B GIO DC V O TO
TRNG I HC Y H NI
B Y T
NGễ C DANH
NGHIÊN CứU HIệU QUả VÔ CảM CủA GÂY TÊ
ĐáM RốI THầN KINH Cổ SÂU HAI BÊN BằNG
ROPIVACAIN 0,5% KếT HợP GÂY MÊ MASK
THANH QUảN TRONG
PHẫU THUậT Bớu giáp
Chuyờn ngnh : Gõy mờ Hi sc
Mó s
: 60 72 01 21
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
TS. NGUYN TRUNG KIấN
H NI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới:
GS.TS. Nguyễn Hữu Tú, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội Trưởng Bộ môn Gây mê Hồi sức và GS.TS. Nguyễn Quốc Kính, Giám đốc Trung
tâm Gây mê và Hồi sức Ngoại khoa - Bệnh viện Việt Đức là hai người thầy mà tôi
hết mực biết ơn và tôn kính, đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi rất nhiều kiến
thức, niềm đam mê và lòng yêu nghề.
TS. Nguyễn Trung Kiên, người thầy đã dành nhiều sự quan tâm, giúp đỡ,
động viên, trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành
trung thực và khách quan.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
Tác giả
NGÔ ĐỨC DANH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASA:
American Society of Anesthesiologists: Hội Gây mê Hoa Kỳ
BN:
Bệnh nhân
C:
Đốt sống cổ
CT:
Computed Tomography: Chụp quét cắt lớp điện toán
Nồng độ
NKQ:
Nội khí quản
SpO2:
Peripheral capillary oxygen saturation: Độ bão hòa oxy máu ngoại vi
T:
Các thời điểm đánh giá trong nghiên cứu
T3:
Tri-iodthyroxin: Hormon tuyến giáp
T4:
Tetra-iodthyroxin: Hormon tuyến giáp
TCI:
Target Controlled Infusion: Truyền thuốc có kiểm soát nồng độ đích
TSH:
Thyroid Stimulating Hormon: Hormon hướng giáp tố
là: gây tê tại chỗ, gây mê nội khí quản và gây tê vùng. Tuy nhiên, gây tê tại chỗ
thường không đảm bảo được mức độ vô cảm. Đau nhiều trong quá trình phẫu thuật
gây ra hàng loạt những rối loạn sinh lý và tâm lý cho bệnh nhân, đặc biệt là những
bệnh nhân có nguy cơ cao. Gây mê toàn thể cũng có những hạn chế nhất định. Các
thuốc mê thường có ảnh hưởng không tốt đến chức năng sinh lý của bệnh nhân. Sau
khi rút ống nội khí quản, bệnh nhân thường bị đau họng, tăng tiết và ho khạc nhiều
làm ảnh hưởng đến vùng phẫu thuật. Hơn nữa, việc chăm sóc bệnh nhân gây mê
toàn thể giai đoạn hậu phẫu cũng gặp nhiều khó khăn và phức tạp.
Trong vài thập kỷ trở lại đây, gây tê vùng ngày càng trở nên thông dụng
trong phẫu thuật. Phương pháp vô cảm này mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh
như: duy trì sự tỉnh táo, tiếp xúc được với người thân và ăn uống trở lại sớm. Ngoài
tính hiệu quả vô cảm, sự ổn định về tuần hoàn và hô hấp thì sự phục hồi nhanh
chóng của bệnh nhân sau phẫu thuật là ưu thế vô cùng quan trọng của gây tê vùng.
Tuy nhiên, kỹ thuật gây tê vùng cũng có những hạn chế nhất định như bệnh
nhân đau tại vị trí gây tê [3], có cảm giác sợ kim tiêm, lo sợ và ám ảnh về quá trình
phẫu thuật. Vì thế, phương pháp gây mê đã được sử dụng kết hợp với gây tê vùng là
làm giảm lo lắng, giảm đau và làm cho người bệnh quên về quá trình phẫu thuật.
