không cần
thuốc khuếch đại huỳnh quang để phát hiện những tổn thương loạn sản, u tại
chỗ và những ung thư xâm lấn sớm không phát hiện được với nội soi khí quản
ánh sáng trắng.
* Tế bào học:
Là một phương pháp quan trọng trong chẩn đoán UTP. Trong nhiều
trường hợp không thể sinh thiết u phổi làm mô bệnh học, khi đó chẩn đoán tế
bào học là hết sức quan trọng và cần thiết. Xét nghiệm tế bào học các bệnh
phẩm như: Đờm, dịch chải rửa phế quản, chất quét tổn thương qua soi phế
quản, phiến đồ áp các mảnh sinh thiết, bệnh phẩm sau phẫu thuật, chọc hút
kim nhỏ xuyên thành phế quản hoặc chọc hút kim nhỏ xuyên thành ngực, dịch
màng phổi, dịch màng tim tìm tế bào ác tính. Với các trường hợp di căn hạch,
xương hoặc dưới da, xét nghiệm tế bào học giúp chẩn đoán gián tiếp.
Xếp loại lâm sàng TNM và phân chia giai đoạn theo Hiệp hội ung thư Mỹ
(AJCC) năm 2010 .
* Xếp loại TNM
T: Khối u nguyên phát
T0: Không có dấu hiệu của u nguyên phát.
11
Tx: Không xác định được u nguyên phát, chỉ có chẩn đoán tế bào ung
thư trong dịch tiết hay dịch rửa phế quản nhưng không nhìn thấy u trên hình
ảnh hoặc nội soi phế quản.
Tis: Ung thư tại chỗ.
T1: Đường kính u ≤ 3cm, xung quanh là tổ chức lành. Soi phế quản chưa
thấy tổn thương phế quản cuống thùy, chỉ ở phân thùy hoặc xa hơn.
T1a: Đường kính u ≤ 2cm.
T1b: Đường kính u > 2cm nhưng ≤ 3cm.
T2: Đường kính u > 3cm nhưng ≤ 7cm hoặc khối u dù nhỏ nhưng tổn
thương phế mạc tạng, gây xẹp phổi hoặc viêm phổi do bít tắc phế quản vùng
rốn phổi. Soi phế quản thấy tổn thương phế quản thùy hoặc phế quản gốc
nhưng cách carina ≥ 2cm.
T2a: Đường kính u > 3cm nhưng ≤ 5cm.
T2b: Đường kính u > 5cm nhưng ≤ 7cm.
T3: Đường kính u có kích thước > 7cm hoặc có xâm lấn thành ngực, cơ
hoành, phế mạc trung thất, màng ngoài tim. Soi phế quản thấy tổn thương phế
quản gốc, cách carina < 2cm nhưng chưa xâm lấn carina, hoặc khối u phối
hợp với xẹp phổi hay viêm phổi tắc nghẽn toàn bộ phổi.
T4: Khối u với mọi kích thước mà có xâm lấn trung thất, tim hoặc mạch
máu lớn, khí quản, thực quản, thần kinh thanh quản quặt ngược, thân đốt
sống, carina, một hay nhiều nhân ung thư rải rác ở thùy phổi khác cùng bên.
T4
N2
M0
T1
T2
N3
N3
M0
M0
T3
T4
N3
N3
M0
M0
T bất kỳ
N bất kỳ
M1
14
1.4.1. Ðiều trị UTPKTBN giai đoạn IIIB, IV
* Giai đoạn IIIB
- Các trường hợp T1-3N3 hoặc T4N2-3 thì không có chỉ định phẫu thuật
mà điều trị tia xạ hoặc hóa chất.
- Xạ trị rất có hiệu quả trong giảm nhẹ triệu chứng ở các bệnh nhân
thể trạng yếu. Kết hợp với hóa trị sẽ giảm được 10% tỷ lệ tử vong so với
nhóm điều trị bằng xạ trị đơn thuần.
* Giai đoạn IV
Trường hợp di căn não đơn độc có thể phẫu thuật cắt bỏ nhân não di căn
sau đó xạ trị. Nếu di căn não đa ổ nên được cân nhắc xạ trị toàn não. Di căn não
từ 1-3 ổ, kích thước mỗi ổ ≤ 3cm có thể kết hợp xạ phẫu. Nhìn chung ở giai đoạn
IIIB-IV, hóa chất có vai trò cải thiện thời gian sống thêm của bệnh nhân và giảm
nhẹ triệu chứng.
Một số phác đồ hóa chất
Phác đồ PC: chu kỳ 21 ngày
Paclitaxel 175 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1
Cisplatin 80 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1
Phác đồ Gemcitabine- Cisplatin: chu kỳ 21 ngày
Gemcitabine 1250 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1, 8
Cisplatin 80mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1.
Phác đồ EP: Chu kỳ 21-28 ngày
Cisplatin 75 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1
Etoposide 100, mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1-3.
