Đánh giá hiệu quả gây mê mask thanh quản trong phẫu thuật vùng bụng - Pdf 25

1
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY MÊ MASK THANH QUẢN
TRONG PHẪU THUẬT VÙNG BỤNG
CN Trần Thị Thủy – Khoa Gây mê Hồi sức
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong gây mê phẫu thuật, việc đảm bảo thông khí tốt là vấn đề quan trọng. Gây
mê NKQ là phương pháp kiểm soát hô hấp hữu hiệu và chắc chắn. Tuy nhiên việc đặt
NKQ cũng làm cho mạch nhanh, huyết áp tăng, đau họng, nuốt đau, khàn tiếng
Năm 1981, BS Gây mê Archie Brain người Anh đã phát minh ra Mask thanh quản
(MTQ) và đưa vào sử dụng năm 1983. Từ đó đến nay MTQ đã được cải tiến nhiều
lần và có nhiều loại MTQ đã chính thức đưa vào phát đồ kiểm soát đường thở khó,
đặc biệt trong tình huống: “không đặt NKQ được, không thông khí được”, cho nên
chúng tôi áp dụng gây mê MTQ trong phẫu thuật vùng bụng, bởi nó đem lại tính an
toàn về hô hấp - tuần hoàn cho người bệnh.
Đề tài được thực hiện với mục tiêu sau :
- Đánh giá hiệu quả và độ an toàn trong gây mê phẫu thuật vùng bụng
bằng Mask thanh quản.
1
2
II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Đối tượng nghiên cứu:
Các bệnh phẫu thuật ở tuổi : 20 đến 80, được gây mê phẫu thuật theo kế
hoạch tại BVĐK Quảng Nam. Thời gian từ tháng 02/2013 đến 10/2013.
2- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối chứng.
a- Tiêu chuẩn chọn bệnh : Gồm loại bệnh
- Sỏi túi mật
- Sỏi OMC.
- Thoát vị bẹn .
- Sỏi niệu quản.
- U xơ tử cung.
- U nang buồng trứng.

2
3
* Thuốc mê, thuốc giãn cơ, thuốc hồi sức cấp cứu, dịch truyền, dịch keo và máu
+ Tiền mê : - Seduxen + Atropin
- Dimedrol + Atropin
+ Tiến hành gây mê: Cho bệnh nhân thở Oxy 3 đến 5 phút trước khi khởi mê .
- Khởi mê : * Diprivan 1% : 1 - 2mg/kg
* Rocuronium : 0,5 - 0,8 mg/kg
* Fentanyl : 2 – 3 µcg/kg
- Khi bệnh nhân ngủ sâu tiến hành đặt MTQ (có thể dùng giãn cơ hoặc không dùng
giãn cơ).
- Đây là kỹ thuật không cần đèn soi thanh quản.
- Đặt MTQ đòi hỏi độ mê sâu hơn đặt Canuyn guedel nhưng thấp hơn đặt NKQ vì
những cử động trong khi đặt sẽ làm khó khăn thao tác đặt, gây ra chấn thương vùng
hầu họng, sai lệch vị trí ống.
- Diprivan là thuốc được ưa chuộng nhất cho việc đặt Mask thanh quản vì nó ức
chế phản xạ vùng hầu họng.
* Tư thế bệnh nhân:
- Nằm ngửa như tư thế đặt đèn soi thanh quản, có thể dễ dàng hơn nếu người trợ
giúp kéo hàm dưới xuống. Một tay người đặt cố định đầu và cổ, tay kia cầm Mask
thanh quản ở vị trí nối giữa cuff và ống MTQ, luồn MTQ theo chiều cong giải phẫu
của vòm họng cho đến khi thấy sức cản tức là đầu của phần cuff đã nằm đúng vị trí
hạ họng dưới sụn nhẫn ngay đầu trên của thực quản.
- Kỹ thuật khác: bơm cuff nhẹ, kỹ thuật xoay ống ( giống như đặt Canuyn Guedel )
- Sau khi đặt bơm cuff và cố định ống ( kiểm tra lại thông khí ).
- Lượng khí bơm cuff thường được ghi trên MTQ tùy từng loại cỡ.
* Những Test để kiểm tra đúng vị trí MTQ:
+ Cảm nhận sức cản khi đặt .
+ MTQ trồi nhẹ khi bơm cuff .
+ Không nhìn thấy cuff trong khoang miệng .