Đặc biệt, kĩ thuật gây mê toàn thể kiểm soát hô hấp mask thanh quản Proseal có
nhiều ưu điểm như không hoặc ít cần thuốc giãn cơ, không cần đèn soi thanh quản,
ít chấn thương thanh quản... Như vậy, có thể nói rằng gây tê vùng kết hợp với gây
mê là một phương pháp vô cảm có thể phát huy tối đa lợi ích và giảm thiểu tác dụng
không mong muốn của cả hai loại kỹ thuật này giúp cho cuộc phẫu thuật trở nên
thuận lợi hơn cả đối với bệnh nhân, bác sĩ gây tê và bác sĩ phẫu thuật [4],[5]..
9
Trên thế giới, gây tê đám rối thần kinh cổ là một kỹ thuật gây tê vùng, đã
được nghiên cứu và ứng dụng vào lâm sàng từ giữa thế kỷ XX [6]. Việc kết hợp gây
tế đám rối thần kinh cổ với an thần đã được nhiều tác giả thực hiện cho các phẫu
KINH CỔ
1.1.1. Cấu tạo đám rối thần kinh cổ
Vào những năm 40 của thế kỷ XX, nhiều nhà giải phẫu trên thế giới đã tiến
hành nghiên cứu và mô tả ĐRTK cổ. Gray lần đầu tiên mô tả vào năm 1947, tiếp
theo là Testut vào năm 1949, Cordier và Rouviere vào năm 1959 đã mô tả các rễ
thần kinh đoạn tuỷ cổ từ cổ 1 đến cổ 4.
- Rễ thần kinh cổ 1 đi ra khỏi ống sống bởi lỗ mà động mạch đốt sống đi qua
ở dưới và sau so với động mạch này, trong rãnh ở mặt trên của cung sau đốt đội
(C1). Trong rãnh này, rễ thần kinh chia thành 2 nhánh trước và sau.
- Rễ thần kinh cổ 2 đi ra khỏi ống sống giữa khớp đội trục của đốt sống cổ C1
và C2, bờ ngoài của dây chằng đội - trục sau hoặc đi qua đầu ngoài của dây chằng
này, sau đó chia ra thành 2 nhánh trước và sau.
- Rễ thần kinh cổ 3 đi ra khỏi ống sống giữa khớp đội trục của đốt sống cổ C2
và C3, sau đó chia thành nhánh trước và sau.
- Rễ thần kinh cổ 4 đi ra khỏi ống sống giữa khớp đội trục của đốt sống cổ C3
và C4, sau đó chia thành nhánh trước và sau.
Các nhánh sau của các rễ thần kinh đoạn tuỷ cổ 1 đến cổ 4 chia thành các
nhánh trong và nhánh ngoài, các nhánh này chi phối cho da, cơ ở vùng cổ sau và
vùng chẩm.
Các nhánh trước của các rễ thần kinh cổ (trừ rễ thần kinh cổ 1) nằm giữa cơ
liên mỏm ngang trước và sau, chúng liên kết với nhau (tập trung lại với nhau) ngay
bên mỏm ngang tạo nên ĐRTK cổ. Còn các nhánh trước của 4 rễ thần kinh cổ dưới
cùng với phần lớn nhánh trước của dây thần kinh ngực thứ nhất tạo nên ĐRTK cánh
tay. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các
nhánh thần kinh thuộc vùng cổ trước bên.
11
Nhánh trước của rễ thần kinh cổ 1 ở giữa cung sau của đốt đội đi ra phía
1.1.2.1. Nhóm nông: Cảm giác gồm có 4 nhánh đều thoát ra nông dọc theo bờ sau
của cơ ức đòn chũm
- Dây thần kinh chẩm bé (nhánh chũm): Tách từ quai cổ thứ 2, đi ra phía
ngoài tới bờ sau cơ ức đòn chũm rồi quặt ngược lên trên chia 2 nhánh tận trước và
sau chi phối cho da vùng chẩm chũm.
- Dây thần kinh tai lớn (nhánh tai): Tách ra từ quai cổ thứ 2 và thứ 3 đến bờ
sau cơ ức đòn chũm đi thẳng lên trên về phía dái tai sau tĩnh mạch cảnh ngoài đến
góc hàm dưới chia ra 2 nhánh: nhánh trước chi phối cho da mặt ngoài loa tai và
tuyến mang tai, nhánh sau cho da mặt trong vành tai vùng chũm nối với nhánh
chẩm bé.