Phác đồ CV: chu kỳ 28 ngày
Vinorelbine 25 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1, 8, 15
Cisplatin 100 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1
Phác đồ DC: chu kỳ 21 ngày
Docetaxel 75 mg/m2, Tĩnh mạch ngày 1
đầu được nghiên cứu và áp dụng từ những năm 1980 nhưng những kết quả ban
đầu rất hạn chế, không cải thiện được thời gian sống thêm một cách rõ rệt và có
16
nhiều tác dụng phụ. Nhiều nghiên cứu vào giữa những năm 1990 đã chứng
minh được thuốc duy nhất có khả năng kéo dài thời gian sống thêm so với
điều trị triệu chứng là Cisplatin. Một nghiên cứu khác của Hội Ung thư học
Tây Nam (SWOG) trên hơn 2500 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến triển
cũng cho thấy dùng Cisplatin sẽ cải thiện được thời gian sống thêm. Từ đó,
platinum đã trở thành một tác nhân được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong
hầu hết các phác đồ hóa chất hiện đại. Dựa trên những kết quả trong lâm sàng
về ưu thế kéo dài thời gian sống thêm của hóa chất so với điều trị triệu chứng,
Hội Ung thư học Lâm sàng Mỹ (ASCO) đã thừa nhận hóa chất có khả năng
kéo dài thời gian sống thêm cho những bệnh nhân UTPKPTBN giai đoạn tiến
triển , , .
Ở thập kỷ tiếp theo, sự ra đời của các tác nhân thế hệ thứ 3 như Taxane,
Gemcitabine, Vinorelbine đã mở ra nhiều hy vọng khả quan hơn trong điều trị
hóa chất cho UTPKTBN giai đoạn IIIB - IV. Sau những minh chứng về tác
dụng của những tác nhân này khi sử dụng đơn độc, nhiều tác giả đã nhanh
chóng tiến hành những nghiên cứu kết hợp thuốc mới với Cisplatin hoặc
Carboplatin so sánh với những phác đồ cũ như phác đồ Cisplatin đơn thuần.
Kết quả là sự kết hợp mới này cho những hiệu quả vượt trội về tỷ lệ đáp ứng
cũng như thời gian sống thêm trong nhiều nghiên cứu. Kể từ đây, những tác
nhân thế hệ 3 này được chấp nhận sử dụng phối hợp cùng platinum trong điều
trị UTPKPTBN giai đoạn tiến triển , , , , .
Trong các thử nghiệm pha II, sử dụng Paclitaxel (Taxol) đơn thuần có tỷ
lệ đáp ứng 21-24% và tỷ lệ sống thêm 1 năm là 38-40% đối với bệnh nhân
UTPKTBN. Ðã có khá nhiều nghiên cứu phối hợp Paclitaxel với Cisplatin
(2016)
Ozcelik M
(2016)
43
227
(cách 4 tuần)
Paclitaxel, carboplatin
(cách 3 tuần)
Paclitaxel, cisplatin.
Paclitaxel, carboplatin.
Paclitaxel, carboplatin
+ Bevacizumab
Xạ trị +
Sống thêm Ðáp ứng toàn
(tháng)
bộ (%)
9
27,6
10
19,2
Số BN
(phác đồ)
Tỷ lệ
đáp ứng
309 (P-T)
27
309 (C-T)
25
303 (P-T)
21
299 (C-T)
16
87 (P-G)
41
OR (95% CI)
p
24
62 (P-G)
42
58 (C-G)
31
74 (P-M-Vb)
42
79 (C-M-Vb)
35
1,47 (1,08-2,00)
0,014
1,59 (0,76-3,34)
0,218
1,31 (0,68-2,51)
0,414
Bệnh viện 103 cho kết quả: Đáp ứng hoàn toàn chiếm 18,9%; Đáp ứng 1 phần
40,5%; Bệnh giữ nguyên 28,45%; Bệnh tiến triển 12,15%; Thời gian sống
thêm trung bình đạt 8,94 tháng .
Tác giả Lê Thị Huyền Sâm (2012) nghiên cứu 67 BN UTPKTBN giai
đoạn IIIB – IV tại TT Ung bướu Hải Phòng được hóa trị bằng phác đồ
Paclitaxel- Carboplastin thời gian 2007-2011. Kết quả đáp ứng chung của
phác đồ là 35,8% không có đáp ứng hoàn toàn. Thời gian sống thêm trung
bình là 9,6 tháng ± 4,2 tháng, sống thêm 1 năm là 35%, sống thêm 2 năm là
5,9% .
Tác giả Nguyễn Công Minh nghiên cứu đánh giá kết hợp đa mô thức
trong điều trị UTPKTBN tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong 9 năm 1999-2007 đã
đưa ra kết luận: Với UTPKTBN giai đoạn I,II và IIIA chọn lọc phẫu thuật cắt
phổi cho tiên lượng khả quan hơn, kết hợp đa mô thức cả phẫu thuật lẫn hóa
xạ trị đã mang kết quả thuận lợi hơn phẫu thuật đơn thuần .
1.4.3. Các thuốc sử dụng trong nghiên cứu
* Paclitaxel
- Cơ chế tác dụng: Thuốc làm tăng sự hình thành và ổn định của các vi
quản không chức năng hoặc vi quản bị thay thế, ngăn cản sự hình thành thoi
vô sắc. Sự phân bào bị ngừng lại do polyme hóa các vi quản.