U xơ tử cung 09 30
Sỏi niệu quản 03 10
Thoát vị bẹn 02 6.6
Nhận xét: Bệnh U nang buồng trứng nhiều hơn, 10 ca chiếm tỷ lệ 33.3%
BẢNG 4: Đánh giá M, HA, SPO
2
của bệnh nhân trước khi khởi mê.
Mạch ( lần/phút) Huyết áp (mmHg) SPO
2
(%)
60 ± 12 75 ± 12 90 ± 12 100 ± 10 120 ±
10
140 ± 10
95-97 98-100
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
10 33. 16 53.3 04 13.3 04 13.3 18 60 08 26.7 25 83. 05 16.6
4
5
3 3
Nhận xét:
- Mạch : 75 ± 12 chiếm tỷ cao, 16 ca đạt 53.3%
- Huyết áp : 120 ± 10 chiếm tỷ lệ cao 18 ca đạt 60%
- SPO
2
: 95- 97% chiếm tỷ lệ cao , 25 ca, đạt 83.3%.
BẢNG 5: Đánh giá M, HA, SPO
2
của bệnh nhân sau khi khởi mê.
Mạch ( lần/phút) Huyết áp (mmHg) SPO
2

Thời gian phẫu thuật Số lượng %
1g ± 15 phút
24 80
1g30 ± 15 phút
06 20
5
6
2g ± 15 phút
0 0
Nhận xét: Thời gian phẫu thuật 1g ± 15 phút chiếm đa số, 24 ca đạt 80%
6
7
BẢNG 8 : Thời gian hồi tỉnh .
Thời gian tĩnh mê Số lượng %
<15 phút 28 93.3
15 - 30 phút 02 6.6
>30 phút 0 0
Nhận xét: Thời gian hồi tỉnh <15' chiếm tỷ lệ cao 28 ca đạt 93.3%.
BẢNG 9 : Đánh giá trong quá trình gây mê phẫu thuật :
Dấu hiệu Số lượng %
Đau họng 0 0
Suy hô hấp 0 0
Mạch nhanh 02 6.6
Tụt huyết áp 0 0
Co thắt thanh quản 0 0
Khàn tiếng 0 0
Nhận xét: Có 02 ca mạch nhanh do bệnh nhân đau vết mổ dùng thêm thuốc
giảm đau.
7
8

đường thở và hiếm khi phải điều chỉnh. Tuy nhiên cũng có thể dịch chuyển ống đặc
biệt khi bệnh nhân tỉnh hay thay đổi tư thế. Nên chuyển về kiểu thở tự nhiên càng
sớm càng tốt nếu không cần thở điều khiển.
8
9
V. KẾT LUẬN:
Qua nghiên cứu 30 ca gây mê MASK TQ trong phẫu thuật vùng bụng, ta nhận
thấy:
- Mask thanh quản là kỹ thuật đặt không cần đèn soi thanh quản hiệu quả thông
khí cao, ít gây biến đổi mạch, huyết áp, cuộc mổ vẫn thuận lợi, giảm được liều thuốc
mê , thuốc giãn cơ, giảm đau họng và khàn tiếng, giảm phiền nạn sau mổ.
- Mask thanh quản là một cuộc cách mạng trong việc kiểm soát đường thở
trong gây mê. Mask thanh quản cũng là phương tiện hữu hiệu trong các tình huống
đặt NKQ khó hoặc thất bại trong việc kiểm soát đường thở. Ở một số nước phát triển
MTQ đã trở thành phương tiện kiểm soát “chuẩn” thay thế ống NKQ truyền thống.
Mỗi loại MTQ có ưu và nhược điểm riêng. Việc sử dụng thành công MTQ phụ thuộc
vào việc lựa chọn bệnh nhân và tình huống lâm sàng. Việc nâng cao kỹ thuật sử dụng
cũng là một yếu tố quyết định trong việc đảm bảo an toàn và phát huy được những lợi
ích của MTQ.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status