- Dây thần kinh ngang cổ (nhánh ngang): Có nguồn gốc từ quai cổ thứ 2 và
thứ 3 uốn quanh bờ sau cơ ức đòn chũm rồi hướng ra trước bắt chéo tĩnh mạch cảnh
ngoài cho các nhánh tận xuyên qua cơ bán da cổ phân nhánh chi phối trong lớp cân
nông vùng trên và dưới xương móng.
- Dây thần kinh trên đòn (nhánh trên đòn): Nguồn gốc từ rễ thần kinh cổ 3 và
4 chia thành nhiều nhánh hướng xuống dưới và ra sau ngoài bên dưới và đi dọc bờ
sau cơ ức đòn chũm đến tam giác trên đòn, các nhánh chia ra nông bao gồm:
+ Nhánh thần kinh trên đòn trong: Chi phối cho da vùng ức đòn chũm và
xương ức.
+ Nhánh thần kinh trên đòn giữa: Chi phối cho cân vùng trên và dưới xương đòn.
+ Nhánh thần kinh trên đòn ngoài: Chi phối cho da vùng tai và mỏm cùng vai.
1.1.2.2. Nhóm sâu: Bao gồm nhóm sâu trong và sâu ngoài, mỗi nhóm sâu lại chia
thành 2 loại là các nhánh nối và các nhánh cơ.
- Nhóm sâu trong:
+ Các nhánh nối: Được nối với các dây thần kinh trung ương như: Cổ 1 - 2
với dây thần kinh XII - X, cổ 1 - 2 - 3 - 4 với dây thần kinh giao cảm.
+ Các nhánh cơ (nhánh vận động): Chi phối cho các cơ mà chủ yếu là các cơ
vùng cổ. Cổ 1 chi phối cơ thẳng đầu bên, cổ 1 - 2 chi phối cơ thẳng đầu trước, cổ 1 -
mạch máu vùng cổ. Phía sau là gai gang các đốt sống cổ.
- Khoang thứ ba là bao của mạch cảnh.
ĐRTK cổ sâu nằm trong cân cổ sâu. Các nhánh cảm giác của ĐRTK cổ đi ra khỏi
cân cổ sâu ở dưới điểm giao nhau của cơ ức đòn chũm và tĩnh mạch cảnh ngoài.
Các nhánh thần kinh xuyên qua các khoang cân cổ. Điều này giải thích sự lan
toả của thuốc tê giữa 3 khoang giải phẫu cũng như hiệu quả của sự ức chế thần kinh
cảm giác vùng cổ.
Hình 1.2. Sơ đồ các cân vùng cổ
15
1.2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ TUYẾN GIÁP VÀ MỘT SỐ ĐẶC
ĐIỂM NGOẠI KHOA CỦA BỆNH BƯỚU GIÁP
1.2.1. Đặc điểm giải phẫu tuyến giáp
1.2.1.1. Hình thể vị trí
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể ở vị trí vùng trước cổ, bình
thường không nhìn thấy rõ nhưng ở tuổi dậy thì và tuỳ theo hình thể cổ có thể nhận
thấy nhất là khi nuốt.
Hình thể tuyến giáp thường có 2 thuỳ và 1 eo.
- Hai thuỳ bên ở ngay 2 bên khí quản và họng tương ứng với mặt ngoài phần
dưới sụn giáp, sụn nhẫn. Cực trên lên cao đến giữa sụn giáp, cực dưới xuống dưới
vòng sụn thứ 5 - 6 của khí quản và cách bờ trên của xương ức khoảng 2 - 5 cm.
Thuỳ phải thường lớn hơn thuỳ trái.
- 1/3 dưới mỗi thuỳ bên nối liền với thuỳ bên kia bằng eo tuyến (thuỳ thứ 3).
Eo tuyến vắt ngang qua mặt trước của khí quản chiếm một khoảng tương ứng với
vòng sụn 2 - 4 của khí quản.