20
- Chỉ định: Ung thư phổi không tế bào nhỏ, UTBM buồng trứng, ung
thư vú, ung thư đầu mặt cổ, ung thư bàng quang, ung thư cổ tử cung, ung thư
chưa rõ nguyên phát
- Chống chỉ định: Tiền sử quá mẫn với paclitaxel và các thành phần tá dược
của thuốc cremophor; Bạch cầu đa nhân trung tính giảm nặng (
+ Máu: Suy tủy xương.
+ Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn.
+ Thần kinh: Bệnh thần kinh ngoại biên, mất vị giác.
+ Tai: Ù tai, giảm thính lực.
+ Niệu- sinh dục: Hoại tử ống thận kèm thoái hóa ống thận và phù kẽ
+ Các tác dụng phụ khác: Tăng acid uric máu, rối loạn điện giải, tăng
enzym gan… , .
22
Chương 2
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Ðối tượng nghiên cứu
81 bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB, IV
được điều trị bằng phác đồ Paclitaxel-Cisplatin tại Trung tâm ung bướu
Thái Nguyên từ tháng 07/2012 đến tháng 03/2016.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- BN được chẩn đoán xác định là UTPKTBN dựa vào kết quả mô bệnh
học.
- Xếp giai đoạn là giai đoạn IIIB, IV theo hệ thống xếp loại UICC, AJCC
2010 phiên bản VII , .
- Tuổi từ 18 tuổi trở lên.
- Chỉ số toàn trạng PS (Performance Status) từ 0-2 (theo thang điểm
ECOG- Eastern Cooperative Oncology Group) , .
- Không mắc ung thư thứ hai.
- Không có chống chỉ định điều trị hóa chất: Bạch cầu ≥ 3,5 G/L, bạch cầu
hạt ≥ 1,5 G/L, tiểu cầu ≥ 100 G/L; AST ≤ 100 U/L, ALT ≤ 100 U/L, creatinin
huyết ≤ 300 µmol/L, urê huyết ≤ 19,5 mmol/L, bilirubin ≤ 55,5 µmol/L.
- Ðiều trị tối thiểu 3 đợt hoá chất phác đồ Paclitaxel-Cisplatin.
- d: Độ chính xác tuyệt đối mong muốn chọn = 0,1.
⇒ n = 77,4 làm tròn n = 78
Cỡ mẫu tối thiểu tính được theo công thức trên là 78 bệnh nhân, chúng
tôi thu thập được 81 bệnh nhân.
2.2.2. Phác đồ điều trị
Theo hướng dẫn của NCCN 2015 , sách điều trị nội khoa bệnh ung thư ,
[50] và được phê duyệt bởi Hội đồng khoa học Bệnh viện Đa khoa Trung
ương Thái Nguyên:
Paclitaxel: 175mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1 (trên 3 giờ).
Cisplatin: 80mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1 (1-3 giờ).
24
Chu kỳ 21 ngày x 6 chu kỳ
Bước 1
Bước 2
Bước 3
Bước 4
Bước 5
Bước 6
Bước 7
Bước 8
Ringerlactat
Panagin
Dexamethson 4mg
Ondansetron 8mg
Pantoprazol 40mg
Truyền tĩnh mạch
XL giọt/phút
Tiêm tĩnh mạch trước truyền 30
phút
Tiêm bắp
Truyền tĩnh mạch
L giọt/phút
Truyền tĩnh mạch
LX giọt/phút
Truyền tĩnh mạch
L giọt/phút
Truyền tĩnh mạch
LX giọt/phút
Tiêm tĩnh mạch
Tiêm bắp
Truyền tĩnh mạch XL giọt/phút
- Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu được cung cấp từ Khoa dược
của bệnh viện.
- Các BN đủ tiêu chuẩn sẽ được điều trị theo phác đồ trên (tuân thủ đầy đủ
quy trình truyền hóa chất); Sau mỗi đợt điều trị họ sẽ được khám lại để đánh giá
lâm sàng, cận lâm sàng, đáp ứng với điều trị để có thể điều chỉnh liều thuốc cho
thích hợp. Các bệnh nhân trong nghiên cứu được dùng các thuốc hỗ trợ khi sử
dụng hóa chất (thuốc chống nôn, chống sốc trước và sau truyền).
- Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu sau 3 đợt đều được đánh giá đáp
ứng, nếu có đáp ứng sẽ tiếp tục điều trị tiếp 3 đợt.
- Xử trí các tình huống gặp trong quá trình điều trị: Như hạ bạch cầu,
nhiễm khuẩn, suy giảm chức năng gan, thận sẽ được xử trí kịp thời và chỉ
truyền hoá chất tiếp khi các chỉ số trở về mức độ cho phép.
+ Xquang thường, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) lồng ngực, siêu âm ổ
bụng được tiến hành trước và sau mỗi 3, 6 chu kỳ điều trị:
+ Xác định vị trí u, kích thước u.