- Thường thấy từ bờ trên của eo tuyến (thuỳ thứ 3) hơi lệch sang bên trái
hoặc từ một trong 2 thuỳ tuyến mọc lên một dãy tổ chức tuyến có hình thù như một
trung thất trước.
1.2.1.3. Thần kinh tuyến giáp
- Dây thần kinh quặt ngược (thần kinh họng dưới) xuất phát từ dây thần kinh
phế vị, bên trái ở sát mức dưới quai động mạch chủ, bên phải ở sát động mạch dưới
đòn cả 2 dây này nằm sâu trong rãnh của khí quản và chia làm 2 nhánh vào sát cực
dưới tuyến giáp, có khi còn chia làm nhiều nhánh hơn. Theo Hunt và cộng sự, có
đến 30% dây thần kinh quặt ngược không nằm trong rãnh khí quản.
- Dây thần kinh họng trên là dây hỗn hợp: nhánh ngoài có sợi vận động cho
cơ giáp móng, nhánh trong có sợi cảm giác tận cùng ở niêm mạc họng. Khi tổn
thương dây này sẽ mất cảm giác vùng họng trên dẫn tới sau mổ bệnh nhân nuốt
được thức ăn cứng nhưng không nuốt được thức ăn lỏng do mất cảm giác trên họng
khi nuốt, lối vào họng không tự đóng lại được.
17
- Các nhánh thần kinh giao cảm và phó giao cảm cuối cùng hợp lại thành
từng đám rối, mỗi đám rối ôm lấy mỗi thuỳ nhỏ của tuyến giáp. Từ các đám rối toả
ra những nhánh nhỏ, các nhánh nhỏ này hợp thành những màng mỏng mềm mại bao
lấy các nang tuyến giáp. Theo V.A. Kimop, trong bệnh bướu tuyến giáp, số lượng
dây thần kinh nhiều hơn bình thường.
1.2.1.4. Tuyến cận giáp
Thường có 4 tuyến cận giáp, mỗi bên thuỳ tuyến giáp có 2 tuyến cận giáp, ít
khi gặp 2 - 3 hoặc 5 - 6 tuyến cận giáp.
Kích thước của mỗi tuyến khoảng 1,5 mm x 3 mm x 6 mm, có màu đỏ nhạt
hoặc nâu vàng, hai tuyến cận giáp trên ở khoảng phần trên của tuyến giáp, hai tuyến
cận giáp dưới ít cố định về vị trí có thể tụt xuống trung thất, ít khi gặp tuyến cận
giáp ở trong bao.
1.2.2. Đặc điểm sinh lý tuyến giáp
Tế bào tuyến giáp tiết ra 2 loại hormon: Hormon có chứa iod là thyroxin (T4)
Theo Nguyễn Khánh Dư [2], bướu tuyến giáp được chia làm 3 loại bao gồm:
bướu tuyến giáp lành tính, độc tính (loại Basedow là chính) và ác tính. Theo Đặng
Ngọc Hùng và Ngô Văn Hoàng Linh [12], hình thái bướu tuyến giáp có thể là các
loại sau: bướu tuyến giáp thể nhân, thể hỗn hợp và thể lan toả.
Theo Trần Tử Bình [13], Lê Thế Trung [14], độ lớn của bướu tuyến giáp
được chia làm 5 độ:
+ Độ 1: Sờ thấy bướu khi nuốt.
+ Độ 2: Bướu lộ dưới da, nhìn thấy và sờ thấy nhưng vòng cổ chưa thay đổi.
+ Độ 3: Bướu lồi hẳn ra khỏi vòng cổ, chiếm một diện tích rộng trước cổ,
xác định được kích thước.
+ Độ 4: Bướu lớn vượt bờ ngoài cơ ức đòn chũm, thay đổi đáng kể vòng cổ.
+ Độ 5: Bướu rất to, vượt ra bờ ngoài cơ ức đòn chũm hai bên, sa xuống
trước cán xương ức.
Theo Lê Thế Trung [14], bướu tuyến giáp lớn bao gồm những bướu có khối
lượng từ 200 gam trở lên.
1.2.4. Chỉ định điều trị ngoại khoa bệnh bướu tuyến giáp
Theo Nguyễn Khánh Dư [2], chỉ định điều trị ngoại khoa bệnh bướu tuyến
giáp bao gồm:
19
- Tất cả các loại bướu tuyến giáp ghi trong bảng phân loại nếu điều trị nội
khoa hoặc iod phóng xạ đều không đem lại kết quả.
- Bướu tuyến giáp thể nhân cần cắt bỏ sớm vì dễ thoái hoá trở thành ung thư
tuyến giáp, nhất là nam giới trên 40 tuổi.
- Các loại bướu tuyến giáp thể nang, to nhanh chứa đầy máu và các bướu
tuyến giáp chìm, lớn và có dấu hiệu chèn ép các cơ quan trong trung thất.
- Bướu tuyến giáp Basedow giai đoạn ổn định (bình giáp)
- Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu.
Basedow. Phải sử dụng một khối lượng lớn dung dịch thuốc tê khá lớn làm các tổ
chức vùng phẫu thuật nề căng, chảy nhiều dịch, việc bóc tách tổ chức trở nên khó
khăn. Sau phẫu thuật, vết mổ phù nề chèn ép, nhiều dịch tiết, chậm liền sẹo nên
không đảm bảo thẩm mỹ.
1.3.2. Châm tê
Ở Việt Nam từ những năm đầu thập kỷ 70 cho đến nay phương pháp này đã
và đang ứng dụng bước đầu đạt kết quả tốt ở bệnh viện Việt Đức, Viện Y học Cổ
truyền Việt Nam, Viện Quân y 103, Viện Quân y 108, Viện Châm cứu Trung ương.
Năm 1973, Hoàng Bảo Châu [15] và cộng sự tiến hành nghiên cứu sự biến
đổi của mạch và huyết áp giữa 2 nhóm bệnh nhân mổ bướu giáp dưới vô cảm bằng
châm tê và phối hợp với thuốc, tác giả nhận thấy có sự thay đổi nhưng vẫn ở mức
độ cho phép.
Năm 1989, Nguyễn Đức Thiềng và cộng sự [16] tiến hành châm tê phẫu
thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp điều trị bệnh 104 trường hợp bệnh Basedow cho
kết quả tốt chiếm 88,4%, khá 1,54%. Các tác giả nhận thấy tai biến sau phẫu thuật
như tổn thương dây thần kinh quặt ngược, suy hô hấp, cơn cường giáp sau mổ…
đều ít hơn so với gây mê nội khí quản.
Phan Đình Kỷ và cộng [17] sự ứng dụng châm tê phẫu thuật tuyến giáp và
Basedow trên 84 trường hợp thu được kết quả 95% tốt và khá.
Quá trình nghiên cứu châm tê cho phẫu thuật tuyến giáp nhận thấy rằng kết
quả đạt tốt nhất khi sử dụng cho phẫu thuật bướu giáp nhỏ thể nhân, đối với các
phẫu thuật bướu giáp lớn phức tạp, các tác giả đều phải phối hợp thêm với các thuốc
tiền mê, giảm đau và ức chế giao cảm.
21
1.3.3. Gây tê đám rối thần kinh cổ
Từ giữa thế kỷ XX, có nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về ĐRTK cổ và
kỹ thuật gây tê ĐRTK cổ cho các phẫu thuật vùng cổ trước bên. Theo Cousins,
+ Năm 1980, Michael, J. Cousin, Phillip thực hiện gây tê ĐRTK cổ để giảm
đau trong những bệnh lý đau mãn tính.
+ Năm 1989, Godin, Bell đánh giá về chi phí và hiệu quả vô cảm của gây tê
ĐRTK cổ trong phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh. Các tác giả đã đưa ra kết
luận: phương pháp gây tê ĐRTK cổ trong phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh
là phương pháp có hiệu quả vô cảm tốt, chi phí thấp.
- Những năm 90, là giai đoạn có nhiều báo cáo nghiên cứu về lĩnh vực
này nhất.
+ Năm 1990, Wehner, Quarmby [17] kết hợp gây tê ĐRTK cổ và gây mê
trong các phẫu thuật vùng cổ.
+ Năm 1992, Mehta, Juneja [23] sử dụng máy dò thần kinh trong gây tê
ĐRTK cổ theo phương pháp Winnie mô tả.
+ Năm 1994, Castresana, Master [24] nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ bán
liệt cơ hoành sau gây tê ĐRTK cổ sâu, đã đưa ra kết luận: không thấy xuất hiện vận
động bất thường của cơ hoành sau gây tê.
+ Năm 1995, Master và cộng sự nghiên cứu hiệu quả của phương pháp gây
tê ĐRTK cổ sâu và gây tê nhánh nông ĐRTK cổ, đã đưa ra kết luận: đây là phương
pháp vô cảm có hiệu quả tốt, bảo đảm ức chế cả nhánh vận động và cảm giác của
đám rối cổ, có thể thay thế cho gây mê nội khí quản trong các phẫu thuật vùng cổ.
+ Năm 1996 nổi bật hai nghiên cứu:
Kulkami [25] thực hiện gây tê ĐRTK cổ ở cả hai bên trong phẫu thuật tuyến
giáp và cận giáp ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, tác giả kết luận: phương pháp
vô cảm này không làm suy giảm chức năng hô hấp, đây là phương pháp vô cảm thay
thế cho gây mê nội khí quản trong phẫu thuật tuyến giáp và cận giáp.
Michael, Mulroy [26] đưa ra cách xác định vị trí gây tê vào mỏm ngang đốt
sống cổ C4 (giao điểm của đường thẳng qua bờ dưới ngành ngang xương hàm cắt
bờ sau ngoài cơ ức đòn chũm).
23
24
dãn cơ gây tăng tiết khí phế quản, ức chế hô hấp gây ảnh hưởng xấu tới bệnh nhân.
Bệnh nhân không phối hợp được với phẫu thuật viên nên không kiểm tra được
giọng nói người bệnh, dễ gây tổn thương dây thần kinh quặt ngược. Phương pháp
gây mê toàn thân cũng cần phải thận trọng với bệnh nhân mẫn cảm với thuốc mê,
những bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính, bệnh gan, thận mạn tính… ảnh hưởng tới
thải trừ thuốc và hậu phẫu rất phức tạp, có nguy cơ cao với biến chứng hô hấp.
1.3.5. Gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích với thông khí mặt nạ thanh
quản ProSeal
1.3.5.1. Lịch sử gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích (KSNĐĐ)
Năm 1968, Kruger-Theimer [30] đưa ra những khái niệm đầu tiên về việc
truyền thuốc liên tục qua đường tĩnh mạch để duy trì nồng độ (NĐ) ổn định trong
huyết tương. Đó là phương thức BET (Bolus-EliminationTransfer) có cấu trúc cơ
bản như sau:
- Một liều tải làm đầy khoang trung tâm.
- Sau đó là truyền liên tục nhằm ổn định và thay thế phần thuốc bị đào thải
bởi các hiện tượng dược động học trong cơ thể.
- Cùng lúc đó là sự giảm liều từ từ theo hệ số mũ nhằm bổ sung lượng thuốc
đi đến các khoang ngoại biên.
Năm 1981, Schraag [31] ứng dụng kỹ thuật tiêm truyền thuốc kiểm soát bằng
máy vi tính dựa trên khái niệm của Kruger-Theimer. Năm 1983, Schüttler [32] lần
đầu tiên sử dụng hệ thống bơm thuốc kiểm soát bằng máy tính, dựa đồng thời vào
dược động học và thời gian sử dụng thuốc.
Năm 1997, hệ thống tiêm truyền KSNĐĐ dùng cho propofol ra đời, được ví
như là “bình bốc hơi của thuốc mê tĩnh mạch” [33].
1.3.5.2. Một số khái niệm cơ bản trong nguyên lý gây mê KSNĐĐ
• Về dược động học
thuốc. “Bối cảnh” ở đây là thời gian truyền khác nhau được Hughes và cộng sự [34]
mô tả vào năm 1992 (Hình 1.3).
- Thời gian để giảm nồng độ thuốc tại vị trí tác dụng từ khi ngưng truyền cho
đến khi đạt nồng độ thức tỉnh: Trị số này tùy thuộc vào thời gian truyền thuốc và